1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Án Tiến Sĩ Lịch Sử Kinh Tế Huyện Nam Đàn, Tỉnh Nghệ An Dưới Triều Nguyễn Thời Kỳ 1802 - 1884.Pdf

199 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh Tế Huyện Nam Đàn, Tỉnh Nghệ An Dưới Triều Nguyễn Thời Kỳ 1802 - 1884
Tác giả Trần Quốc Bảo
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Quang Hồng, PGS.TS Trần Đức Cường
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 4,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRẦN QUỐC BẢO KINH TẾ HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN DƯỚI TRIỀU NGUYỄN THỜI KỲ 1802 1884 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ NGHỆ AN 2021 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu sử dụng trong Luận án hoàn toàn trung thực, đảm bảo tính khách quan, có nguồn gốc xuất

xứ rõ ràng Những kết luận của Luận án chưa được công bố trong công trình nào khác

Tác giả Luận án

Trần Quốc Bảo

Trang 4

Trang

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận án 7

6 Bố cục của luận án 7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8

1.1 Những nghiên cứu về kinh tế Việt Nam nói chung 8

1.2 Những nghiên cứu về kinh tế Nghệ An và huyện Nam Đàn 15

1.3 Những kết quả nghiên cứu được luận án kế thừa 22

1.4 Những vấn đề cần giải quyết của luận án 23

Chương 2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ HUYỆN NAM ĐÀN 24

2.1 Quá trình hình thành 24

2.2 Điều kiện tự nhiên 28

2.2.1 Vị trí địa lý 28

2.2.2 Địa hình, đất đai 28

2.2.3 Khí hậu 31

2.2.4 Đồi núi, sông ngòi 33

2.2.5 Đường giao thông 37

2.3 Bối cảnh lịch sử và tình hình kinh tế ở huyện Nam Đàn trước năm 1802 41

2.4 Những chính sách, biện pháp của nhà Nguyễn thực thi ảnh hưởng đến kinh tế Nghệ An, huyện Nam Đàn thời kỳ 1802 - 1884 43

Trang 5

2.4.2 Đối với thủ công nghiêp, thương nghiệp 46

2.4.3 Một số chính sách khác 47

Tiểu kết chương 2 51

Chương 3 NÔNG NGHIỆP 52

3.1 Tình hình sở hữu, sử dụng ruộng đất 52

3.1.1 Ruộng đất công làng xã 57

3.1.2 Ruộng đất tư nhân 63

3.2 Trồng trọt 71

3.2.1 Thời vụ và giống, cây trồng 71

3.2.2 Các loại nông cụ, dụng cụ, kỹ thuật canh tác 75

3.2.3 Công tác trị thủy - thủy lợi 80

3.2.4 Nghề làm vườn, trại 82

3.2.5 Năng suất và tô thuế 86

3.3 Chăn nuôi, khai thác thủy sản 92

3.3.1 Chăn nuôi 92

3.3.2 Khai thác thủy sản 93

Tiểu kết chương 3 95

Chương 4 THỦ CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG NGHIỆP 96

4.1 Thủ công nghiệp 96

4.1.1 Khái quát tình hình thủ công nghiệp 96

4.1.2 Một số nghề thủ công tiêu biểu 98

4.2 Hoạt động thương nghiệp 108

Tiểu kết chương 4 118

Chương 5 ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN XÉT 119

5.1 Trong thời kỳ 1802 - 1884, kinh tế Nam Đàn phát triển trong điều kiện không thuận lợi về tự nhiên và xã hội 119

5.2 Tình hình sở hữu ruộng đất huyện Nam Đàn thời kỳ 1802 - 1884, phản ánh thực trạng sở hữu ruộng đất ở trấn/tỉnh Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung 123

5.3 Nông nghiệp Nam Đàn phản ánh rõ nét bức tranh kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp lỗi thời và lạc hậu 129

Trang 6

5.5 Những hạn chế mà nhà Nguyễn thực hiện trên các lĩnh vực kinh tế, chính

trị và văn hóa xã hội là nguyên nhân sâu xa đẩy nông dân làng xã Nam

Đàn vào tình cảnh mất mùa đói kém, phiêu tán và thậm chí là nổi dậy

khởi nghĩa, chống lại triều đình 141 Tiểu kết chương 5 145

KẾT LUẬN 146 NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC

Trang 7

TT Mục từ viết tắt Nguyên nghĩa

8 VHTT Văn hóa thông tin

9 34623.4.11.0.0 34623 mẫu 4 sào 11 thước 0 tấc 0 phân

Trang 8

Trang

Bảng 3.1 Phân bố ruộng đất huyện Nam Đàn (1802 - 1884) 55

Bảng 3.2 Phân bố công điền trong các xã thôn 58

Bảng 3.3 So sánh mức độ phổ biến của ruộng công 59

Bảng 3.4 Chất lượng công điền 60

Bảng 3.5 Phân loại ruộng đất tư 63

Bảng 3.6 Chất lượng tư điền 66

Bảng 3.7 Quy mô sở hữu ruộng tư 68

Bảng 3.8 Bình quân sở hữu và bình quân thửa 69

Bảng 3.9 So sánh bình quân sở hữu giữa huyện Nam Đàn với một số huyện khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ 71

Bảng 3.10 Thuế ruộng đất công, tư ở khu vực II thời Gia Long 87

Bảng 3.11 Thuế ruộng công, tư ở khu vực II thời Minh Mệnh 88

Bảng 3.12 Thuế ruộng đất công, tư ở khu vực IV thời Tự Đức 88

Bảng 4.1 Một số nghề tiểu thủ công nghiệp ở Nam Đàn 97

Bảng 4.2 Một số loại đá ong được khai thác ở mỏ đá làng Kiền, Thanh Thuỷ và một số mỏ đá khác ở Nam Đàn 101

Bảng 4.3 Các chợ có quy mô lớn ở Nam Đàn ở thế kỷ XIX 108

Bảng 5.1 Phân bố sở hữu tư điền 124

Bảng 5.2 Tổng hợp tình hình sở hữu ruộng đất của chức dịch 127

DANH MỤC CÁC BIỂU Biểu đồ 3.1 Cơ cấu ruộng đất huyện Nam Đàn (1802 - 1884) 56

Biểu đồ 3.2 Phân bố công điền ở một số địa phương nửa đầu thế kỷ XIX 57

Biểu đồ 3.3 Cơ cấu ruộng đất tư nhân 64

Biểu đồ 3.4 Quy mô các loại hình đất đai trong sở hữu tư nhân 65

Biểu đồ 5.1 Sở hữu chủ nữ, phân canh, phụ canh ở một số địa phương thời Nguyễn (1802 - 1884) 125

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Kinh tế là hoạt động sản xuất của cải vật chất, là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi của một chế độ xã hội; là tổng hòa các mối quan hệ sản xuất dựa trên một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, tạo nên kết cấu kinh tế của chế độ xã hội hay cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội Kinh tế với các lĩnh vực hoạt động gồm nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp có mối quan hệ không thể tách rời với nhu cầu vật chất, sinh hoạt trong đời sống của các cộng đồng cư dân, các mục tiêu nhằm phát triển kinh tế bao gồm trong đó mục tiêu xây dựng tiến bộ xã hội được đặt ra Mặt khác, kinh tế còn đóng vai trò quan trọng tạo nên dấu ấn trong nền văn hóa dân tộc, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa vùng miền trong bức tranh đa sắc màu của văn hóa Việt Nam Do vậy, nghiên cứu lịch sử kinh tế có ý nghĩa khoa học và thực tiễn nhằm đem lại những hiểu biết chính xác và toàn diện hơn về lịch sử dân tộc

1.2 Trong vài thập niên gần đây, nghiên cứu, đánh giá về thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX

đã, đang nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Với nguồn tư liệu cụ thể của địa phương, đặc biệt là tài liệu Hán Nôm, tư liệu địa bạ dưới triều Nguyễn, việc lựa chọn những nội dung liên quan đến kinh tế làm đối tượng nghiên cứu góp phần tái hiện lại một cách có hệ thống kinh tế địa phương trong mối tương quan với kinh tế nhà nước trong thời kỳ này Đồng thời góp phần minh họa thêm trong việc nghiên cứu lịch sử làng xã nói riêng, lịch sử chế độ phong kiến nói chung trong tiến trình lịch sử Việt Nam

1.3 Trấn Nghệ An (gồm Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay) từ thế kỷ XVI cho đến trước thế kỷ XIX là một trong những địa bàn tranh chấp chính của chiến tranh Nam - Bắc triều, chiến tranh Trịnh - Nguyễn giữa các thế lực phong kiến Nơi đây, vừa cung cấp nguồn lực vật chất, con người cũng là nơi phải gánh chịu nhiều hậu quả do các biến động chính trị - xã hội mang lại Nghệ An là đất tổ của anh em nhà Tây Sơn, nơi

“địa linh nhân kiệt” này đất rộng, người đông có thể giúp nhà Nguyễn dựng nghiệp bền lâu, hoặc có thể làm cho cơ đồ họ Nguyễn đối diện với nhiều thách thức Nhận thức rõ điều đó, các vị vua Gia Long (1802 - 1820), Minh Mệnh (1820 - 1840), Thiệu Trị (1840 - 1847), Tự Đức (1847 - 1883), đã kiên quyết xoá bỏ những thành quả của

Trang 10

Tây Sơn trên đất Nghệ An (phá bỏ Sùng chính Thư viện, cho lập trại Hữu Biệt để quản thúc những người giúp đỡ hoặc có họ hàng với Tây Sơn) [78]… Đồng thời ban hành các chính sách, biện pháp để cư dân xứ Nghệ đứng về phía nhà Nguyễn Do đó, việc lựa chọn địa bàn cụ thể là huyện Nam Đàn (thuộc trấn/tỉnh Nghệ An) để nghiên cứu là góp phần thiết thực vào việc làm rõ được những chính sách vừa kiên quyết vừa khéo léo mà nhà Nguyễn đã thực thi trên vùng đất thuộc lưu vực sông Lam, trước khi người Pháp chiếm thành Nghệ An (7/1885) nhưng lại chưa được đề cập trong các công trình

đã nghiên cứu

1.4 Nam Đàn nằm ở vùng hạ lưu sông Lam, là vùng đất có truyền thống lịch

sử, văn hóa lâu đời của trấn/tỉnh Nghệ An Theo tiếp cận của chúng tôi, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về huyện Nam Đàn, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu về phương diện kinh tế Việc tái hiện lại một cách hệ thống kinh tế huyện Nam Đàn, dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 - 1884 sẽ góp phần làm rõ quá trình ra đời, phát triển của kinh tế Nam Đàn trong mối tương quan với kinh tế của cả nước trong cùng bối cảnh lịch sử Đồng thời làm sáng tỏ những đặc trưng cơ bản của kinh tế Nam Đàn và ảnh hưởng, tác động của kinh tế đối với đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cộng đồng cư dân nơi đây

Xuất phát từ những lý do cơ bản trên, chúng tôi chọn đề tài “Kinh tế huyện

Nam Đàn, tỉnh Nghệ An dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 - 1884” làm luận án Tiến sĩ

chuyên ngành Lịch sử Việt Nam

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu kinh tế huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 - 1884 Tuy nhiên, để tái hiện bức tranh kinh tế Nam Đàn một cách có hệ thống, toàn diện, đảm bảo tính khách quan, khoa học cả về lịch đại và đồng đại, chúng tôi có dành một phần nội dung khái lược những nhân tố ảnh hưởng đến kinh

tế Nam Đàn cũng như thực trạng kinh tế trên địa bàn trước năm 1802 Bên cạnh việc tập trung làm rõ về bức tranh nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp trên địa bàn huyện Nam Đàn (1802 - 1884), chúng tôi còn hướng tới việc đưa ra một số nhận xét đánh giá, chỉ rõ tác động của kinh tế đối với đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của các giai tầng trên vùng đất Nam Đàn trong khoảng thời gian đề tài xác định

Trang 11

Đến năm 1911, chính quyền thuộc địa và triều Nguyễn quyết định sắp xếp lại địa giới hành chính của huyện Thanh Chương và huyện Nam Đàn Theo đó, tổng Nam Kim thuộc huyện Thanh Chương, nằm ở hữu ngạn sông Lam cắt về huyện Nam Đàn Hai tổng Đại Đồng và Xuân Lâm của huyện Nam Đàn, nằm ở tả ngạn sông Lam sáp nhập vào huyện Thanh Chương Sau điều chỉnh địa giới hành chính này, huyện Nam Đàn còn 6 tổng, 65 làng xã, thôn, trang, phường, vạn, giáp, vạn, sở, tương ứng với địa giới hành chính ổn định của huyện Nam Đàn từ năm 1911 đến nay

Do những thay đổi về diên cách địa lý, tên gọi qua nhiều thời kỳ, cùng nguồn tư liệu địa bạ, văn bia, gia phả thất thoát, trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi xin phép giới hạn không gian nghiên cứu trong địa giới hành chính gồm 6 tổng với 65 làng, xã, trang, phường, vạn, giáp, tương ứng với địa giới hành chính của huyện Nam Đàn từ năm 1911 đến ngày nay Đồng thời, chúng tôi xin phép được dùng danh gọi Nam Đàn chứ không dùng danh gọi Nam Đường

Về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu kinh tế huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An

thời kỳ 1802 - 1884 Chúng tôi lấy năm 1802 làm mốc mở đầu cho công trình nghiên cứu

vì đây là năm Nguyễn Phúc Ánh cho lập đàn tế cáo trời đất, đặt niên hiệu Gia Long năm thứ nhất, xác lập vai trò của nhà Nguyễn đối với lịch sử dân tộc Còn năm 1884 là mốc kết thúc nghiên cứu vì sau khi ký Hiệp ước Giáp Thân (06/6/1884) nhà Nguyễn chính thức thừa nhận và chấp thuận nền bảo hộ của nước Pháp đối với vương quốc Đại Nam, thực chất là đánh mất quyền độc lập của đất nước vào tay thực dân Pháp

Về nội dung, luận án nghiên cứu về kinh tế huyện Nam Đàn thời kỳ 1802 -

1884 trên các phương diện: Những nhân tố tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến kinh tế Nam Đàn; Nông nghiệp với tình hình sở hữu ruộng đất, cơ cấu ngành nghề, giống cây trồng, công cụ, nông cụ, cách thức canh tác, hệ thống thủy lợi và năng suất, tô thuế ở

Trang 12

địa phương; Thủ công nghiệp, thương nghiệp với hoạt động của các nghề, làng nghề thủ công truyền thống và hệ thống chợ trên địa bàn huyện Nam Đàn Ngoài ra, luận án còn có những so sánh, đối chiếu huyện Nam Đàn với các huyện lân cận trong tỉnh và

mở rộng ra một số địa phương khác ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Từ những kết quả nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một số nhận xét và đánh giá về thực trạng và những ảnh hưởng của kinh tế huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong suốt 82 năm (1802 - 1884) đối với đời sống xã hội, văn hóa của các tầng lớp, giai cấp trên địa bàn huyện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế và thực trạng nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, luận án nhằm khôi phục bức tranh kinh tế huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 - 1884; Nhận xét và đánh giá những đặc điểm về kinh tế; Mặt khác cũng khẳng định vai trò của kinh tế đối với tình hình xã hội và văn hóa trong tiến trình lịch sử của vùng đất này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ trọng tâm của đề tài là:

- Tiếp cận các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước có nội dung liên quan đến đề tài luận án, chỉ rõ việc kế thừa những kết quả từ các công trình nghiên cứu trước đó, nhất là những nội dung trọng yếu cần được tập trung nghiên cứu, làm sáng tỏ

- Nêu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và thực trạng kinh tế Nam Đàn trước khi vương triều Nguyễn được thiết lập

- Nghiên cứu kinh tế huyện Nam Đàn thời kỳ 1802 - 1884 trên các phương diện: nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp Dựa trên kết quả so sánh đồng đại chỉ ra những đặc điểm chung và riêng của kinh tế huyện Nam Đàn so với một số huyện lân cận ở trấn/tỉnh Nghệ An và một số tỉnh ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ dưới triều Nguyễn (1802 - 1884)

- Nhận xét và đánh giá về kinh tế Nam Đàn dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 -

1884 nhằm làm rõ ảnh hưởng của kinh tế đối với đời sống vật chất, đời sống tinh thần của các tầng lớp, giai cấp trên địa bàn huyện

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Luận án khai thác các tư liệu có liên quan đã được công bố từ trước đến nay bao gồm các thư tịch, công trình khoa học, các sách, báo, tạp chí:

Trang 13

- Nguồn tài liệu thư tịch cổ gồm: Hoàng Việt luật lệ thời Gia Long, các bộ sách lịch sử do Quốc sử quán và Nội các triều Nguyễn biên soạn như Đại Nam thực lục

(Chính biên), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Chính biên và Tục biên), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí

Nguồn tài liệu này được khai thác, sử dụng triệt để trong quá trình nghiên cứu và trình bày nội dung luận án Bởi đây là cơ sở khoa học giúp chúng tôi khảo sát về huyện Nam Đàn thời Nguyễn

Trong quá trình thu thập, phân loại tài liệu, chúng tôi nhận thấy các sách ghi chép

về trấn/tỉnh Nghệ An như: Hoan Châu phong thổ ký (Trần Danh Lâm), Nghệ An ký (Bùi Dương Lịch), Thanh Chương huyện chí (Nguyễn Điển), An Tĩnh cổ lục (H Le Breton)

đã bổ cứu thêm cho chúng tôi những tư liệu quan trọng về lịch sử hình thành vùng đất, đặc điểm điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế huyện Nam Đàn trong thế kỉ XIX

- Nguồn tài liệu lưu trữ: Đây là tài liệu quan trọng nhất của luận án, chủ yếu gồm các thư tịch về địa bạ, thần tích, thần sắc, văn bia Chúng tôi đã khai thác gần 3.000 trang tài liệu thư tịch tại TTLTQG I, Viện Nghiên cứu Hán Nôm Trong đó, đáng chú ý hơn cả là 40 tập địa bạ lập vào các thời điểm Gia Long, Minh Mệnh, Tự Đức Số địa bạ này được phân bố ở 5 tổng: Non Liễu, Lâm Thịnh, Hoa Lâm, Nam Kim, Bích Triều Nguồn tài liệu trên là cơ sở chủ yếu giúp chúng tôi giải quyết một số nhiệm vụ khoa học và thực tiễn mà đề tài đặt ra

- Các công trình nghiên cứu chuyên khảo thời cận đại, hiện đại đã được xuất bản trong và ngoài nước của nhiều tác giả đi trước về tình hình sở hữu ruộng đất, kinh

tế như: Nguyễn Đức Nghinh, Trương Hữu Quýnh, Phan Huy Lê, Vũ Huy Phúc, Phan Đại Doãn, Nguyễn Đình Đầu, Vũ Văn Quân, Đỗ Bang… Đây là những tài liệu tham khảo quan trọng giúp chúng tôi so sánh, đối chiếu nhằm có những đánh giá mang tính khách quan, khoa học đối với những nội dung về kinh tế huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ

An dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 - 1884

Một nguồn tài liệu quan trọng khác gồm các công trình biên soạn về lịch sử địa phương, trong đó có lịch sử các xã thôn của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; Lý lịch các di tích văn hóa, lịch sử trên địa bàn huyện; Những công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian của các nhà nghiên cứu văn hóa tiêu biểu ở Nghệ An như: Ninh Viết Giao, Chu Trọng Huyến đã làm phong phú thêm những thông tin về các nội dung liên

quan đến huyện Nam Đàn

Trang 14

- Nguồn tài liệu điều tra, điền dã tại địa phương: Gồm sắc phong, phổ hệ, khoán ước, hương ước, địa chí của làng xã, các bài văn tế, gia phả một số dòng họ lớn ở các làng, những dấu tích ngành nghề, nhân vật, sản phẩm Đây là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết, giúp chúng tôi so sánh, đối chiếu với các tài liệu thư tịch đã thu thập được ở TTLTQG I, Viện Nghiên cứu Hán Nôm Qua đó, làm phong phú thêm nguồn thông tin, đặc điểm riêng của kinh tế huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 - 1884

Tài liệu truyền miệng: Truyền thuyết, ca dao, hò vè, chuyện kể của những người lớn tuổi Đây là nguồn tài liệu rất phong phú, phản ánh cách nhìn nhận, tâm thức của cư dân địa phương trong đời sống và sản xuất, nên chúng tôi cố gắng so sánh, đối chiếu với các nguồn tài liệu khác nhằm chắt lọc những thông tin có giá trị

Nguồn tài liệu thu thập được thông qua việc phỏng vấn những người lớn tuổi ở các dòng họ, tại các làng nghề trong địa bàn huyện Nam Đàn

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, trên cơ sở phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc nhằm giải quyết các nhiệm vụ khoa học của đề tài đặt ra Hai phương pháp này giúp chúng tôi khai thác hiệu quả nguồn tài liệu chính thống (các bộ sử của triều Nguyễn), nguồn tài liệu thư tịch cổ (địa bạ, thần tích, thần sắc, gia phả, văn bia, hương ước) để làm rõ kinh tế huyện Nam Đàn trên các phương diện: nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp Đồng thời vận dụng phương pháp

so sánh đồng đại, lịch đại để đối chiếu, phân tích đánh giá về ảnh hưởng của kinh tế đối với đời sống vật chất và tinh thần của các giai tầng trong không gian địa giới huyện Nam Đàn thời kỳ 1802 - 1884

Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp tiếp cận của cách ngành khác như Dân tộc học, Kinh tế học, Xã hội học, Văn hoá học, để làm rõ bối cảnh lịch

sử, các điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến kinh tế và đánh giá một số tác động của kinh tế đối với đời sống cộng đồng cư dân huyện Nam Đàn

Thực hiện đề tài nghiên cứu về kinh tế địa phương, trong phạm vi không gian địa lý hành chính một huyện thuộc phủ Anh Đô dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 - 1884 không phải lúc nào nguồn tư liệu gốc cũng có sẵn Do vậy, để khắc phục sự thiếu khuyết đó, chúng tôi sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn điều tra, hồi cố, chọn mẫu

Trang 15

trong nghiên cứu thực địa nhằm bổ sung thêm tư liệu Đồng thời, sử dụng phương pháp định lượng để phân tích, xử lý địa bạ kết hợp so sánh, đối chiếu các nguồn tài liệu nhằm khôi phục một cách chân thực diện mạo kinh tế huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ

An dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 - 1884

- Tái hiện lại bức tranh kinh tế huyện Nam Đàn thời kỳ 1802 - 1884, qua đó làm

rõ quá trình phát triển, một số đặc điểm cơ bản và tác động của kinh tế đối với tình hình phát triển chính trị, xã hội và văn hóa của địa phương

- Góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử kinh tế trên các phương diện: nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp ở địa phương

Về mặt thực tiễn:

- Góp phần nghiên cứu lịch sử địa phương huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và cả nước

- Đề tài là cơ sở khoa học đề xuất những biện pháp nhằm tận dụng các nguồn lực, bảo tồn, khôi phục, phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Nam Đàn cho phù hợp với tiềm năng của địa phương trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của

luận án gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Những nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế huyện Nam Đàn

Chương 3: Nông nghiệp

Chương 4: Thủ công nghiệp và thương nghiệp

Chương 5: Nhận xét và đánh giá

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Những nghiên cứu về kinh tế Việt Nam nói chung

Nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp: Theo tiếp cận của chúng tôi, nghiên cứu về

kinh tế Việt Nam nói chung, nông nghiệp nói riêng đã được các học giả trong và ngoài nước tiến hành từ thời Pháp thuộc Đầu tiên là các chuyên khảo của một số học giả người Pháp tiến hành nghiên cứu kinh tế nông nghiệp thuộc các xứ Bắc Kỳ và Trung

Kỳ dưới nhiều góc độ chuyên môn khác nhau, với các công trình tiêu biểu của: P Ory

(1894) với La commune annamite au Tonkin [266], Y Henry (1932) với Économie

agricole de l’Indochine [268], P Bernard (1934) với Le problème économique Indochinois [265], Charles Robequain (1939) với L’Évolution économique de l’Indochine francaise [260], P Gourou (1940) với L’Utilisation du sol en Indochine francaise [166] Trong những công trình này, các học giả người Pháp đặc biệt quan

tâm nghiên cứu tình hình sở hữu, phương thức sử dụng ruộng đất trong canh tác, phân tích một số giống cây trồng, vật nuôi và năng suất, sản lượng nông nghiệp ở một số tỉnh thuộc Bắc Trung Kỳ và Trung Kỳ trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp

Liên quan đến kinh tế nông nghiệp ở một số địa phương có địa bàn tiếp giáp, mang nhiều đặc điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, xã hội với tỉnh Nghệ An thuộc

xứ Trung Kỳ, đã có một số chuyên khảo có giá trị được công bố Đáng chú ý có tác giả

Le Breton (1924) La province de Thanh Hoa [264], R Bulateau (1925) La province de

Ha Tinh [172], Charles Robequain (1929) Le Thanh Hoa [16] Các công trình này chủ

yếu đề cập cụ thể về điều kiện tự nhiên, lịch sử văn hóa, xã hội của các huyện ở Thanh Hóa, Hà Tĩnh, là tư liệu quan trọng giúp chúng tôi đối chiếu, so sánh rút ra những điểm tương đồng với tỉnh Nghệ An Tuy nhiên, do nghiên cứu dưới góc độ chủ quan gắn với công cuộc khai thác thuộc địa của tư bản Pháp, cho nên trong một số công trình các quan điểm phân tích còn thiếu khách quan, mang tính đề cao vai trò của chế

độ thuộc địa

Ngoài ra, một số tập san như Bulletin des Amis du Vieux Hue (1931) [132] số

đặc biệt về Trung Kỳ đã đăng tải nhiều bài viết giới thiệu khái quát về kinh tế trên các

Trang 17

phương diện: canh nông, kinh tế đồn điền Đáng chú ý có các công trình nghiên cứu của các kỹ sư canh nông, các nhà quản lý về nông nghiệp ở Bắc Trung Kỳ đăng trên

các tập san kinh tế như: Bulletin économique de l’Indochine (1898 - 1944) [260],

Annuaire économique de l’Indochine (1927) [259], L’Eveil économique de l’Indochine

(1918 - 1935) [262], Journal officiel de l’Indochine francaise (1889 - 1951) [263]

Đây là những bộ tài liệu được các tác giả người Pháp ghi chép rất nhiều khía cạnh về kinh tế ở Đông Dương, nhất là Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa Những nội dung được ghi chép và miêu tả từ các tạp chí trên sẽ là nguồn tư liệu tham khảo tin cậy đối với đề tài của luận án

Ngoài các công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp của các học giả nước ngoài, từ những năm 40 của thế kỷ XX bắt đầu xuất hiện một số công trình nghiên cứu của các tác giả người Việt có đề cập đến một số vấn đề về kinh tế nông nghiệp và tình hình sở hữu ruộng đất trong nông thôn, làng xã Việt Nam Đáng kể nhất là tác giả Vũ

Văn Hiền (1940) với La propriété communale au Tonkin [84] có đề cập đến vấn đề

công điền công thổ của một số làng xã nước ta ở Bắc Kỳ

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau 1954 vấn đề kinh tế nông nghiệp trong nông thôn, làng xã Việt Nam thời quân chủ mới thực sự được các học giả trong nước quan tâm nghiên cứu Đáng chú ý có nhiều tác phẩm chuyên khảo đề cập đến sở hữu ruộng đất dưới chế độ phong kiến Việt Nam của các tác giả: Phan Huy Lê

(1959), Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê Sơ [100]; Vũ Huy Phúc (1979), Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX [147]; Trương Hữu Quýnh (1982, 1983), Chế độ ruộng đất Việt Nam [168], [169] 2 tập; Tình hình ruộng

đất nông nghiệp và đời sống nhân dân dưới thời Nguyễn [170] do Trương Hữu Quýnh,

Đỗ Bang (cb, 1997) Những cuốn sách trên đã đề cập đến tình hình sở hữu, chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp trên phạm vi cả nước, thông qua khối lượng tư liệu địa phương gồm: địa bạ, văn bia, gia phả… Các công trình này đã có những đóng góp lớn về mặt tư liệu cũng như phương pháp nghiên cứu về sở hữu ruộng đất, kinh tế nông nghiệp thời quân chủ

Liên quan đến vấn đề kinh tế nông nghiệp và tình hình sở hữu ruộng đất dưới

triều Nguyễn, trong gần 6 thập kỷ qua Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã liên tục đăng tải

nhiều bài viết và thông tin tư liệu đề cập đến vấn đề ruộng đất, kinh tế, tình hình xã hội

Trang 18

và văn hóa trong làng xã Việt Nam như của: Nguyễn Khắc Đạm (1964), Góp mấy ý

kiến về vấn đề ruộng đất tư trong lịch sử Việt Nam [43] và (1981), Vấn đề ruộng đất công và ruộng đất tư trong lịch sử Việt Nam [44]; Phan Đại Doãn (1981), Về tính chất

sở hữu ruộng đất công làng xã [26]; Bùi Quý Lộ (1986) Thêm một số ý kiến về chế độ ruộng đất ở Tiền Hải nửa đầu thế kỷ XIX [109]; Vũ Văn Quân, Nguyễn Quang Ngọc

(1994), Diễn biến sở hữu ruộng đất ở một số làng buôn tiêu biểu thuộc vùng đồng

bằng Bắc bộ (đầu thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX) [150] Một số tạp chí như Tạp chí Dân

tộc học, Tạp chí Khảo cổ học, Tạp chí Hán Nôm cũng công bố nhiều bài viết có giá trị khoa học của các chuyên gia trong lĩnh vực ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Giá trị khoa học và thực tiễn của những công trình, bài viết kể trên, là cơ sở giúp chúng tôi định hướng phương pháp tiếp cận, nghiên cứu, khai thác nguồn tư liệu lưu trữ gồm: địa bạ, hương ước, gia phả, văn bia, liên quan đến huyện Nam Đàn nhằm giải quyết các nội dung mà đề tài đặt ra Bên cạnh đó, còn giúp chúng tôi có những so sánh, đối chiếu và đánh giá tổng quan về bức tranh kinh tế nông nghiệp nông thôn của một số trấn/tỉnh ở Việt Nam trong thế kỷ XIX có liên quan đến đề tài

Ngoài những chuyên khảo, công trình khoa học được in ấn xuất bản thành sách, đăng tải trên các tạp chí, hội thảo khoa học, các dự án hợp tác nghiên cứu kinh tế nông nghiệp, còn có một số luận án Tiến sĩ nghiên cứu tình hình sở hữu ruộng đất, kinh tế nông nghiệp được công bố, góp phần làm rõ thực trạng kinh tế nông nghiệp trên bình diện cả nước nói chung, một số địa phương nói riêng dưới triều Nguyễn Tiêu biểu có:

Vũ Văn Quân (1991) Chế độ ruộng đất - kinh tế nông nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ

XIX [149]; Phan Phương Thảo (2003), Chính sách quân điền năm 1839 ở Bình Định qua tư liệu địa bạ [193] Đáng chú ý, các công trình nghiên cứu của Trịnh Thị Thủy

(2002), Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) nửa

đầu thế kỷ XIX [200]; Thái Quang Trung (2009), Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Thừa Thiên Huế nửa đầu thế kỷ XIX [205]; Lê Hiến Chương (2012), Kinh tế, văn hóa huyện La Sơn (tỉnh Hà Tĩnh) nửa đầu thế kỷ XIX [22]; Mai Phương Ngọc

(2014), Cơ cấu kinh tế - xã hội và văn hoá xã Hoằng Lộc (Hoằng Hoá, Thanh Hoá)

thời kỳ trung đại [122] Đây là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về tình hình

ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của các huyện: Đông Sơn, xã Hoằng Hóa (Thanh Hóa), Thừa Thiên Huế, La Sơn (Hà Tĩnh), thuộc những địa phương nằm trong khu vực

Trang 19

Bắc Trung Bộ và Trung Bộ, nơi có nhiều đặc điểm tương đồng với tỉnh Nghệ An, huyện Nam Đàn Dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ đáng tin cậy, phương pháp nghiên cứu khách quan, các công trình này là nguồn tư liệu tham khảo quan trọng giúp chúng tôi

so sánh, đối chiếu nhằm lý giải những vấn đề khoa học liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về thủ công nghiệp: Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nghiên

cứu về thủ công nghiệp ở Việt Nam bắt đầu thu hút được sự quan tâm của nhiều học

giả Cuốn sách Sơ thảo Lịch sử phát triển Thủ công nghiệp Việt Nam [11] của Phan

Gia Bền (1957) được xem là một trong những tác phẩm đầu tiên trình bày đầy đủ và hệ thống về lịch sử phát triển của thủ công nghiệp nước ta qua các thời kỳ Với phương pháp giám định tư liệu, tác giả đã trình bày một cách hệ thống sự ra đời, phát triển của một số nghề, làng nghề thủ công tiêu biểu trên phạm vi cả nước, đưa ra những nhận định về thủ công nghiệp trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau Những kết quả nghiên cứu trong công trình này, góp phần cung cấp nguồn tư liệu bổ ích cho việc nghiên cứu

về thủ công nghiệp ở các địa phương, trong đó có tỉnh Nghệ An

Nghiên cứu tình hình thủ công nghiệp nước ta thời Nguyễn giai đoạn độc lập và thuộc Pháp từ năm 1802 đến năm 1945, chúng tôi quan tâm một số công trình chuyên khảo về kinh tế liên quan đến thủ công nghiệp Đáng chú ý có tác giả Nguyễn Thế Anh

(1971) với tác phẩm Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn [2] đã đề

cập đến kinh tế, xã hội Việt Nam trong bối cảnh trước và sau khi thực dân Pháp đô hộ, đặc biệt xem xét và đánh giá tình hình phát triển thủ công nghiệp khá đầy đủ Trong tác phẩm của mình, tác giả còn trình bày khá rõ sự xuất hiện và những tác động của nhân tố sản xuất tư bản chủ nghĩa đối với hoạt động sản xuất thủ công nghiệp nước ta

từ năm 1802 đến năm 1945

Liên quan đến quá trình hình thành, phát triển của thủ công nghiệp, tác giả

Nghiêm Phú Ninh (1986) trong công trình Con đường phát triển tiểu công nghiệp, thủ

công nghiệp Việt Nam [119] đã trình bày khái quát về sự hình thành và phát triển của

tiểu thủ công nghiệp, thủ công nghiệp Việt Nam Cuốn sách là kết quả nghiên cứu chuyên sâu của tác giả, đã chỉ ra được các nhân tố tác động đến sự ra đời, phát triển của thủ công nghiệp và vai trò, tác động tương hỗ của thủ công nghiệp với các ngành kinh tế khác Qua đó, đưa những nhận định, đánh giá về vai trò của tiểu thủ công nghiệp trong sự đối sánh với tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội trên bình diện

cả nước nói chung, của từng địa phương nói riêng qua các thời kỳ

Trang 20

Liên quan đến những vấn đề trên, nhưng nghiên cứu chuyên sâu hơn được đề

cập trong cuốn sách Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 - 1945 [148] của tác giả Vũ

Huy Phúc (1996) Công trình nghiên cứu về quá trình phát triển tiểu thủ công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 1858 - 1945 Từ việc phân chia sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp Việt Nam thành các thời kỳ, tác giả đi sâu phân tích tình hình phát triển tiểu thủ công nghiệp của từng vùng miền, đưa ra những nhận định, kết luận mang tính đối sánh giữa các thời kỳ và giữa các địa phương theo từng khu vực trong cả nước Thủ công nghiệp tỉnh Nghệ An nói riêng với một số nghề, làng nghề, sản phẩm thủ công nghiệp, được tác giả đề cập trong các nội dung liên quan đến tình hình tiểu thủ công nghiệp của xứ Trung Kỳ

Chuyên khảo về Kinh tế thủ công nghiệp và phát triển công nghệ Việt Nam

dưới triều Nguyễn [191] của các tác giả Bùi Thị Tân, Vũ Huy Phúc (1998) là công

trình nghiên cứu chuyên sâu về tình hình thủ công nghiệp dưới triều Nguyễn Tác phẩm đã đề cập đến một số chính sách của nhà Nguyễn đối với thủ công nghiệp và những nhân tố tác động đến quá trình chuyển biến của tình hình thủ công nghiệp, mô

tả các làng nghề thủ công chuyên nghiệp ở địa phương với một số nghề, làng nghề thủ công cùng sản phẩm thủ công tiêu biểu Trong bức tranh tổng thể của kinh tế thủ công nghiệp dưới triều Nguyễn, tình hình thủ công nghiệp tỉnh Nghệ An nói chung, một số địa phương trong tỉnh nói riêng trong đó có huyện Nam Đàn cũng được các tác giả đề cập đến Đây là cơ sở mang tính khách quan, góp phần làm rõ vai trò của thủ công nghiệp địa phương trong mối tương quan chung về tình hình thủ công nghiệp nước ta dưới triều Nguyễn

Liên quan đến kinh tế thủ công nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc, công trình

nghiên cứu chuyên sâu của tác giả Nguyễn Văn Khánh (1998) về Cơ cấu kinh tế - xã

hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 - 1945) [91] đã để cập đến cơ cấu kinh tế - xã hội

nước ta nói chung, các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp nói riêng thời thuộc địa Cuốn sách đã luận giải về thực trạng và những biến đổi trong cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời Pháp đô hộ, qua đó làm sáng tỏ quá trình phá vỡ kết cấu cổ truyền, dẫn đến sự hình thành, xác lập và mở rộng các yếu kinh tế - xã hội thuộc địa mang tính chất tư bản chủ nghĩa trên phạm vi cả nước Cơ cấu kinh tế - xã hội của Nghệ An từ sau năm 1858 cũng nằm trong bối cảnh chung thời bấy giờ

Trang 21

Đáng chú ý, một số tác giả còn nghiên cứu thủ công nghiệp Việt Nam dưới góc

độ các nghề, làng nghề thủ công truyền thống như: Nghề và làng nghề thủ công truyền

thống [197] của Nguyễn Hữu Thông (1994); Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam [216] của Bùi Văn Vượng (2002); Làng nghề truyền thống Việt Nam [185] của

Phạm Côn Sơn (2009); Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam [81] gồm 6

tập của Trương Minh Hằng (Cb, 2012) Các công trình này hầu hết đều tập trung làm

rõ đặc điểm tình hình thủ công nghiệp, trình bày một cách hệ thống và chi tiết về quá trình hình thành, phát triển của các nghề, làng nghề truyền thống ở một số địa phương

và trên cả nước

Nghiên cứu về thương nghiệp: Thương nghiệp nói chung, hoạt động buôn bán

trao đổi hàng hóa nói riêng, ra đời và tồn tại qua các phương thức sản xuất xã hội, như một bộ phận không thể tách rời trong cơ cấu nền kinh tế Vai trò của thương nghiệp (gồm nội thương và ngoại thương) trong nền kinh tế là kích thích phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy sản xuất đối với các ngành kinh tế khác, đáp ứng nhu cầu về lưu thông, tiêu thụ hàng hóa Nghiên cứu về thương nghiệp đã được sự chú ý quan tâm

của nhiều nhà nghiên cứu, đáng chú ý có tác giả Đỗ Bang (1996) với công trình Kinh

tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn [8] đã tập trung tìm hiểu các điều kiện

giao lưu hàng hóa, các chính sách của triều Nguyễn đối với kinh tế thương nghiệp, mô

tả hoạt động thương nghiệp với hai bộ phận gồm nội thương và ngoại thương Qua tác phẩm, tình hình thương nghiệp tại Nghệ An cũng đã được đề cập trong mối quan

hệ với nông nghiệp, thủ công nghiệp nội vùng dưới triều Nguyễn

Ngoài những công trình nghiên cứu là sách, bài viết trên các tạp chí về tình hình thương nghiệp Việt Nam dưới thời Nguyễn, còn có một số luận án Tiến sĩ nghiên cứu

về thương nghiệp ở các địa phương trong các giai đoạn lịch sử Luận án Tiến sĩ Chính

sách thương nghiệp của Triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX [218] của Trương Thị Yến

(2004) đã nghiên cứu về thực trạng chính sách thương nghiệp của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX Qua nghiên cứu chuyên sâu các chính sách về thương nghiệp, tác giả

đã có những đánh giá về ảnh hưởng và vai trò của chính sách nhà nước đối với hoạt động thương nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam nói chung trong thời kỳ này Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu về tình hình kinh tế thương nghiệp trên bình

Trang 22

diện chung của cả nước, chúng tôi có điều kiện đối chiếu, so sánh và cụ thể hóa đối với tình hình thương nghiệp tỉnh Nghệ An, trong đó có huyện Nam Đàn

Để khảo sát và nghiên cứu hệ thống chợ nhằm làm rõ hoạt động buôn bán trao

đổi hàng hoá ở các địa phương và trên cả nước, chúng tôi đã tiếp cận công trình Chợ

quê Việt Nam [103] của tác giả Trần Gia Linh (2008) Trong cuốn sách này, tác giả đã

nghiên cứu hệ thống 42 chợ từ Bắc Giang đến Phú Yên Để làm rõ các loại hình của chợ - nơi trung tâm trao đổi, mua bán hàng hóa ở các địa phương chúng tôi còn tiếp

cận tác phẩm Chợ Việt [27] của tác giả Huỳnh Thị Dung (2011) Qua tác phẩm, tác giả

đã phân loại các loại hình chợ truyền thống như: chợ tỉnh, chợ phiên, chợ hôm, chợ nổi, chợ chiều, chợ tâm linh Đồng thời tác giả còn đưa ra một số nhận xét về hoạt động, vai trò của chợ truyền thống trong đời sống kinh tế xã hội ở Việt Nam

Liên quan đến vấn đề trên, nhưng phân tích chuyên sâu hơn được đề cập đến

trong cuốn sách Chợ truyền thống Việt Nam qua tư liệu văn bia [113] của tác giả Trịnh

Khắc Mạnh (2015) Từ việc khai thác nguồn tư liệu văn bia, tác giả đã tái hiện bức tranh chợ truyền thống ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ Cách tiếp cận, nghiên cứu về chợ truyền thống qua nguồn tư liệu văn bia và một số nguồn tư liệu khác của tác giả Trịnh Khắc Mạnh đã góp phần giúp chúng tôi các phương pháp tiếp cận tư liệu thư tịch cổ khi nghiên cứu về lịch sử hình thành, phát triển và hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá của hệ thống chợ trên địa bàn huyện Nam Đàn dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 - 1884

Các công trình nghiên cứu về thủ công nghiệp trong nông thôn làng xã nói riêng, hoạt động thương nghiệp Việt Nam nói chung, là những tư liệu có giá trị khoa học và thực tiễn trong quá trình thực hiện luận án Tuy nhiên, những tác phẩm nêu trên chủ yếu trình bày về tình hình thủ công nghiệp dưới hình thức giới thiệu tổng quan, nhiều tác phẩm tập trung nghiên cứu cụ thể tình hình thủ công nghiệp và thương nghiệp ở những trung tâm kinh tế, xã hội với đặc thù ngành nghề rõ nét, có điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi các chính sách phát triển kinh

tế của nhà nước Riêng đối với những địa phương khác, thuộc các trấn/tỉnh xa nơi trung tâm thì chưa được quan tâm nghiên cứu Đây là một trong những khó khăn mà chúng tôi gặp phải khi sử dụng những tư liệu này trong quá trình thực hiện luận án

Để tìm hiểu về bối cảnh lịch sử và tình hình kinh tế Việt Nam trong đó có huyện Nam Đàn dưới triều Nguyễn, chúng tôi còn tham khảo một số tập trong bộ sách

Trang 23

Lịch sử Việt Nam như: Lịch sử Việt Nam, tập 5 Từ năm 1802 đến năm 1858 [213] do Viện Sử học, Trương Thị Yến (Cb, 2017) thực hiện; Lịch sử Việt Nam, tập 6 Từ năm

1858 đến năm 1896 [214] do Viện Sử học, Võ Kim Cương (Cb 2017) tái bản lần thứ

nhất có bổ sung

1.2 Những nghiên cứu về kinh tế Nghệ An và huyện Nam Đàn

Liên quan đến nông nghiệp ở khu vực Bắc Trung Kỳ, trong đó có tỉnh Nghệ

An, chúng tôi có tiếp cận một số chuyên luận của giới chức người Pháp phụ trách các lĩnh vực nông nghiệp, các công trình của G M Castagnol - Giám đốc hạt canh nông Trung Kỳ, M H Gilbert và H Cucherousset - Thanh tra nông nghiệp Trung Kỳ Chúng tôi tiếp cận nguồn tài liệu này thông qua các bản dịch bằng tiếng Việt lưu ở Phòng Địa chí của Thư viện các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh Công trình

Chuyên luận về nông nghiệp tỉnh Nghệ An [261] của G M Castagnol (1930) đã mô tả

về điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng, diện tích, năng suất và cơ cấu cây trồng, sản lượng lương thực và các loại hoa màu khác của tỉnh Nghệ An thời Pháp thuộc Ngoài ra còn

có một số bài viết đề cập đến hoạt động tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp ở các

địa phương trong tỉnh như Diễn văn của Toàn quyền Đông Dương nhân dịp khánh

thành dẫn thủy nhập điền ở miền Bắc Nghệ An [13] của tác giả J Brévié (1937)… Tất

cả những bài viết trên đề cập đến kinh tế nông nghiệp trên nhiều phương diện, đã cung cấp thông tin về tư liệu, các phương pháp nghiên từ các góc độ chuyên môn khác nhau, giúp chúng tôi có cơ sở liên hệ, đối chiếu, so sánh về những nội dung liên quan đến kinh tế nông nghiệp Nghệ An dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 - 1884

Công trình nghiên cứu Le vieux An Tinh [99] của học giả người Pháp Le Breton

(1936) về vùng đất An Tĩnh đã bước đầu tái hiện diện mạo lịch sử, văn hóa truyền

thống khá sinh động của vùng đất Nghệ Tĩnh Đáng chú ý, trong Le vieux An Tinh tác

giả H.Le Breton đã dành một phần nội dung quan trọng để phân tích về vùng hạ lưu sông Lam, trong đó địa bàn huyện Nam Đàn gồm khu vực Sa Nam và một số xã thôn như: làng Dương Liễu, xã Non Hồ, xã Nộn Liễu, xã Nhạn Tháp, xã Hồng Long, vùng Tràng Đen, được tác giả tìm hiểu, nghiên cứu tương đối chi tiết về điều kiện tự nhiên, quá trình canh tác, mùa vụ, giống cây trồng trong nông nghiệp Theo đánh giá khách

quan, công trình Le vieux An Tinh dù còn nhiều hạn chế về phương pháp tiếp cận vấn

Trang 24

đề cùng tư liệu minh chứng, nhưng có thể khẳng định đây là công trình nghiên cứu tiêu biểu, có giá trị khoa học cao nhất trong số những tác phẩm của các học giả nước ngoài nghiên cứu về khu vực Nghệ Tĩnh nói chung, huyện Nam Đàn nói riêng trước năm

1945

Liên quan đến tỉnh Nghệ An dưới thời Pháp thuộc, công trình Địa - dư tỉnh

Nghệ An [89] của tác giả Đào Đăng Hy (1938) với 9 chương nội dung đã đề cập đến

các vấn đề: vị trí, giới hạn, diện tích, địa chất, địa thế, khí hậu, sông ngòi, nhân chủng, dân số, phong tục, chính trị, sản vật, công nghệ, thương mại, đường giao thông, thành thị và thương cảng của tỉnh Nghệ An Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung trên một số phương diện về địa lý, lịch sử, văn hóa, tôn giáo và đời sống xã hội ở khu vực Nghệ An (gồm cả tỉnh Hà Tĩnh)

Trong nhiều năm qua, công tác sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương trong tỉnh Nghệ An được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, với các công trình

được công bố của: Ban NCLS tỉnh Nghệ Tĩnh (1984) với cuốn sách Lịch sử Nghệ

Tĩnh, tập 1 [7]; Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh [17] của tác giả Nguyễn Đổng

Chi (Cb, 1995) Đây là những công trình có quy mô nghiên cứu lớn, được biên soạn công phu về lịch sử, địa chí Nghệ An - Hà Tĩnh Từ những nguồn tư liệu đáng tin cậy, các tác giả đã bước đầu khôi phục lại quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Nghệ Tĩnh qua các thời kỳ lịch sử Trong một số nội dung của các công trình trên, bức tranh về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Nghệ An trong thế kỷ XIX được

mô tả khá rõ nét, tuy nhiên những vấn đề liên quan đến tình hình kinh tế ở các địa phương cụ thể trong tỉnh lại không được đề cập đến

Đối với địa bàn tỉnh Nghệ An, tập hợp các công trình của nhà nghiên cứu văn

hóa Ninh Viết Giao như: Hương ước Nghệ An [73]; Nghề (làng nghề) truyền thống ở

Nghệ An [74]; Tục thờ thần và thần tích Nghệ An [75]; Văn bia Nghệ An [76]; Nghệ

An - Lịch sử, văn hóa [77] đã đề cập đến các vấn đề về kinh tế, văn hóa - xã hội ở các

làng xã Tuy nhiên, những nội dung mà các công trình trên phản ánh còn mang tính khái quát về các địa phương trong tỉnh Nghệ An

Tác giả Trần Viết Thụ (Cb, 2006) với cuốn sách Địa danh lịch sử, văn hóa

Nghệ An [198] đã giới thiệu khá toàn diện về tỉnh Nghệ An trên các phương diện: địa

Trang 25

danh, lịch sử, văn hóa, xã hội Trong nội dung cuốn sách, tác giả trình bày theo từng mục từ (gồm phần tên gọi, giải thích tên gọi), chứa đựng một dung lượng khá lớn về lịch sử, văn hóa, xã hội của các làng xã, khu vực trong tỉnh, đặc biệt trong đó có nhiều nội dung liên quan hoặc trực tiếp đề cập đến huyện Nam Đàn và được xem là một cuốn từ điển về địa danh lịch sử, văn hóa địa phương

Công trình Lịch sử Nghệ An [201] gồm 2 tập do Trần Văn Thức (Cb, 2012) là bộ

sách đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về lịch sử hình thành, phát

triển của tỉnh Nghệ An từ nguồn gốc đến năm 2005 Trong tập 1, Lịch sử Nghệ An (từ

nguyên thủy đến năm 1945), ở Chương VI: Nghệ An thời Nguyễn - Giai đoạn độc lập

(1802 - 1884), các tác giả đã trình bày một cách khái quát về kinh tế, chính trị, văn hóa

xã hội ở Nghệ An trong suốt 82 năm (1802 - 1884) trong đó có đề cập đôi nét về tình hình kinh tế, văn hóa giáo dục ở Nam Đàn… Tuy nhiên, xét trên khía cạnh cụ thể liên quan đến địa phương là huyện Nam Đàn thì những nội dung được đề cập đến còn mang tính chất sơ lược, khái quát trên tổng thể về các vấn đề của lịch sử tỉnh Nghệ An

Năm 1997, Tạp chí Thông tin Khoa học - Công nghệ và Môi trường Nghệ An

đăng tải bài viết của hai tác giả Hoàng Văn Lân, Nguyễn Quang Hồng Nguyên liệu xây

thành Nghệ An dưới triều vua Minh Mạng (1820 - 1840) [97] Bài viết cung cấp về

cách thức khai thác đá ong, dụng cụ để khai thác đá ong, phương thức vận chuyển đá ong từ làng Kiền, thuộc xã Thanh Thuỷ, huyện Nam Đàn ra bến đò Sa Nam để đưa về cầu Cửa Tiền phục vụ cho công cuộc xây dựng thành Nghệ An Các thông tin trong nội dung bài viết là tài liệu tham khảo quý để chúng tôi tìm hiểu thêm về một nghề thủ công truyền thống ở huyện Nam Đàn trong thời kỳ 1802 - 1884

Trong bài viết: Thêm một số ý kiến về nội dung, tính chất và diễn biến của khởi

nghĩa Giáp Tuất (1874) [98] của các tác giả PGS Hoàng Văn Lân, Nguyễn Quang

Hồng (1998) đã cung cấp thêm những tư liệu về căn cứ làng Thành, đình làng Thanh Thuỷ, từng là đại bản doanh của cuộc khởi nghĩa do Trần Tấn và Đặng Như Mai tổ chức, lãnh đạo Bài viết cũng lý giải thêm nguyên nhân khiến đông đảo nhân dân làng

xã ở Nam Đàn, Thanh Chương, Hưng Nguyên ủng hộ cuộc khởi nghĩa này và những hậu quả mà cư dân làng xã Nam Đàn phải hứng chịu trước cuộc đàn áp thảm khốc từ phía triều đình Tự Đức và cả người Pháp Đây là một trong những tài liệu hữu ích để chúng tôi phân tích ảnh hưởng của những chính sách mà vương triều nhà Nguyễn thực

Trang 26

thi, cụ thể là chính sách cấm đạo, sát đạo, đàn áp thẳng tay những cuộc nổi dậy của nông dân làng xã trên phạm vi vương quốc Đại Nam nói chung, Nghệ An và Nam Đàn nói riêng ở nửa sau thế kỷ XIX

Chúng tôi dành sự quan tâm đặc biệt đối với bài viết: Hệ thống chợ Nghệ An

thế kỷ XIX [85] của tác giả Nguyễn Quang Hồng (2004) Trong bài viết tác giả đã trình

bày hệ thống chợ ở các huyện đồng bằng miền núi trung du Nghệ An bao gồm cả chợ làng xã, phủ huyện, trấn tỉnh… Bước đầu trình bày quy mô trao đổi buôn bán các loại hàng hóa tại các chợ ở Nghệ An trong suốt thế kỷ XIX Ngoài ra, tác giả còn bổ sung thêm một số chợ làng xã trên địa bàn huyện Nam Đàn mà Quốc sử quán triều Nguyễn chưa đề cập tới như: chợ Chùa (làng Xuân Hồ), chợ Giếng (làng Thanh Thuỷ), chợ Sáo (làng Hữu Biệt), chợ Rồng (làng Trung Cần), chợ Cần Bụt (làng Hùng Nhẫn) Những tư liệu này giúp chúng tôi có điều kiện tìm hiểu về hệ thống chợ làng xã ở 6 tổng, 65 làng xã trong không gian địa giới hành chính đề tài xác định, nhằm làm rõ thêm về hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá của các thế hệ cư dân làng xã ở Nam Đàn trong thời kỳ 1802 - 1884

Dưới góc độ chuyên sâu nghiên cứu về tỉnh Nghệ An, luận văn Thạc sĩ của

Trần Thị Thanh Hà (2008) về Chợ ở Nghệ An từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1945 [79] đã

có những khảo cứu khá công phu về hệ thống chợ làng xã đến chợ phủ, huyện, chợ trấn/tỉnh Nghệ An, đưa ra cách phân chia hệ thống chợ ở Nghệ An từ thế kỷ XIX đến năm 1945 theo quy mô: chợ làng xã, chợ phủ, huyện và bước đầu cho biết thời gian họp chợ, hàng hoá trao đổi ở các chợ Tuy nhiên, do khuôn khổ của một luận văn Thạc

sĩ, tác giả chưa có điều kiện để khảo cứu hệ thống chợ ở một số địa phương thuộc huyện Thanh Chương, huyện Nam Đàn, cũng như chưa có được những phân tích, đánh giá về ảnh hưởng của chợ đối với đời sống văn hoá vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân ở Nghệ An nói chung, Nam Đàn nói riêng Luận văn Thạc sĩ của Trần Anh

Đức (2011) về Kinh tế ở Nghệ An từ năm 1802 đến năm 1884 [52] mặc dầu chỉ trình

bày những nét khái quát về nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp ở Nghệ

An từ năm 1802 đến năm 1884, song những kết quả nghiên cứu của tác giả cũng là một tài liệu tham khảo, giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan về bức tranh kinh tế Nghệ

An trong cùng một thời gian mà đề tài nghiên cứu

Dưới góc độ nghiên cứu chuyên sâu về tình hình kinh tế, xã hội của một huyện, trấn sở ở tỉnh Nghệ An, chúng tôi quan tâm tới luận án Tiến sĩ lịch sử của Nguyễn

Trang 27

Quang Hồng (2000), Thành phố Vinh - Quá trình hình thành và phát triển (từ năm

1804 đến trước cách mạng Tháng Tám năm 1945 [86] Trong nội dung luận án, tác giả

công trình ngoài việc làm rõ quá trình chuyển dời lỵ sở Nghệ An từ Lam Thành - Phù Thạch về Vĩnh Yên và Yên Trường (thành phố Vinh ngày nay) vào tháng 5 năm 1804, còn cho biết rõ việc vua Minh Mệnh huy động cư dân ở xã Thanh Thủy và một số làng

xã lân cận khai thác, vận chuyển đá ong tại mỏ đá ong làng Kiền để xây dựng thành Nghệ An Điều này giúp chúng tôi đối sánh các nguồn tư liệu khác để tìm hiểu về nghề khai thác đá ong, cách thức vận chuyển đá ong của cư dân làng xã trên địa bàn huyện Nam Đàn trong thời kỳ 1802 - 1884

Bên cạnh đó, trong Chương 1, tiểu mục 1.2 Tình hình kinh tế ở trấn thành

Nghệ An từ năm 1804 đến năm 1830, tỉnh thành Nghệ An từ năm 1832 đến trước năm

1899 từ trang 28 đến trang 40, tác giả luận án trên cơ sở khai thác nguồn tư liệu địa bạ,

hương ước, văn bia ở làng Vĩnh Yên, Yên Trường, Yên Lưu, Yên Giang thuộc tổng Ngô Trường huyện Chân Lộc, đã làm rõ quá trình ẩn lậu, bao chiếm, mua bán ruộng đất của bộ máy chức dịch ở làng xã Tác giả cũng chỉ rõ một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng bấp bênh của kinh tế nông nghiệp ở huyện Chân Lộc (Nghi Lộc), huyện Hưng Nguyên, huyện Nam Đàn thuộc trấn/tỉnh thành Nghệ An (1804 - 1884) Đây là một trong những tài liệu giúp chúng tôi so sánh, đối chiếu trong quá trình nghiên cứu

về kinh tế huyện Nam Đàn với một số huyện lân cận như: Thanh Chương, Hưng Nguyên, Nghi Lộc

Luận án Tiến sĩ của Đặng Như Thường (2013) về Kinh tế, xã hội huyện Nghi

Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn (1802 - 1884) [202] đã trình bày một cách có hệ thống

kinh tế, xã hội ở huyện Nghi Lộc trong bối cảnh chung của kinh tế, xã hội ở Nghệ An thời Nguyễn (1802 - 1884) Dựa trên nguồn tư liệu lưu trữ đáng tin cậy, tác giả đã đi sâu phân tích các vấn đề liên quan đến kết cấu kinh tế huyện Nghi Lộc như: Tình hình ruộng đất; Kinh tế nông nghiệp; Các ngành kinh tế khác Ngoài ra, luận án còn mô tả một cách rõ nét xã hội huyện Nghi Lộc thời Nguyễn trên các phương diện: Tổ chức hành chính; Bộ máy quản lý xã thôn; Kết cấu xã hội và đời sống nhân dân… Qua đó phân tích, lý giải ảnh hưởng của kinh tế đối với đời sống xã hội của các giai tầng trong phạm vi không gian địa giới hành chính huyện Nghi Lộc Kết quả nghiên cứu trong luận án là sản phẩm của việc sử dụng logic các phương pháp nghiên cứu mang tính

Trang 28

khoa học, thực tiễn, trong đó đáng chú ý là cách thức tiếp cận, xử lý nguồn tư liệu thư tịch cổ gồm địa bạ, gia phả, văn bia, sắc phong, thần tích, thần sắc liên quan đến huyện Nghi Lộc, một huyện có địa giới gần kề với huyện Nam Đàn

Đề cập đến lịch sử - văn hoá của một số làng, xã nổi tiếng trên địa bàn huyện Nam Đàn, ở những góc độ nghiên cứu là các luận văn Thạc sĩ chúng tôi quan tâm tới

luận văn: Lịch sử - văn hóa làng Trung Cần (xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, nghệ

An) từ thế kỷ XIX đến năm 1945 [72] của Nguyễn Thị Giang (2009); Lịch sử - văn hóa làng Hoành Sơn, xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, Nghệ An từ 1802 - 1945 [80] của

Nguyễn Thị Hằng (2010); Lịch sử - văn hóa làng Xuân Hồ (xã Xuân Hòa, huyện Nam

Đàn, tỉnh Nghệ An) từ thế kỷ XIX đến năm 1945 [112] của Lương Thị Thanh Mai

(2011)… Các công trình trên đã trình bày khá chi tiết về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân các làng gồm: Trung Cần, Hoành Sơn, Xuân Hồ trên địa bàn huyện Nam Đàn từ đầu thế kỷ XIX đến khi Cách mạng tháng Tám (1945) thành công

Tuy không phải là những công trình nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế Nam Đàn thời kỳ 1802 - 1884, song từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, việc biên soạn lịch sử Đảng bộ huyện Nam Đàn, lịch sử Đảng bộ các xã, thị trấn trên địa bàn huyện, hay một số công trình nghiên cứu về lịch sử - văn hoá Nam Đàn được xuất bản

cũng là nguồn tài liệu chúng tôi quan tâm Chẳng hạn cuốn sách Lịch sử Đảng bộ

Đảng Cộng Sản Việt Nam huyện Nam Đàn [6] do Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Nam

Đàn biên soạn (1990) Cuốn sách đã trình bày khái quát về đặc điểm địa lý, kinh tế, văn hóa xã hội ở huyện Nam Đàn, đồng thời điểm qua về một số cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu, Lê Duy Mật trong thời gian hoạt động trên vùng đất Nam Đàn vào cuối thế kỷ XVIII; Khởi nghĩa của Nguyễn Tuân năm 1811; Khởi nghĩa của Lê Quang Chấn năm 1823; Khởi nghĩa Giáp Tuất năm 1874 của Trần Tấn và một số cuộc khởi nghĩa khác trên vùng đất Nam Đàn dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 - 1884

Tác giả Nguyễn Văn Trương (Cb, 2000) cùng các cộng sự khi biên soạn cuốn

sách Nam Đàn xưa và nay [206] dựa trên nguồn tư liệu đa dạng gồm thư tịch cổ, tư

liệu truyền miệng, khảo sát, điều tra điền dã đã mô tả lịch sử hình thành và phát triển của huyện Nam Đàn trên các phương diện địa lý, lịch sử, truyền thống văn hóa và những thành tựu của người dân Nam Đàn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Trong công trình này, một số nội dung có đề cập đến tình hình kinh tế huyện

Trang 29

Nam Đàn trên các mặt nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp gắn với các địa danh như: Làng Hoành Sơn, xã Non Liễu, chợ Sa Nam, chợ Chùa, chợ Vạc Tuy nhiên, những nội dung trên chỉ mang tính khái quát, sơ lược mà chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể về các lĩnh vực trong cơ cấu kinh tế của huyện Nam Đàn

Liên quan đến vấn đề trên, nhưng trình bày khái quát mang tính đa chiều liên

quan đến huyện Nam Đàn được đề cập trong cuốn sách Nam Đàn Quê hương Chủ tịch

Hồ Chí Minh [78] của tác giả Ninh Viết Giao (Cb, 2013) Công trình nghiên cứu khá

công phu, đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến huyện Nam Đàn trong lịch sử như: Diên cách địa lý hành chính qua các đời, phong cảnh, hình thế đất đai, khí hậu, núi sông, dấu vết lịch sử, nghề nghiệp cư dân, truyền thống hiếu học, văn học dân gian, nghệ thuật, kiến trúc Cuốn sách có trình bày một số nội dung liên quan đến kinh tế Nam Đàn ở thế kỷ XIX, đề cập đến một số nghề thủ công truyền thống trong các làng

xã như: nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải ở làng Khoa Trường, làng Tàm Tang, làng Hoành Sơn; nghề ép mía làm mật ở làng Phú Thọ, làng Khoa Trường; nghề khai thác

đá ong ở làng Kiền (Thanh Thuỷ) Một số hoạt động thương nghiệp nội vùng cụ thể là trao đổi, mua bán giao thương diễn ra tại chợ Sa Nam, chợ Rồng, chợ Hữu Biệt cũng được tác giả nhắc đến

Để hiểu rõ hơn về địa giới hành chính, dân cư, kinh tế, xã hội ở một số làng, xã trên địa bàn huyện Nam Đàn, chúng tôi còn tiếp cận một số công trình lịch sử xã, lịch

sử Đảng bộ xã như: Lịch sử Đảng bộ xã Kim Liên (1930 - 2000) [32] của Đảng ủy,

Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã Kim Liên (2000);

Lịch sử Đảng bộ xã Nam Thanh [38] của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân

dân, Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã Nam Thanh (2003); Lịch sử Đảng bộ và nhân dân Thị

trấn Nam Đàn (1930 - 2005) [40] của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân,

Ủy ban Mặt trận tổ quốc Thị trấn Nam Đàn (2005); Lịch sử Đảng bộ xã Nam Lĩnh

(1930 - 2005) [35] của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt

trận tổ quốc xã Nam Lĩnh (2006); Lịch sử xã Nam Cát [34] của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã Nam Cát (2008); Lịch sử

Đảng bộ xã Nam Thái [37] của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy

ban Mặt trận tổ quốc xã Nam Thái (2011)… Các công trình lịch sử Đảng bộ hay lịch

sử xã mà chúng tôi tiếp cận đã cung cấp thêm một số tư liệu về thay đổi địa giới, địa

danh, tên gọi, dân cư ở địa phương

Trang 30

Như vậy, về cơ bản các công trình cứu kể trên đã cung cấp những thông tin tương đối chi tiết liên quan đến kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong nông thôn, làng

xã trên địa bàn tỉnh Nghệ An qua các giai đoạn lịch sử Trong đó, một số công trình nghiên cứu đã ít nhiều đề cập đến các lĩnh vực về kinh tế của huyện Nam Đàn dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 - 1884 Những kết quả nghiên cứu đó là cơ sở khoa học có giá trị để chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu, chọn lọc, tổng hợp, phân tích, đánh giá dưới góc độ sử học, làm tiền đề giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra

1.3 Những kết quả nghiên cứu được luận án kế thừa

Các công trình đã đề cập trên đây cùng với nguồn tài liệu lưu trữ, tài liệu thu thập trong quá trình điều tra điền dã là những tư liệu quý, giúp ích rất nhiều cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án

Trước hết, lịch sử của vùng đất Nghệ An nói chung, huyện Nam Đàn nói riêng qua các thời kỳ đã được trình bày có hệ thống Cùng với đó, các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội được đề cập khá đầy đủ và chi tiết Đây là những tư liệu quan trọng giúp chúng tôi trong quá trình thực hiện một số nội dung của luận án

Các công trình nghiên cứu về kinh tế Việt Nam đã phản ánh bức tranh kinh tế nước ta dưới triều Nguyễn trên nhiều phương diện Đây là nền tảng giúp chúng tôi có được góc nhìn tổng quan về kinh tế Việt Nam nói chung, kinh tế Nghệ An nói riêng qua nhiều giai đoạn lịch sử Từ đó, đối sánh với kinh tế huyện Nam Đàn trong phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài

Những công trình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp dưới triều Nguyễn, đặc biệt là thời kỳ 1802 - 1884 đã đi sâu phản ánh đặc điểm của các ngành, nghề trong cơ cấu kinh tế Việt Nam Thông qua hệ thống tư liệu gồm các ấn phẩm là sách, bài viết trên các tạp chí, niên giám thống kê, đã tập trung phân tích được những nhân tố tác động đến sự chuyển biến về kinh tế và một số thành tựu, hạn chế chủ yếu trong giai đoạn lịch sử này Những kết quả nghiên cứu trên giúp chúng tôi có được những tư liệu tổng quan, từ đó so sánh, đối chiếu, rút ra những đặc điểm của kinh tế huyện Nam Đàn trong mối tương quan với kinh tế Việt Nam qua các thời kỳ Quan trọng hơn, một số tác phẩm đã đề cập trực tiếp đến các phương diện

cụ thể của kinh tế tỉnh Nghệ An trong thế kỷ XIX như: Tình hình nông nghiệp với các đặc trưng về mùa vụ, giống, cây trồng, vật nuôi; Chính sách nông nghiệp của nhà

Trang 31

nước; Phương thức, dụng cụ, công cụ canh tác; Thủ công nghiệp với các nghề, làng nghề thủ công truyền thống; Thương nghiệp với hoạt động mua bán, trao đổi ở trấn/tỉnh Nghệ An dưới triều Nguyễn, đã giúp cho chúng tôi có được những tư liệu quý giá khi nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu về huyện Nam Đàn đã tập trung nghiên cứu lịch sử vùng đất, điều kiện tự nhiên, tình hình chính trị - xã hội, văn hóa và nghề nghiệp của

cư dân ở vùng đất thuộc hạ lưu sông Lam Kinh tế huyện Nam Đàn với một số nghề nghiệp của cư dân trong làng xã đã được đề cập đến nhưng còn mang tính sơ lược Đây là nền tảng cơ bản để nghiên cứu về kinh tế huyện Nam Đàn trong giai đoạn tiếp theo từ năm 1802 đến năm 1884 mà luận án tập trung giải quyết

Các công trình nghiên cứu liên quan đến tỉnh Nghệ An, huyện Nam Đàn là những tư liệu làm nền tảng để chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu, chọn lọc, tổng hợp, phân tích, đánh giá dưới góc độ sử học, làm tiền đề giải quyết những mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đã đề ra

1.4 Những vấn đề cần giải quyết của luận án

Trong nội dung luận án, chúng tôi tập trung đi sâu nghiên cứu nhằm làm rõ những vấn đề sau:

- Những nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế huyện Nam Đàn thời kỳ 1802 - 1884 Khái quát về tình hình kinh tế Nam Đàn trước năm 1802 để có cái nhìn hệ thống, toàn diện theo lịch đại thực trạng kinh tế Nam Đàn

- Phục dựng lại bức tranh toàn cảnh về kinh tế huyện Nam Đàn Đàn thời kỳ

1802 - 1884, trên các phương diện: Nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp trong mối tương quan so sánh, đối chiếu với tình hình kinh tế của các địa phương thuộc trấn/tỉnh Nghệ An và một số tỉnh ở Bắc Trung Bộ, Bắc Bộ ở thế kỷ XIX

- Nhận xét và đánh giá kinh tế Nam Đàn, làm rõ những ảnh hưởng của kinh tế đối với đời sống chính trị, xã hội và văn hóa của các tầng lớp, giai cấp trong làng xã ở vùng hạ lưu sông Lam mà phạm vi nghiên cứu đã xác định

Trang 32

Chương 2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ HUYỆN NAM ĐÀN

2.1 Quá trình hình thành

Huyện Nam Đàn nằm ở hạ lưu sông Lam, xưa là trung tâm của bộ Việt Thường thuộc nước Văn Lang Trong suốt chiều dài lịch sử các triều đại phong kiến ở Việt Nam, huyện Nam Đàn có nhiều sự thay đổi về diên cách địa lý, địa danh các đơn vị hành chính cho phù hợp với quản lý hành chính của nhà nước Nhà Nguyễn trong thời

kỳ độc lập (1802 - 1884) từng bước xác lập vai trò quản lý của vương triều về mặt hành chính đối với cư dân nước Việt Nam bằng việc tiến hành các cuộc cải cách lớn, trong bối cảnh đó tỉnh Nghệ An nói chung, huyện Nam Đàn nói riêng có những thay đổi quan trọng về mặt địa lý

Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh

trở ra) [215] của Viện Nghiên cứu Hàn Nôm (1981), đầu thế kỷ XIX huyện Nam

Đường gồm: 8 tổng, 90 xã, thôn, phường, trại, sách, giáp, vạn Trong đó, tổng Non Liễu có 20 xã, thôn, giáp; tổng Lâm Thịnh có 15 xã, thôn, phường, giáp; tổng Đại Đồng có 6 xã, thôn, giáp; Tổng Hoa Lâm có 5 xã, thôn; Tổng Đô Lương có 24 xã, thôn, giáp; Tổng Thuần Trung có 6 xã, thôn; Tổng Bạch hà có 5 xã; Tổng Lãng Điền

có 9 xã, vạn, sách, thôn [215, Tr.134 ]

Căn cứ vào sách Thanh Chương huyện chí, do dịch giả Nguyễn Thị Thảo dịch,

Nguyễn Phương Thoan hiệu đính, từ nguyên bản viết tay bằng chữ Hán gồm 38 trang khổ 29 x 16 lưu trữ ở Thư viện Viện Hán Nôm - Ký hiệu A97 BIS, in trong sách:

Thanh Chương đất và người, trang 38 cho biết: “Năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), vâng lệnh triều đình đã tách tổng Đặng Sơn gồm 23 xã, thôn, phường để hợp với các tổng Lãng Điền, Đô Lương, Thuần Trung, Bạch Hà của huyện Nam Đường để lập huyện Lương Sơn như hiện nay, gồm 5 tổng” [131, tr.38 - 42]

Như vậy, từ cuối thế kỷ XVIII cho đến đầu thế kỷ XIX, không gian địa giới hành chính của huyện Nam Đường chạy dọc theo bờ tả sông Lam, suốt từ làng Hữu Biệt (Nam Giang ngày nay), lên tận Đô Lương và một phần đất huyện Anh Sơn ngày nay Đến năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), toàn bộ 44 xã, thôn, trang, phường, giáp,

Trang 33

thuộc 4 tổng: Lãng Điền, Đô Lương, Thuần Trung, Bạch Hà của huyện Nam Đường

đã cắt nhập về huyện Lương Sơn Sau đợt chia cắt sáp nhập này, huyện Nam Đường chỉ còn lại 4 tổng với 45 làng, xã, thôn, trang, phường, giáp, sở, vạn gồm: Tổng Non Liễu có 20 xã, thôn, giáp; Tổng Lâm Thịnh có 15 xã, thôn, phường, giáp; Tổng Đại Đồng có 6 xã, thôn, giáp; Tổng Hoa Lâm có 5 xã, thôn

Theo Quốc sử quán triều Nguyễn trong Đại Nam nhất thống chí, có ghi “Huyện

Nam Đường: đời Đông Ngô là huyện Đô Giao; đời Đường là đất Hoan Châu; đời Tiền

Lê là châu Hoan Đường; thời thuộc Minh là châu Thạch Đường, các huyện Kệ Giang

và Sa Nam đều là đất này; đầu đời Lê đổi tên hiện nay; bản triều vẫn theo như thế, năm Gia Long thứ 12 đổi do phủ kiêm lý Nay lãnh 4 tổng, 45 xã thôn” [154, tr.139]

Đối chiếu với một số nguồn tư liệu khác, số tổng và các đơn vị hành chính làng,

xã, thôn, trang, phường, vạn, trang, sách ở huyện Nam Đường từ năm Minh Mệnh thứ

20 (1839) đến năm 1886, không có nhiều thay đổi Như vậy, không gian địa giới hành chính của huyện Nam Đường từ năm 1839 đến trước khi đổi tên thành huyện Nam Đàn vì kỵ huý tên vua Đồng Khánh (1886) hoàn toàn nằm dọc theo bờ Tả ngạn sông Lam, tương ứng với các xã, thị hiện tại của huyện Nam Đàn ngày nay

Căn cứ theo phạm vi không gian nghiên cứu của đề tài, vị trí huyện Nam Đàn

mà chúng tôi khảo sát, nghiên cứu còn có tổng Nam Hoa (Nam Kim) và một số làng

xã thuộc tổng Bích Triều thuộc huyện Thanh Chương Để làm sáng rõ, chúng tôi lấy hai tài liệu dưới đây để so sánh, đối chiếu về các làng xã, thôn, trang, phường, giáp sở thuộc tổng Bích Triều và tổng Nam Hoa (Nam Kim) vốn thuộc huyện Thanh Chương, chuyển về huyện Nam Đàn Cụ thể:

Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh

trở ra) [215] đầu thế kỷ XIX, huyện Thanh Chương thuộc phủ Đức Quang Huyện

Thanh Chương có 6 tổng, 105 xã, thôn, trang, sách, giáp, sở, vạn, nậu Trong 19 xã, thôn, vạn, sở thuộc tổng Bích Triều có xã Bích Triều (thôn Triều, thôn Bàng Thị, thôn Cẩm Nang), xã Lâm Triều (thôn Phù Lập, giáp Hà Xá, giáp Phi Nha, giáp Thái Bình),

xã Văn Điền (thôn Điền Lao, thôn Thu Cẩm), các làng, xã, giáp này, ngày nay thuộc các xã Thanh Giang, Thanh Xuân, Thanh Lâm thuộc huyện Thanh Chương, không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 34

Các xã, thôn, sở, vạn, thuộc tổng Bích Triều gồm: Vũ Nguyên, Chi Cơ, Lương Trường (thôn Trường, thôn Phú Thọ, thôn Vạn Lộc, thôn Đặng Xá, thôn Ngũ Nhược, vạn Võng Nhi Cây Trà, thôn Cây Trà, thôn Lương Giai, sở Lương Trường, Tàm Tang), nằm trong giới hạn không gian nghiên cứu của đề tài Các xã, thôn, sở, vạn này sau khi cắt chuyển về Nam Đàn (1911) thuộc địa bàn các xã Nam Thượng, Nam Tân, Nam Lộc, đến tháng 6 năm 2020, nhập thành xã Thượng Tân Lộc, nằm ở hữu ngạn sông Lam, dưới chân núi Thiên Nhẫn [215, tr.99 - 100], [78, tr.485 - 487]

Tổng Nam Hoa có 21 xã, thôn, sở: Nam Hoa Thượng (thôn Hoành Sơn, thôn Dương Liễu), Nam Hoa Tứ, Xuân Hoa (thôn Đông Đồn, thôn Trung Hội, thôn Tứ Trành), Tiên Hoa (thôn Xuân Mĩ, thôn Thiên Lộc, thôn Khánh Lộc, thôn Bạch Sơn), Xuân Phúc, Trung Cần, Nam Hoa Đông (thôn Đông Viên, thôn Hoàng Cung, thôn Dương Phổ Đông, thôn Vạn Thọ, thôn Quần Xá, thôn Dương Phố Tứ), sở Nam Hoa, sở Hạ Phú, sở Xuân Lôi [213], [78] Toàn bộ các thôn, làng, xã, sở, thuộc tổng Nam Hoa (huyện Thanh Chương) ở thế kỷ XIX đều nằm ở phía hữu ngạn sông Lam, dưới chân núi Thiên Nhẫn, chúng tôi xác định trong phạm vi không gian nghiên cứu của đề tài

Trong Thanh Chương huyện chí, cho biết thêm: “Trú sở (huyện lỵ) huyện ở phía

trên bến đò, xứ đất công (công thổ), thuộc địa phận xã Lương Trường, tổng Bích Triều Nay phía sau bên trái là núi Thiên Nhẫn, phía trước bên phải là sông Lam, gần đó có chợ Lương Trường và xa ra phía ngoài là trường huyện, bao quanh là dân

cư Thanh Trai thưa thớt” [131, tr.37] Ngoài ra, Thanh Chương huyện chí, còn cho

biết cụ thể: đến cuối đời vua Thiệu Trị, đầu đời vua Tự Đức, huyện Thanh Chương có

5 tổng là: Bích Triều, Nam Kim (còn gọi là Nam Hoa), Cát Ngạn, Võ Liệt, Thổ Hào Toàn huyện có 86 xã, thôn, phường trại Tổng Bích Triều gồm có 19 xã thôn, trong đó:

Xã Lương Trường (thôn Khoa Trường, thôn Phú Thọ, thôn Đặng Xá, thôn Vạn Lộc), thôn Vũ Nguyên, thôn Chi Cơ, thôn Tàm Tang, thôn Ngũ Phúc, Vạn chài Thanh Trai (xưa gọi là vạn Cây Trai, năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) đổi thành Vạn Thanh Trai, gồm: thôn Thanh Trai, thôn Lương Giai) Các thôn này chuyển về Nam Đàn, thuộc giới hạn nghiên cứu của đề tài (tương ứng với phần đất xã Nam Tân, Nam Lộc, Nam Thượng, từ tháng 6/2020 nhập thành xã Thượng Tân Lộc)

Trang 35

Tổng Nam Kim (nguyên gọi là tổng Nam Hoa, năm đầu Thiệu Trị (1841) vâng mệnh đổi thành Nam Kim), tổng này gồm 22 xã thôn khi chuyển về huyện Nam Đàn tương ứng với phần địa giới hành chính các xã: Khánh Sơn, Nam Kim, Nam Phúc, Nam Cường, Nam Trung của huyện Nam Đàn Đến tháng 6 năm 2020, sáp nhập 3 xã Nam Phúc, Nam Trung, Nam Cường thành lập xã Trung Phúc Cường [78, tr.282 - 283]

Theo Danh sách xã thôn Trung Kỳ tài liệu lưu ở thư viện Huế được hai nhà

nghiên cứu Ninh Viết Giao và Trần Thanh Tâm xác định được soạn vào cuối đời vua Duy Tân sang đời vua Đồng Khánh, theo danh sách này địa giới Nam Đàn gồm 4 tổng: Tổng Xuân Liễu: 15 xã thôn; tổng Lâm Thịnh: 30 xã thôn; tổng Xuân Khoa: 16 xã thôn và tổng Nam Kim: 16 xã thôn

Căn cứ phạm vi không gian nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đi đến xác định các đơn vị hành chính ở địa phương thuộc huyện Nam Đàn làm đối tượng nghiên cứu gồm các tổng, xã, thôn, phường, giáp, vạn như sau:

Tổng Hoa Lâm gồm 2 xã, thôn: xã Đông Liệt, thôn Đồng Điên

Tổng Non Liễu gồm 20 xã, thôn, giáp: xã Nghĩa Động, xã Thanh Tuyền, xã Vân

Đồn, xã Hương Lãm (thôn Khả Lãm, thôn Đông, thôn Nam, thôn Tạo Lễ), xã Hồng Nhiễm, xã Thịnh Lạc (thôn Trung Lâm, thôn Nhân Hậu, giáp Đồng Nhân, thôn Xuân Lâm, Giáp Hạ), thôn An Lạc, thôn Thượng Hồng, xã Chung Tháp, xã Gia Lạc, xã Yên Lạc, xã Nộn Hồ, xã Nộn Liễu

Tổng Lâm Thịnh gồm 15 xã, thôn, giáp, vạn: xã Lâm Thịnh, xã Chung Mỹ, xã

Chung Cự (giáp Kính Kị, giáp Khoa Cử, thôn Hoàng Trù, thôn Vân Hội, phường Tiểu

Ca, thôn Kim Liên, giáp Tính, thôn Ngọc Đình), xã Duyên La, xã Tràng Cát, xã Hữu Biệt, xã Gia Lạc, vạn thủy cơ Duyên La (làng vạn chài trên sông)

Tổng Bích Triều gồm 11 xã, thôn, vạn, sở: thôn Chi Cơ, xã Võ Nguyên, vạn Võng

Nhi Cây Trà, thôn Cây Trà, thôn Lương Giai, sở Lương Trường Tàm Tang, xã Lương Trường (thôn Trường, thôn Phú Thọ, thôn Vạn Lộc, thôn Đặng Xá), thôn Ngũ Nhược

Tổng Nam Kim gồm 16 xã, thôn: xã Tiên Hoa (thôn Khánh Lộc, thôn Xuân Mỹ,

thôn Thiên Lộc), xã Xuân Hoa (thôn Đông Đồn, thôn Trung Hội, thôn Tứ Trành), xã Nam Hoa Thượng (thôn Hoành Sơn, thôn Dương Liễu), xã Trung Cần, xã Nam Hoa

Trang 36

Tứ, xã Xuân Phúc, xã Nam Hoa Đông (thôn Đông Viên, thôn Quần Xá, thôn Vạn Thọ, thôn Dương Phổ Tứ, thôn Dương Phổ Đông)

Tổng Phù Long huyện Hưng Nguyên gồm 1 thôn: Thôn Đông Châu (nay thuộc

xã Nam Cường)

Từ những trình bày trên cho thấy, phạm vi không gian địa giới hành chính mà

đề tài nghiên cứu xác định thuộc địa bàn huyện Nam Đàn và huyện Thanh Chương trong thế kỷ XIX (1802 - 1884) gồm 6 tổng, 65 xã, thôn, làng, trang, phường, vạn, sách, thuộc địa giới hành chính huyện Nam Đàn từ năm 1911 Dĩ nhiên, từ năm 1911 đến năm 2020, tên gọi, địa giới hành chính các làng xã, thuộc huyện Nam Đàn có nhiều lần thay đổi, nhưng ranh giới tự nhiên giữa huyện Nam Đàn với huyện Thanh Chương ở phía Tây và Tây Nam, huyện Đô Lương ở phía Tây Bắc, huyện Nghi Lộc ở phía Bắc, huyện Hưng Nguyên ở phía Đông và Đông Nam, huyện Đức Thọ ở phía Nam đều ổn định Địa giới hành chính đó tương xứng với vị trị địa lý huyện Nam Đàn

mà chúng tôi trình bày ở trên [78]

2.2 Điều kiện tự nhiên

2.2.1 Vị trí địa lý

Huyện Nam Đàn ngày nay nằm ở hạ lưu sông Lam, có vị trí địa lý kéo dài từ

18034′ đến 18047′ vĩ độ Bắc và trải rộng từ 105024′ đến 1050 37′ kinh độ Đông Phía Đông giáp huyện Hưng Nguyên, phía Đông Bắc giáp huyện Nghi Lộc, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Thanh Chương, phía Tây Bắc giáp huyện Đô Lương, phía Nam giáp huyện Hương Sơn và huyện Đức Thọ thuộc tỉnh Hà Tĩnh Diện tích tự nhiên 294,3 km², phần lớn nằm ở tả ngạn sông Lam và một phần ở hữu ngạn sông Lam, trong đó 48% đất nông nghiệp, còn lại là đất lâm nghiệp và đồi núi [206, tr.6]

2.2.2 Địa hình, đất đai

Huyện Nam Đàn nằm ở hạ lưu sông Lam, có địa hình nửa đồng bằng nửa đồi núi, diện tích đồng bằng nhỏ hẹp, phân bố rải rác hầu khắp các làng xã, thường bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông ngòi, ao hồ Các kiến trúc tân kiến tạo trong quá trình phát triển địa chất lâu dài đã tạo nên lãnh thổ của huyện có hướng nghiêng từ phương Tây Bắc xuống Đông Nam với dạng địa hình có hình thái thay đổi từ Tây sang Đông, trong đó: trung du đồi núi tập trung ở phía Tây, phía Tây Bắc còn đồng bằng chủ yếu ở phía Đông và phía Nam Tuy nhiên, ở một số làng như: Kim Liên, Chung

Trang 37

Cự, Hữu Biệt, Yên Lạc, Đa Lạc, Hùng Nhẫn vẫn có nhiều đồi núi xen lẫn giữa vùng đồng bằng như Chung sơn, Tán sơn, Nhuệ sơn và cả một phần dãy Đại Huệ

Theo nghiên cứu của Hippolyte Le Breton trong sách An Tĩnh Cổ Lục ghi rằng:

Lịch sử cấu tạo về địa chất, mặt địa chất gần đây của “thung lũng sông Lam” lại càng làm cho chúng ta hiểu thêm về thời kỳ xa xưa của thung lũng này Vào thời đệ tứ kỷ, biển ăn sâu vào tận chân các ngọn núi cuối cùng của dãy núi lớn lúc đó nước sông Lam bao phủ mênh mông cả bốn “xứ” Tiếp đến một thời kỳ lục địa nổi lên Sau lúc

xảy ra hiện tượng đó, xuất hiện các bãi bồi, dấu vết của “lòng sông đầy”, ngày nay đã

biến thành ruộng lúa, và sông Lam đã đổi dòng về phía dưới Hệ thống thủy đạo bị giải thể, nhưng các dấu tích của lòng sông cạn cũ của sông Lam ngày nay còn biểu hiện bởi

các “lòng sông chết” đã biến thành ao hồ Trong tất cả các lòng sông chết ấy, đáng

chú ý hơn cả là “Xuân Hồ” (hồ của mùa xuân” (Hình CXXII ở trên), một trong những làng ven sông ngày nay vẫn còn mang tên ấy: Xuân Liễu [99, tr.152 - 153]

Vùng phía Tây và Tây Bắc, chủ yếu là địa hình bán sơn địa, rừng núi xen lẫn với các thung lũng đồng bằng Núi đồi ở vùng này hầu hết có độ dốc lớn, từ 350 - 400

và bị xói mòn nặng, nền đất bị rửa trôi chỉ còn lại sỏi đá nên thảm thực vật ở đây chỉ

có loại cây bụi nhỏ và rất ít động vật Khoáng sản tuy có các loại như: sắt, đồng, măng gan song trữ lượng và chất lượng thấp, giá trị công nghiệp không cao Trong diện tích bán sơn địa, phần đất chiếm tỷ lệ không nhiều, bị phủ dày sỏi đá, nghèo chất mùn

và chất hữu cơ, thung lũng đồng bằng vì gián tiếp với đồi núi nên bị chia cắt nhỏ, tỷ lệ đất sét cao Quá trình đá ong hoá diễn ra từ hàng vạn năm trước tạo nên những mỏ đá ong thuộc địa bàn các làng xã như: Đông Liệt, Ngọc Trừng, Trang Đen, Trang Ri, Thanh Thuỷ Nổi tiếng nhất là mỏ đá ong làng Kiền (Thanh Thuỷ nay thuộc xã Nam Thanh, dưới triều Minh Mệnh từ năm 1830 - 1832, đã cung cấp hàng vạn tảng đá ong làm nguyên liệu chủ yếu để xây dựng thành Nghệ An [97]

Vùng phía Đông và Đông Nam, nằm ở hạ lưu sông Lam nên đất đai khá màu

mỡ Phía tả ngạn và hữu ngạn sông Lam chủ yếu là đất bãi bồi, hình thành bởi phù sa sông Lam, nên thổ nhưỡng ở đây chủ yếu là cát pha đất sét, hàm lượng mùn khá cao, thích nghi với nhiều loại cây trồng, nhất là lúa, ngô, lạc, đậu So với vùng tả ngạn, phía hữu ngạn sông Lam có địa hình thấp hơn nên khu vực này thường xuyên bị ngập úng về mùa mưa lũ khiến sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn

Trang 38

Đặc thù về địa hình đất đai huyện Nam Đàn được chia thành 2 nhóm: đất phù sa

do sông Lam bồi đắp, đất sét và đất Feralit

Nhóm đất do phù sa bồi đắp và đất sét: Đây là nhóm đất có ý nghĩa quan trọng chiếm khoảng 40% diện tích trong thổ nhưỡng ở Nam Đàn, gồm có ba nhóm nhỏ là: đất phù sa, đất nâu vàng và đất lúa ở vùng đồi núi, trong đó đáng kể nhất là đất phù sa Các cánh đồng ở Xuân Hồ, Xuân Liễu, Chung Tháp, Đa Lạc, Yên Lạc, Hữu Biệt, Kim Liên, Hồng Nhiễm, Tự Trì… thuộc nhóm đất phù sa bồi đắp, đất sét, rất thích hợp cho việc canh tác lúa mùa và màu

Nhóm đất Feralit: chiếm khoảng 60% trong diện tích thổ nhưỡng, đất này tập trung ở các làng, xã như: Ngọc Trừng, Đông Liệt, Trang Đen, Trang Ri, Diên Lãm, Khả Lãm, Xuân Hồ, Xuân Liễu, Thanh Thuỷ, Diên Lãm… tóm lại là các xã có diện tích đất phân bố dọc các sườn đồi núi Nó có các nhóm nhỏ: như đất feralit đỏ vàng, đất xói mòn trơ sỏi đá, đất màu vàng trên núi… những loại đất này thích hợp với trồng cây ăn quả, cây chè, cây sắn [78, tr.28]

Với địa hình, đất đai gồm hai nhóm đất để trồng lúa, các loại cây lương thực, khai thác thủy sản, trồng cây ăn quả, sắn, chè cư dân Nam Đàn dưới triều Nguyễn thời kỳ 1802 - 1884, nối đời kế tục trong lao động sản xuất, phát huy các giá trị văn hóa mà cha ông đã để lại từ ngàn xưa

Liên quan đến địa hình đất đai ở một số làng xã thuộc tổng Bích Triều và toàn

bộ các thôn, trang, phường, giáp, vạn thuộc tổng Nam Kim nằm dưới chân núi phía Bắc dãy Thiên Nhẫn ngoảnh mặt ra sông Lam Đất đai ở đây bao gồm đất phù sa do sông Lam bồi tụ, những hồ (bàu) ngập nước quanh năm và phần đất đai feralit phân bố dọc theo dãy Thiên Nhẫn Có thể nói các cánh đồng ở Phúc Trung Cường, Thượng Tân Lộc, Khánh Sơn, Nam Kim (ngày nay) phần lớn là đất phù sa của sông Lam Từ nhiều thế kỷ trước, các thế hệ cư dân ở Nam Đường đã khai thác vùng đất phù sa dọc

bờ hữu sông Lam (từ làng Chi Cơ, Tàm Tang, Phú Thọ đến làng Hoành Sơn, Trung Cần ) để trồng dâu nuôi tằm, dệt vải, hay trồng lúa và các loại hoa màu khác Tuy nhiên, thành quả lao động mà cư dân làng xã ở bờ hữu sông Lam thuộc địa giới hành chính huyện Nam Đàn mà chúng tôi nghiên cứu có thể bị lũ lụt cuốn trôi bất cứ lúc nào vì chính sách không đắp đê ngăn lũ từ thời Lê sơ đến thời nhà Nguyễn

Riêng phần đất dọc theo sườn dãy Thiên Nhẫn được cư dân làng xã Nam Kim, Hoành Sơn, Vạn Lộc, Khoa Trường, Chi Cơ… cư dân dùng đá núi chèn ghép thành các bậc theo hình vòng cung để trồng chè, chanh, cam, ngô, khoai, kê

Trang 39

Do ảnh hưởng của yếu tố địa hình, sự thay đổi dòng chảy liên tục của sông Lam trong nhiều thế kỷ trước, các biến cố về địa chất, cùng quá trình khai hoang, đắp đê của cư dân bản địa, tạo nên đặc điểm dễ nhận thấy của đồng ruộng Nam Đàn là: ruộng đồng canh tác chỗ thấp, chỗ cao; có nơi đất đai bằng phẳng màu mỡ, cũng có nơi chật hẹp bị chia cắt bởi các gò, đồi Khắp vùng đồng bằng thuộc địa bàn huyện Nam Đàn không có những cánh đồng thẳng cánh cò bay, trên cùng một cánh đồng cư dân làng

xã có thể canh tác nhiều loại hoa màu khác nhau, có rất ít diện tích ruộng chuyên canh trồng duy nhất một loại hoa màu, cho nên nông sản thu hoạch được của nông dân trong làng xã dù không đạt năng suất cao, nhưng sản phẩm rất đa dạng, phong phú đáp ứng các nhu cầu trong đời sống của cư dân trong địa bàn

Như vậy, khác với các huyện giáp ranh như Hưng Nguyên ở phía Đông, Đức Thọ ở phía Nam, Nghi Lộc, Diễn Châu ở phía Bắc là những vùng có diện tích đồng bằng với xứ đồng rộng lớn, ruộng đất của đồng bằng ở huyện Nam Đàn ngoài diện tích của các xứ đồng canh tác lúa nước còn xen lẫn nhiều đầm, đìa, ao, hồ, các vùng gò đồi, bán sơn địa với các đặc điểm khác nhau về độ cao, khả năng canh tác, chất đất

Khái quát về địa hình, đất đai ở huyện Nam Đàn Lịch triều hiến chương loại

chí, phần Dư địa chí (Quyển 2 nói về sự khác nhau về phong thổ các đạo), sử gia Phan

Huy Chú nhắc đến địa danh huyện Nam Đường (Nam Đàn) thuộc phủ Anh Đô ở về miền thượng du, tiếp giáp với huyện Thanh Chương Huyện Hưng Nguyên đất ở miền dưới, phía Nam giáp huyện Thiên Lộc [20, tr.82] Huyện Nam Đường (Nam Đàn) được ông ca ngợi là đất “Cổ tích, thần thiêng” với Miếu Tam Tòa, đền Hắc Đế, cửa ải Khả Lưu, núi Hồ Cương đều là di tích của các triều đại trước đó, về phong cảnh có núi Hải Thủy, Sài Sơn, Am Sơn, Viện Sơn cảnh trí thanh u tao nhã, là đất đáng xem thời bấy giờ Đặc biệt, ở cụm Nam Kim (Nam Hoa) bên hữu ngạn sông Lam và dưới chân núi Thiên Nhẫn, bốn làng gồm Đông Sơn, Hoành Sơn, Dương Liễu, Trung Cần đều có đình làng được ghi vào thư tịch cổ, đây là những công trình có giá trị kiến trúc, nghệ thuật tinh xảo, chứng minh cho bề dày phát triển về văn hóa, thẩm mỹ, vật chất và tinh thần của cư dân vùng lưu vực sông Lam nói chung, huyện Nam Đàn nói riêng

2.2.3 Khí hậu

Là một huyện của tỉnh Nghệ An, Nam Đàn nằm chung trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của nhiều hệ thống thời tiết Theo thống kê hàng năm,

Trang 40

tổng bức xạ nhiệt ở Nam Đàn là 138,4 kcal/cm²/năm, cán cân bức xạ là 87,3 kcal/cm²/năm, số giờ nắng trung bình năm là 1637 giờ, chế độ nhiệt trung bình năm là 23,9°C Khí hậu huyện Nam Đàn được chia thành hai mùa rõ rệt:

Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng 10 dương lịch, mùa này nhiệt độ trung bình là 25°C, thời điểm nóng nhất là tháng 7 Đây cũng là thời gian gió phơn Tây Nam (còn gọi là gió Lào) từ vịnh Băng Gan vượt Trường Sơn mang theo khí nóng, khô làm cho nhiệt độ nắng nóng lên tới hơn 40°C Mùa nóng thường có hạn hán,

có những năm hạn hán kéo dài ba tháng, thậm chí có năm kéo dài sáu đến bảy tháng liền Trong những ngày hè, gió Lào thổi mạnh cả ngày lẫn đêm khiến cho cỏ cây khô héo, ruộng đồng nứt nẻ, sau mỗi đợt như vậy thường 5 đến 10 ngày… lại có những trận giông đột ngột làm hạ nền nhiệt, dịu sức nóng, nước chảy lênh láng lại làm bào mòn đi mùn đất, mùn lá do sức gió trước đó cày lên khiến cho đất đai thêm cằn cỗi, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp [78, tr.25 - 26]

Hàng năm, thường từ tháng 7 đến tháng 9 ở Nghệ An hay có bão, với vị trí được xem là đất trung tâm xứ Nghệ, Nam Đàn thường chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những cơn bão Bão thường có cường độ mạnh, một năm có một đến hai cơn, có những năm ba đến bốn cơn nối tiếp nhau, kèm với bão là lũ lụt làm cho nước sông Lam dâng tràn mênh mông, làm ngập úng hoa màu, vỡ đê kè cuốn phăng nhiều xóm làng, nhà cửa Một số làng xã ở vùng hữu ngạn thuộc tổng Nam Hoa (Nam Kim) cũ như làng: Dương Liễu, Hoành Sơn, Trung Cần… hay ở Thịnh Lạc (xã Hùng Tiến), Xuân La (xã Xuân Lâm) ở vùng tả ngạn sông Lam thường phải đối mặt với nhiều nguy

cơ của lũ lụt bất thường Vào mùa hè, nhiều khi đang giữa tiết khí khô hạn, lốc xoáy kèm theo mưa đá lại đột ngột nổi lên làm tung bay nhà cửa, tan nát cả vật dụng và hoa màu gây nhiều khó khăn cho cư dân bản địa [78, tr.26]

Mùa lạnh ở Nam Đàn nói riêng, toàn xứ Nghệ nói chung, thường đến muộn hơn

so với vùng khác với thời gian kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 dương lịch năm sau Vào giữa chu kỳ của mùa lạnh, nhiệt độ trung bình từ 18 - 20°C, ngày thấp nhất khoảng 6°C Trong những tháng mùa đông, trời thường nhiều mây và sương mù bởi gió mùa Đông Bắc (do áp suất thấp ở vùng Xi-bê-ri) tràn qua Thái Bình Dương mang theo nhiều hơi nước khi vào địa phận huyện Nam Đàn bị chặn bởi các đỉnh núi thuộc dãy Đại Huệ, Hùng Sơn, Thiên Nhẫn, điều này làm xuất hiện thêm hiện tượng

Ngày đăng: 16/05/2023, 15:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
21. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
22. Lê Hiến Chương (2013), Kinh tế, văn hóa huyện La Sơn (tỉnh Hà Tĩnh) nửa đầu thế kỷ XIX, luận án Tiến sĩ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế, văn hóa huyện La Sơn (tỉnh Hà Tĩnh) nửa đầu thế kỷ XIX
Tác giả: Lê Hiến Chương
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2013
23. Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc (Cb, 1993), Kinh nghiệm tổ chức, quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm tổ chức, quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1993
24. Phan Đại Doãn (2001), Làng xã Việt Nam - một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam - một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
25. Phan Đại Doãn (2006), Làng Việt Nam: đa nguyên và chặt, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng Việt Nam: đa nguyên và chặt
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
27. Huỳnh Thị Dung (2011), Chợ Việt, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ Việt
Tác giả: Huỳnh Thị Dung
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2011
28. Cao Xuân Dục (2011), Quốc triều hương khoa lục, Nxb Lao động và Trung tâm Văn hóa - Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều hương khoa lục
Tác giả: Cao Xuân Dục
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2011
29. Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789) (1991), Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789)
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1991
30. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Hồng Long (2011), Lịch sử Đảng bộ xã Hồng Long, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Hồng Long
Tác giả: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Hồng Long
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2011
31. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Hùng Tiến (2012), Lịch sử Đảng bộ xã Hùng Tiến, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Hùng Tiến
Tác giả: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Hùng Tiến
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2012
32. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Kim Liên (2000), Lịch sử Đảng bộ xã Kim Liên, tập 1, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Kim Liên, tập 1
Tác giả: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Kim Liên
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2000
33. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Anh (2009), Lịch sử Đảng bộ xã Nam Anh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Nam Anh
Tác giả: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Anh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2009
34. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Cát (2008), Lịch sử Đảng bộ xã Nam Cát, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Nam Cát
Tác giả: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Cát
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2008
35. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Lĩnh (2006), Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nam Lĩnh (1930 - 2005), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nam Lĩnh (1930 - 2005)
Tác giả: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Lĩnh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2006
36. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Nghĩa (2007), Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nam Nghĩa, Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nam Nghĩa
Tác giả: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Nghĩa
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2007
37. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Thái (2011), Lịch sử Đảng bộ xã Nam Thái, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Nam Thái
Tác giả: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Thái
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2011
38. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Thanh (2003), Lịch sử Đảng bộ xã Nam Thanh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Nam Thanh
Tác giả: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Thanh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2003
39. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Xuân (2010), Lịch sử Đảng bộ xã Nam Xuân, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Nam Xuân
Tác giả: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã Nam Xuân
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2010
40. Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Thị trấn Nam Đàn (2005), Lịch sử Đảng bộ và nhân dân thị trấn Nam Đàn (1930 - 2005), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân thị trấn Nam Đàn (1930 - 2005)
Tác giả: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Thị trấn Nam Đàn
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w