Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Môi trường em được phân công thực tập tại UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên với đề tài nghiên cứu: “Đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý rá
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TỈNH THÁI NGUYÊN NĂM 2016 - 2018
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên nghành : Khoa học Môi trường
Khóa học : 2014 – 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TỈNH THÁI NGUYÊN NĂM 2016 - 2018
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên nghành : Khoa học Môi trường
Khóa học : 2014 – 2018 Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Trần Văn Điền
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt chương trình đào tạo trong nhà trường với phương châm học đi đôi với hành, thời gian thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết đối với mỗi sinh viên trong các trường chuyên nghiệp, nhằm hệ thống lại toàn
bộ chương trình đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn Qua đó sinh viên khi ra trường sẽ hoàn thành về kiến thức, lý luận, năng lực công tác nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn và nghiên cứu khoa học
Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Môi trường em được phân công thực tập tại UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên với đề tài nghiên
cứu: “Đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại phường Hương Sơn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên năm 2016 - 2018”
Kết thúc thực tập, hoàn thành đề tài tốt nghiệp cũng là hoàn thành khóa học, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy giáo, Cô giáo đã truyền đạt kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộ tại UBND phường Hương Sơn đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian
thực tập Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo PGS.TS Trần Văn Điền đã nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành đề tài tốt nghiệp
này Mặc dù bản thân em có nhiều cố gắng xong do trình độ và thời gian có hạn, nên khóa luận của em không tránh khỏi những hạn chế và sai sót Em rất mong được sự đóng góp của các thầy, cô giáo, bạn bè động viên để khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Hương Liên
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Lượng rác thải sinh hoạt tại tỉnh Thái Nguyên 17
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2016 phường Hương Sơn 24
Bảng 4.2 Khối lượng chất thải sinh hoạt phát sinh của phường Hương Sơn 32
Bảng 4.3 Thành phần rác thải rắn của phường Hương Sơn 32
Bảng 4.5 Địa điểm tập kết rác thải của phường Hương Sơn 34
Bảng 4.6 Nhân lực trong công tác thu gom chất thải của
phường Hương Sơn 35
Bảng 4.7 Cơ sở vật chất trong công tác thu gom chất thải của phường Hương Sơn 36
Bảng 4.8: Mức độ đảm bảo vệ sinh môi trường của công tác thu gom rác 37
Bảng 4.9: Cách thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình 38
Bảng 4.10: Tiêu chí phân loại rác thải của hộ gia đình 39
Bảng 4.11: Biện pháp thu gom rác trước khi đổ thải 40
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Bản đồ phường Hương Sơn Thành phố Thái Nguyên 22
Hình 4.2 Thành phần rác thải phường Hương Sơn 33
Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện mức độ đảm bảo vệ sinh môi trường
của công tác thu gom rác 37
Hình 4.4 : Biểu đồ thể hiện cách thu gom và xử lý rác thải của các hộ gia đình 38
Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện tiêu chí phân loại rác thải hộ gia đình 39
Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện biện pháp thu gom rác
trước đổ thải của người dân 40
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1.MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Các khái niệm liên quan 4
2.2 Nguồn gốc, phân loại và thành phần chất thải 5
2.2.1 Nguồn gốc phát sinh chủ yếu chất thải 5
2.2.2 Phân loại chất thải rắn 6
2.2.3 Thành phần chất thải rắn 7
2.2.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn tới môi trường và sức khỏe của cộng đồng 8
2.3 Cơ sở pháp lý 9
2.4 Tình hình quản lý, xử lý rác thải trên thế giới và Việt Nam 10
2.4.1 Tình hình quản lý, xử lý rác thải trên thế giới 10
2.4.2 Tình hình rác thải tại Việt Nam 14
PHẦN 3.ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19 3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 19
3.1.1 Đối tượng 19
3.1.2 Phạm vi 19
3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 19
3.2.1 Địa điểm 19
3.2.2 Thời gian nghiên cứu: 19
3.3 Nội dung nghiên cứu 19
3.3.3 Một số tồn tại trong công tác quản lý rác thải trên địa bàn
phường Hương Sơn 20
Trang 73.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chất thải
trên địa bàn phường Hương Sơn 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1 Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu thứ cấp 20
3.4.2 Phương pháp phỏng vấn 20
3.4.3 Phương pháp cân rác 21
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 21
PHẦN 4.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội 22
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội phường Hương Sơn 26
4.2 Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn
phường Hương Sơn 30
4.2.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải trên địa bàn 30
4.2.2 Thực trạng công tác thu gom , vận chuyển, xử lý rác thải
tại địa bàn phường Hương Sơn 33
4.2.3 Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý,
xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường Hương Sơn 36
4.3 Một số tồn tại trong công tác quản lý rác thải trên địa bàn
phường Hương Sơn 41
4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chất thải trên địa bàn phường Hương Sơn 42
4.4.1 Giải pháp về chính sách 42
4.4.2 Giải pháp về kỹ thuật, công nghệ 42
4.4.3 Giải pháp về tuyên truyền giáo dục 43
4.4.4 Giải pháp đào tạo 44
PHẦN 5.5.1 Kết luận 45
5.2 Kiến nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 8ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những thành tựu khá to lớn trong những năm qua Những kết quả chủ yếu nhận thức chung của toàn xã hội về bảo vệ môi trường đã được nâng lên một bước từng người dân, từng thành phần kinh tế đã có ý thức hơn trong bảo vệ môi trường; việc ngăn chặn sự gia tăng ô nhiễm môi trường đạt kết quả khích lệ, cải thiện môi trường có những tiến
bộ nhất định các giúp môi trường trong lành hơn giảm bớt sự ô nhiễm trước đó; bên cạnh đó cũng đã hình thành tương đối đầy đủ hệ thống văn bản pháp luật cũng như hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về môi trường từ Trung ương đến địa phương và nâng cao vị thế của Việt Nam trong công tác bảo vệ môi trường ở khu vực và thế giới Để đạt được những thành tựu này Đảng và toàn dân ta đã phải bỏ ra rất nhiều kinh phí vật chất, của cải và sức lực Đứng trước các thách thức to lớn và yêu cầu bức xúc đối với công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững đất nước; công tác bảo vệ môi trường trong thời gian tới cần thiết phải có những chuyển biến to lớn cả về lượng và chất Để tiến tới thực hiện mục tiêu đó, một trong những giải pháp quan trọng và cơ bản đó là xã hội hoá bảo vệ môi trường Trong công tác bảo vệ môi trường đó phải nhắc tới một mảng rất quan trọng đó là việc thu gom, vận chuyển và chôn lấp rác thải Rác thải nói chung hay chất thải sinh hoạt hiện nay đang là một vấn đề rất cấp thiết được đặt ra Việc phát sinh rác thải ngày càng nhiều, công tác thu gom đạt tỷ lệ thấp, không xử lý hết vì một nguyên nhân là các bãi chôn lấp rác thải ngày càng bị quá tải Công việc thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt tại các làng, xã, thị trấn, thị tứ (địa bàn
Trang 9mà hệ thống các công ty môi trường đô thị chưa với tới, thu nhập và mức sống của người dân thấp, nhận thức và ý thức BVMT còn hạn chế, hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước còn ít) còn nhiều vấn đề bất cập, hạn chế Chính vì thế cần sớm
có các phương án thích hợp sao cho có hiệu quả trong công tác này Và mô hình
xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải đã được đưa ra Từ khi
mô hình này được đưa vào áp dụng đã đạt được những thành tựu khá cao và cần được áp dụng rộng rãi
Được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi
Trường, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Trần Văn Điền, tôi đã tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng công tác thu gom và xử lý rác thải
tại phường Hương Sơn ,thành phố Thái Nguyên,tỉnh Thái Nguyên năm 2016 -
2018’’
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội trong các năm gần đây của phường Hương Sơn
- Điều tra, đánh giá hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải trên địa bàn phường Hương Sơn
- Tìm hiểu các tồn tại trong công tác quản lý rác thải của phường
- Đề xuất các biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt hiệu quả hơn cho phường Hương Sơn
1.3 Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
- Đề tài sẽ là cầu nối giữa kiến thức học tập và thực tế, là cơ hội tiếp cận với thực tế để hiểu rõ hơn về bản chất vấn đề
- Đề tài là cơ sở để lựa chọn, áp dụng các biện pháp quản lý rác thải phù hợp mang lại hiệu quả cao
* Ý nghĩa trong thực tiễn:
- Biết được lượng rác thải phát sinh, tình hình thu gom, vận chuyển và xử
lý chất sinh hoạt trên địa bàn phường Hương Sơn để phục vụ cho công tác quản
Trang 10lý và từ đó đưa ra những biện pháp khả thi nhằm tăng cường lượng rác thải được thu gom, xử lý
- Biết được cách xác định, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp số liệu để ứng dụng trong xử lý rác thải trên địa bàn
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Các khái niệm liên quan
- Rác: Là thuật ngữ dùng để chỉ chất thải rắn hình dạng tương đối cố định,
bị vứt bỏ từ hoạt động của con người Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người [5]
- Chất thải: Là sản phẩm được sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao thông, sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông Chất thải là kim loại, hóa chất và từ các loại vật liệu khác [3]
- Chất thải rắn: Là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác
- Chất thải rắn sinh hoạt: Là chất thải ở trạng thái rắn phát sinh trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày của con người từ các khu dân cư, làng mạc, trường học… Chất thải sinh hoạt hay còn gọi là rác thải sinh hoạt cần được phân loại và có biện pháp tái sử dụng, tái chế, xử lý hợp lí để thu hồi năng lượng và bảo vệ môi trường [6]
- Tái chế chất thải: thực chất là người ta lấy lại những phần vật chất của sản phẩm hàng hóa cũ và sử dụng các nguyên liệu này để tạo ra những sản phẩm mới
- Tái sử dụng chất thải: thực chất có những sản phẩm hoặc nguyên liệu có quãng đời sử dụng kéo dài, người ta có thể sử dụng được nhiều lần mà không bị thay đổi hình dạng vật lý, tính chất hóa học
- Phế liệu: là sản phẩm, vật liệu bị loại trừ ra khỏi quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác
Trang 12- Quản lý rác thải sinh hoạt : là hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư, xây dựng cơ sở quản lý rác thải sinh hoạt thu gom, lưu trữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý rác thải sinh hoạt để giảm thiểu ô nhiễm môi trường
- Thu gom rác thải: là hoạt động tập hợp, phân loại, lưu giữ tạm thời rác thải tại nhiều điểm thu gom và cơ sở được cơ quan thẩm quyền chấp thuận
- Vận chuyển rác thải: là quá trình chuyên chở rác thải nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng
- Xử lý rác thải: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong rác thải, thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong rác thải
2.2 Nguồn gốc, phân loại và thành phần chất thải
2.2.1 Nguồn gốc phát sinh chủ yếu chất thải
Khối lượng rác thải sinh hoạt hiện nay ngày càng tăng do các tác động của
sự gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội mà nhu cầu sử dụng tiêu dùng trong các đô thị và các vùng nông thôn đã có những thay đổi Trong đó các nguồn phát sinh chất thải chủ yếu gồm:
- Từ các khu dân cư (một hộ, nhiều hộ…);
- Từ các khu công nghiệp (công nghiệp nhẹ, công nghiệp hóa học, công nghiệp năng lượng, vật liệu xây dựng,…);
- Từ nông nghiệp (Vỏ bao, chai thuốc BVTV,…);
- Từ các khu trống của đô thị (bến xe, công viên,…);
- Từ thương mại, dịch vụ (các cửa hàng, chợ, trung tâm thương mại,…);
- Từ các cơ quan, trường học;
- Từ các cơ sở y tế (rác thải của các bệnh nhân, nhân viên,…)
Qua đánh giá tìm hiểu về nguồn phát sinh chất thải giúp cho chúng ta có những hiểu biết nhất định để từ đó có thể ứng dụng được các biện pháp khoa học
kỹ thuật giúp giảm thiểu các tác động xấu của chất thải tới môi trường
Trang 132.2.2 Phân loại chất thải rắn
* Chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải sinh ra từ các hoạt động hàng ngày của con người Rác sinh hoạt thải ra ở mọi lúc, mọi nơi trong phạm vi thành phố hoặc khu dân cư, từ các hộ gia đình, khu thương mại, chợ và các tụ điểm buôn bán, nhà hàng, khách sạn, công viên, khu vui chơi giải trí, các viện nghiên cứu, trường học, các cơ quan nhà nước, Theo phương diện khoa học có thể phân biệt các loại chất thải rắn như sau:
- Chất thải thực phẩm bao gồm các loại thức ăn dư thừa, rau, quả được sinh ra trong khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ các gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các nhà hàng, khách sạn, bếp ăn tập thể của trường học bệnh viện, ký túc xá, chợ, Loại chất thải này mang bản chất dễ
bị phân huỷ sinh học, trong quá trình phân huỷ tạo ra mùi gây khó chịu, ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng ẩm
- Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và phân của các loại động vật khác
- Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga, cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu vực sinh hoạt của dân cư
- Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: Các vật chất còn lại trong quá trình đốt củi, than, rơm rạ, lá cây, ở các gia đình, công sở, nhà hàng, nhà máy, xí nghiệp,…
- Các chất thải rắn từ đường phố như lá cây, củi, nilon, vỏ bao gói
* Chất thải rắn công nghiệp
Chất thải rắn công nghiệp là chất thải rắn được phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp bao gồm:
- Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trong các nhà máy nhiệt điện
- Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất Các phế thải trong quá trình công nghệ sản xuất
- Bao bì đóng gói sản phẩm
Trang 14* Chất thải xây dựng
Chất thải xây dựng là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình, Chất thải xây dựng bao gồm:
- Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng
- Đất đá do việc đảo móng trong xây dựng
- Các vật liệu như kim loại, chất dẻo
* Chất thải từ nhà máy xử lý
Chất thải từ nhà máy xử lý là chất thải rắn từ hệ thống xử lý nước, nước thải, nhà máy xử lý chất thải công nghiệp
* Chất thải nông nghiệp
Chất thải nông nghiệp bao gồm các vật chất loại bỏ từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như gốc rơm rạ, cây trồng, chăn nuôi, bao bì đựng phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật
* Chất thải y tế nguy hại
Chất thải y tế nguy hại là chất thải có chứa các chất có chứa một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người Theo quy chế quản lý chất thải y tế, các loại chất thải y tế được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn trong các bệnh viện, trạm xá và các trạm y tế
Các nguồn phát sinh chất thải bệnh viện bao gồm:
- Các loại bông băng, gạc, nẹp, dùng trong khám bệnh, điều trị, phẫu thuật
- Các loại kim tiêm, ống tiêm
- Các chi thể cắt bỏ, tổ chức mô cắt bỏ
- Chất thải sinh hoạt từ các bệnh nhân
- Các chất thải có chứa các chất có nồng độ cao sau đây: chì, thuỷ ngân, cadimi, asen, cianua,
- Các chất thải phóng xạ trong bệnh viện
2.2.3 Thành phần chất thải rắn
Thành phần lý, hoá học của chất thải rắn rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng địa phương, vào các mùa khí hậu, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác
Trang 15Thông thường thành phần của chất thải rắn đô thị bao gồm các hợp phần sau: Chất thải thực phẩm, giấy, carton, chất dẻo, cao su, vai vụn, sản phẩm vườn, gỗ, thuỷ tinh, nhựa, kim loại, bụi, tro, gạch.[6]
2.2.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn tới môi trường và sức khỏe của cộng đồng
* Ảnh hưởng tới môi trường nước
Chất thải rắn, đặc biệt là chất thải hữu cơ sẽ dễ dàng bị phân hủy trong môi trường nước Tại các bãi rác nước rác sẽ được tách ra kết hợp với các nguồn nước khác như: nước mưa, nước ngầm, nước mặt hình thành nước rò rỉ Nước rò rỉ di chuyển trong bãi rác sẽ làm tăng khả năng phân hủy sinh học trong rác cũng như trong quá trình vận chuyển các chất gây ô nhiễm môi trường xung quanh Các chất gây ô nhiễm môi trường tiềm tàng có trong nước rác gồm có: COD, N-NH3, BOD5, TOC (Carbon hữu cơ tổng cộng),…và lượng lớn các vi sinh vật, ngoài ra còn có các kim loại nặng khác gây ảnh hưởng lớn tới môi trường nước nếu như không được xử lý.[6]
* Ảnh hưởng tới môi trường không khí
Các loại rác thải dễ phân hủy (như thực phẩm, trái cây, rau,…) trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (nhiệt độ tốt nhất là 35 0C và độ ẩm từ 70-80
%) sẽ được các vi sinh vật phân hủy tạo ra mùi hôi và nhiều loại khí ô nhiễm khác có tác động xấu tới môi trường đô thị, sức khỏe và khả năng hoạt động của con người
* Ảnh hưởng tới môi trường đất
Trong đất các chất thải hữu cơ sẽ được các vi sinh vật phân hủy trong hai điều kiện hiếu khí và kỵ khí Khi có độ ẩm thích hợp sẽ tạo ra hàng loạt các sản phẩm trung gian, cuối cùng hình thành các chất khoáng đơn giản như nước, CO2, CH4,…
Với một lượng rác thải và nước rò rỉ vừa phải thì khả năng tự làm sạch của môi trường đất sẽ làm cho các chất này trở thành các chất ít ô nhiễm hay không
ô nhiễm Nhưng với lượng rác quá lớn vượt quá khả năng tự làm sạch của đất thì môi trường đất sẽ trở lên quá tải và bị ô nhiễm Các chất ô nhiễm này cùng với
Trang 16kim loại nặng, các chất độc hại và các vi trùng theo nước trong đất chảy xuống tầng nước ngầm làm ô nhiễm tầng nước này
Đối với rác không phân hủy được như cao su, nhựa,… nếu không có giải pháp xử lý thích hợp thì chúng sẽ là nguy cơ gây thoái hóa và giảm độ phì của đất
* Ảnh hưởng tới sức khỏe của con người
Chất thải phát sinh từ các khu đô thị, nếu không được thu gom và xử lý đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe cộng đồng dân
cư và làm mất mỹ quan đô thị Thành phần trong chất thải rắn sinh hoạt rất phức tạp, trong đó có chứa các mầm bệnh từ người và gia súc, các chất thải hữu cơ, xác sinh vật chết,… tạo điều kiện tốt cho ruồi, muỗi, chuột,… sinh sản, lây lan mầm bệnh cho người, nhiều lúc trở thành dịch Một số vi khuẩn, siêu vi khuẩn, kí sinh trùng,… tồn tại trong rác thải có thể gây bệnh cho người như: bệnh sốt rét, bệnh ngoài da, thương hàn, tiêu chảy, giun sán,…
Phân loại, thu gom và xử lý rác không đúng quy định là nguy cơ gây bệnh nguy hiểm cho công nhân vệ sinh, người bới rác, nhất là khi gặp phải các chất thải từ bệnhh viện, công nghiệp,…
Tại các bãi rác lộ thiên, nếu không được quản lý tốt sẽ gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho bãi rác và cộng đồng dân cư trong khu vực như gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất và là nơi nuôi dưỡng các vật chủ trung gian truyền bệnh cho người
Rác thải nếu không được thu gom tốt cũng sẽ là một trong những yếu tố gây cản trở dòng chảy, làm giảm khả năng thoát nước của các sông sạch và hệ thống thoát nước đô thị
2.3 Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và ban hành ngày 23 tháng 6 năm
2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày ngày 01 tháng 01 năm 2015;
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính Phủ về việc quy định chi tiết về một số điều Luật Bảo vệ môi trường ngày 23/6/2014;
Trang 17- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 /4 / 2015 của Chính Phủ quy định
về việc quản lí chất thải và phế liệu;
- Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính Phủ quy định
về việc xử lí vị phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Căn cứ Nghị quyết 18/2017/NĐ-HĐND ngày 29/7/2017 quy định mức thu và tỉ lệ trích để lại các loại phí, lệ phí trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Căn cứ văn bản số 2272/BXD-VP ngày 10/11/2015 về công bố định mức, dự toán thu gom, vận chuyển và xử lí chôn lấp rác thải đô thị;
- Căn cứ Quyết định số 1383/2016/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định phân công, phân cấp quản lí chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
-Văn bản số 470/UBND-THKT ngày 27/7/2016 của UBND phường Hương Sơn về việc thu gom vận chuyển và chôn lấp rác thải đô thị khu vực phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
2.4 Tình hình quản lý, xử lý rác thải trên thế giới và Việt Nam
2.4.1 Tình hình quản lý, xử lý rác thải trên thế giới
Với lượng rác gom góp được trên toàn thế giới từ 2,5 đến 4 tỉ tấn một năm, thế giới hiện có lượng rác ngang bằng với sản lượng ngũ cốc (đạt 2 tấn) và sắt thép (1 tỉ tấn), khẳng định của Viện nguyên vật liệu Cyclope và Veolia Propreté, công ty quản lý rác lớn thứ hai thế giới
Theo các chuyên viên nghiên cứu của hai cơ quan trên, trong tổng số rác trên thế giới, có 1,2 tỉ tấn rác tập trung ở vùng đô thị, từ 1,1 đến 1,8 tỉ tấn rác công nghiêp không nguy hiểm và 150 triệu tấn rác nguy hiểm (mức tính toán thực hiện tại 30 nước)
Mỹ và châu Âu là hai "nhà sản xuất" rác đô thị chủ yếu với hơn 200 triệu tấn rác cho mỗi khu vực, kế tiếp là Trung Quốc với hơn 170 triệu tấn Theo ước tính, tỉ lệ rác đô thị ở Mỹ ở mức 700 kg/người/năm Và tỷ lệ này ở Hàn Quốc gần 2000 kg Brazil là 20 kg Đối với rác công nghiệp, Mỹ chiếm khoảng 275 triệu tấn
Trang 18Ngày 6/6/2012, Ngân hàng Thế giới (WB) đã cảnh báo về một cuộc khủng hoảng rác thải đang ngày càng nghiêm trọng và tạo gánh nặng khổng lồ về tài chính cũng như môi trường cho chính phủ các nước Trong báo cáo "Đánh giá toàn cầu về quản lý rác thải rắn," WB nhận định khối lượng rác thải ngày càng lớn của cư dân đô thị đang là một thách thức lớn không kém gì tình trạng biến đổi khí hậu, và chi phí xử lý rác thải sẽ là gánh nặng đối với các quốc gia nghèo khó, đặc biệt là ở châu Phi Các chuyên gia WB ước tính đến năm 2025, tổng khối lượng rác cư dân thành thị thải ra sẽ là 2,2 tỷ tấn/năm - tăng 70% so với mức 1,3 tỷ tấn hiện nay, trong khi chi phí xử lý rác thải rắn dự kiến lên tới 375
tỷ USD/năm, so với mức 205 tỷ USD ở thời điểm hiện tại
Với sự bùng nổ dân số thành thị sử dụng than đá và gỗ làm nguồn cung cấp năng lượng, châu Phi có thể sẽ "đóng góp" ít nhất 55% trong tổng lượng chất thải gây ô nhiễm của thế giới vào năm 2030
Theo WB, những số liệu này cần được nhìn nhận như hồi chuông cảnh tỉnh về một cuộc khủng hoảng rác thải trong tương lai, trong bối cảnh chất lượng cuộc sống đô thị đang ngày một được cải thiện và tình trạng bùng nổ dân số gia tăng
Các chuyên gia của WB kêu gọi các nhà hoạch định chính sách trên thế giới đưa
ra các kế hoạch xử lý và tái chế rác thải nhằm hạn chế các khí gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời tăng cường xử lý chất thải rắn, đặc biệt là ở các thành phố có tốc
độ đô thị hóa nhanh và các quốc gia thu nhập thấp [7]
Các thành phố lớn ở châu Á là “mệt mỏi” nhất với vấn đề xử lý rác thải Tại thủ đô Manila của Philippines, một thành phố 12,9 triệu dân, Smokey Mountain là một trong những bãi chôn rác lớn nhất trên thế giới và là nơi hàng ngàn người bới rác đến đây tìm kế sinh nhai Những người này phải đối mặt với
vô vàn thứ độc thải vì tiếp xúc với rác thải mỗi ngày
Tại Mumbai, thành phố 12 triệu dân ở Ấn Độ, các bãi chôn rác thường xuyên quá tải, trong khi Jakarta (Indonesia), với 10,3 triệu dân, lại đau đầu với những dòng sông rác Năm ngoái, thủ đô Bangkok của Thái Lan (có 9,3 triệu
Trang 19người) bị bao phủ bởi sương khói trong nhiều tuần lễ khi các bãi chôn rác ở thành phố này bắt lửa [8]
Theo số liệu của Cục Y tế và Môi sinh Nhật Bản, hàng năm nước này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó phần lớn là rác công nghiệp (397 triệu tấn) Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế Số còn lại được xử lý bằng cách đốt, hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác Chi phí cho việc xử lý rác hàng năm tính theo đầu người khoảng 300 nghìn Yên (khoảng 2.500 USD) Như vậy, lượng rác thải ở Nhật Bản rất lớn, nếu không tái xử lý kịp thời thì môi trường sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Nhận thức được vấn đề này, người Nhật rất coi trọng bảo vệ môi trường Trong nhiều năm qua, Nhật Bản đã ban hành 37 đạo luật về bảo vệ môi trường, trong đó, Luật “Xúc tiến sử dụng tài nguyên tái chế” ban hành từ năm
1992 đã góp phần làm tăng các sản phẩm tái chế Sau đó Luật “Xúc tiến thu gom, phân loại, tái chế các loại bao bì” được thông qua năm 1997, đã nâng cao hiệu quả sử dụng những sản phẩm tái chế bằng cách xác định rõ trách nhiệm của các bên liên quan Hiện nay, tại các thành phố của Nhật Bản, chủ yếu sử dụng công nghệ đốt để xử lý nguồn phân rác thải khó phân hủy Các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rác thành 3 loại : Rác hữu cơ dễ phân hủy, được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost, góp phần cải tạo đất, giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón; loại rác không cháy được như các loại vỏ chai, hộp,…, được đưa đến nhà máy phân loại để tái chế; loại rác khó tái chế, hoặc hiệu quả không cao, nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờ quy định, dưới sự giám sát của đại diện cụm dân
cư Đối với những loại rác có kích lớn như tủ lạnh, máy điều hòa, tivi, giường, bàn ghế… thì phải đăng ký trước và đúng ngày quy định sẽ có xe của Công ty vệ sinh môi trường đến chuyên chở
Trang 20Nhật bản quản lý rác thải công nghiệp rất chặt chẽ Các doanh nghiệp, cơ
sở sản xuất tại Nhật Bản phải tự chịu trách nhiệm về lượng rác thải của mình theo quy định các luật về bảo vệ môi trường Ngoài ra, Chính quyền tại các địa phương Nhật Bản còn tổ chức các chiến dịch “xanh, sạch, đẹp” tại các phố, phường, nhằm nâng cao nhận thức của người dân
Xử lý rác thải đã trở thành vấn đề sống còn ở Singgapo Để đảm bảo đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hoá nhanh, năm 1970, Singapo
đã thành lập đơn vị chống ô nhiễm (gọi tắt là APU), có nhiệm vụ kiểm soát ô nhiễm không khí và thanh tra, kiểm tra các ngành công nghiệp mới Bộ Môi trường (ENV) được thành lập năm 1972 có chức năng bảo vệ và cải thiện môi trường Bộ đã thực hiện các chương trình xây dựng kết cấu hạ tầng và các biện pháp mạnh, nhằm hạn chế lũ lụt, ngăn chặn và kiểm soát nạn ô nhiễm nguồn nước và quản lý chất phế thải rắn
Hiện nay, toàn bộ rác thải ở Singapo được xử lý tại 4 nhà máy đốt rác Sản phẩm thu được sau khi đốt được đưa về bãi chứa trên hòn đảo nhỏ Pulau Semakau, cách trung tâm thành phố 8 km về phía Nam Chính quyền Singapo khi đó đã đầu tư 447 triệu USD để có được một mặt bằng rộng 350 hecta chứa chất thải Mỗi ngày, bãi rác Sumakau tiếp nhận 2.000 tấn tro rác
Theo tính toán, bãi rác Sumakau sẽ đầy vào năm 2040 Để bảo vệ môi trường, người dân Singapo phải thực hiện 3R: Reduce (giảm sử dụng), reuse (dừng lại) và recycle (tái chế), để kéo dài thời gian sử dụng bãi rác Semakau càng lâu càng tốt, và cũng giảm việc xây dựng nhà máy đốt rác mới Tại Singapo, khách du lịch dễ dàng thấy những hàng chữ bằng tiếng Anh trên các thùng rác công cộng “đừng vứt đi tương lai của bạn” kèm với biểu tượng
“recycle”
Chính phủ Singapo còn triển khai các chương trình giáo dục, nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về môi trường của người dân, nhằm khuyến khích họ tham gia tích cực trong việc bảo vệ và giữ gìn môi trường Chương trình giáo dục về môi trường đã được đưa vào giáo trình giảng dạy tại các cấp tiểu học, trung học và đại học Ngoài các chương trình chính khoá, học sinh còn được
Trang 21tham gia các chuyến đi dã ngoại đến các khu bảo tồn thiên nhiên, các cơ sở tiêu huỷ chất phế thải rắn, các nhà máy xử lý nước và các nhà máy tái chế chất thải [9]
2.4.2 Tình hình rác thải tại Việt Nam
Cùng với sự gia tăng dân số mạnh mẽ và sự hình thành, phát triển vượt bậc của các ngành nghề sản xuất trong thời gian qua, một mặt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, mặt khác đã làm gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng và cũng làm gia tăng nhanh chóng lượng chất thải rắn phát sinh Chất cho công thải rắn tăng nhanh chóng về số lượng, với thành phần ngày càng phức tạp đã và đang gây khó khăn tác quản lý, xử lý Vì vậy, cần đánh giá thực tế tình hình quản lý chất thải rắn (nguy hại, sinh hoạt và công nghiệp thông thường) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn nhằm đáp ứng yêu cầu trong công tác bảo
vệ môi trường
2.4.2.1 Tình hình quản lý chất thải rắn trên cả nước
- Về chất thải rắn nguy hại, theo báo cáo của Sở TN&MT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, lượng chất thải nguy hại phát sinh trên toàn quốc khoảng 800 ngàn tấn/năm Hiện nay, đa phần các chủ nguồn thải có phát sinh lượng chất thải nguy hại lớn hàng năm đều đã đăng ký và được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại Lượng chất thải nguy hại phát sinh từ các chủ nguồn thải này đều đã được thu gom và đưa đến các cơ sở đã cấp phép để xử lý
Đồng thời, trên toàn quốc có 83 doanh nghiệp với 56 đại lý có địa bàn hoạt động từ hai tỉnh trở lên đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép và khoảng 130 đơn vị vận chuyển chất thải nguy hại do các địa phương cấp phép đang hoạt động Các cơ sở này trong thời gian qua đã đóng vai trò chính trong việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành Bên cạnh đó, công nghệ xử lý chất thải nguy hại của Việt Nam trong những năm vừa qua đã có những bước phát triển đáng kể, tuy nhiên, về cơ bản, các công nghệ hiện có của Việt Nam còn chưa ở mức tiên tiến, chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu xử lý chất thải nguy hại của Việt Nam
Trang 22- Về chất thải rắn sinh hoạt, theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2011, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đô thị trên toàn quốc tăng trung bình 10-16 % mỗi năm, chiếm khoảng 60-70 % tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt Năm 2014, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn quốc khoảng 23 triệu tấn tương đương với khoảng 63.000 tấn/ngày, trong đó, chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày
Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện nay tại khu vực nội thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 85% và tại khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 60% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40-55% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh Nhìn chung, chất thải rắn sinh hoạt được xử lý chủ yếu bằng hình thức chôn lấp, sản xuất phân hữu cơ và đốt Tính đến Quý I năm 2014, trong khuôn khổ Chương trình xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011-2020 đã có 26 cơ sở xử lý chất thải rắn tập trung được đầu tư xây dựng theo hoạch xử lý chất thải rắn của các địa phương
- Về chất thải rắn công nghiệp thông thường, theo kết quả điều tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổng lượng chất thải rắn công nghiệp thông thường phát sinh từ các khu công nghiệp vào khoảng 7 triệu tấn/năm
Tỷ lệ thu gom chất thải rắn công nghiệp khá cao, đạt trên 90% khối lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh Tỷ lệ này đạt được do chủ nguồn thải xác định và có đăng ký với Ban quản lý khu công nghiệp Hầu hết các cơ sở trong khu công nghiệp ký hợp đồng với các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển chất thải; các cơ sở bán chất thải có giá trị kinh tế; một số cơ sở thực hiện nghiền nát chất thải làm nguyên liệu đun Tuy nhiên, việc xử lý chất thải rắn công nghiệp mới chỉ thực hiện ở các đơn vị có quy mô nhỏ Vì vậy, hiện nay, trong cả nước đang rất thiếu các khu xử lý chất thải rắn công nghiệp, đặc biệt là khu xử lý chất thải trung quy mô lớn Việc tái chế, tái sử dụng chất thải rắn công nghiệp diễn ra khá phổ biến chủ yếu là tự phát tại các cơ sở công nghiệp Các chất thải có thể tái sử dụng được các cơ sở thu hồi để quay vòng sản xuất hoặc được bán cho các đơn vị khác để tái chế [10]
Trang 23Sự phát triển kinh tế cùng với sự gia tăng dân số không ngừng đang khiến rác thải sinh hoạt và y tế tại các thành phố lớn ở Việt Nam tăng nhanh hơn cả các nước khác trên thế giới
Hiện nay, trung bình mỗi ngày Việt Nam phát sinh 12 triệu tấn rác thải sinh hoạt Dự kiến đến năm 2020, lượng rác thải đô thị phát sinh là 20 triệu tấn/ngày Phần lớn lượng rác phát sinh chủ yếu tại các thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng… Việc quản lý và xử lý chất thải rắn đô thị nước ta đang còn rất lạc hậu, chủ yếu là chôn lấp
Tại thành phố Hà Nội, khối lượng rác sinh hoạt tăng trung bình 15% một năm, tổng lượng rác thải ra ngoài môi trường lên tới 5.000 tấn/ngày Thành phố
Hồ Chí Minh mỗi ngày có trên 7.000 tấn rác thải sinh hoạt, mỗi năm cần tới 235
tỉ đồng để xử lý
Xét về rác thải y tế, khoảng 50% số bệnh viện tại Việt Nam vẫn chưa áp dụng quy trình xử lý rác y tế đạt chuẩn Mỗi ngày, ngành y tế thải ra từ 350 đến
450 tấn rác thải, trong đó có 40 tấn thuộc loại độc hại [7]
2.4.2.2 Hiện trạng rác thải và thực trạng xử lý rác thải tại tỉnh Thái Nguyên
Tình trạng ô nhiễm từ các bãi chứa rác hiện nay trên địa bàn tỉnh đang ở mức đáng báo động Những bãi rác chỉ xử lý rác ở mức sơ sài là chôn lấp hoặc đốt nên sự ô nhiễm dễ dàng nhận thấy Điều đó có nguy cơ ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe nhân dân
Thành phốThái Nguyên, dân cư tập trung đông đúc và các hoạt động kinh
tế - xã hội ngày càng sôi động khiến khối lượng rác thải đô thị tăng cao Các hoạt động dịch vụ, sản xuất, kinh doanh - nhất là tại các chợ đã làm gia tăng rác thải như: Rác thực phẩm, bao bì, hộp nhựa, giấy thải, vỏ lon kim loại, thủy tinh… Đồng thời, do tập trung đông dân cư nên lượng nước thải sinh hoạt khá lớn, trong khi hệ thống cống rãnh tiêu thoát nước của thành phố còn nhiều hạn chế Việc san lấp mặt bằng để xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, các khu dân
cư, đường giao thông… gây ảnh hưởng đến dòng chảy trong mùa mưa Quá trình xây dựng cũng làm phát sinh lượng lớn chất thải như: Gạch vỡ, ngói, đất cát, phế liệu xây dựng
Trang 24Bảng 2.1: Lượng rác thải sinh hoạt tại tỉnh Thái Nguyên
Dân số TP Thái Nguyên (nghìn người) Lượng CTR phát sinh
Thành thị Nông thôn Thành thị
(tấn/ngày)
Nông thôn (tấn/ngày)
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên năm 2017)
- Đô thị phát triển, diện tích đất ở ngày càng thu hẹp thì nhu cầu xử lý rác thải là một vấn đề bức thiết trong nhân dân Để khắc phục tình trạng trên, năm
2011 chính quyền thành phố đã tổ chức tham quan học tập tại các đô thị bạn và chính thức đưa vào áp dụng mô hình xã hội hoá thu gom rác thải bằng việc tại mỗi phường, xã thành lập một đội vệ sinh môi trường Kinh phí chi trả cho công tác thu gom rác sử dụng từ nguồn phí vệ sinh môi trường thu của các hộ dân
- Cho đến nay đã có 22/28 đội vệ sinh phường, xã được thành lập và đi vào hoạt động có hiệu quả Cách thức quản lý của các đội vệ sinh môi trường như sau: mỗi đội được chia thành 2 - 4 tổ, mỗi tổ có 01 tổ trưởng và có từ 5 - 7 công nhân, mỗi người được phân công thu gom rác trên từng tổ, phố, xóm cố định Hiện nay, phần lớn các phường, xã giao trách nhiệm thu phí vệ sinh môi trường cho tổ trưởng dân phố, đồng thời trong các cuộc họp bình bầu các gia đình văn hoá phố, xóm đã đưa tiêu chí việc tham gia đóng đầy đủ phí vệ sinh
Trang 25môi trường trở thành một tiêu chí bắt buộc Việc hình thành các đội vệ sinh, đã tạo việc làm và thu nhập cho gần 400 lao động, phần lớn là người dân thuộc các
hộ nghèo không có việc làm, góp phần ổn định xã hội
- Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính phủ Đan Mạch, thành phố Thái Nguyên được chọn là nơi triển khai thực hiện dự án Danida về đầu tư xây dựng nhà để xe thu gom rác thải, thành phố Thái Nguyên đã lựa chọn các địa điểm xây dựng nhà để xe thu gom rác Cho đến nay đã có 20 nhà để xe rác được xây dựng và đi vào hoạt động đảm bảo tính hữu ích và vệ sinh môi trường
- Cùng với sự theo dõi, giám sát và chỉ đạo của thành phố kết hợp với việc đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân nên hiện nay tình hình vệ sinh môi trường dần đi vào nền nếp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Môi trường và Công trình đô thị và các đội vệ sinh phường, xã đã duy trì thực hiện các quy định về giờ thu gom rác thải, địa điểm tập kết rác thải, nhằm đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng, khoa học Toàn bộ lượng rác thải được thu gom, vận chuyển và xử lý chôn lấp hợp vệ sinh tại bãi rác Đá Mài, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên Thành phố đang có đề nghị với tỉnh để đầu tư nhà máy xử lý rác thải, để xử lý triệt để ô nhiễm do rác thải gây ra
- Để có được những kết quả đó không thể không kể đến sự quan tâm đầu
tư của thành phố trong công tác thu gom và xử lý rác thải Hàng năm Tỉnh và Thành phố đã chi ngân sách cho công tác vệ sinh môi trường lên tới trên 18 tỷ đồng (năm 2015), ngoài ra còn phải kể đến sự hỗ trợ, phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành có liên quan đã góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này
Trang 26PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng
- Hiện trạng thu gom, vận chuyển và chôn lấp rác thải khu vực phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
3.1.2 Phạm vi
- Địa bàn phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm
- UBND phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
3.2.2 Thời gian nghiên cứu:
- Từ tháng 10/1/2018 – tháng 10/5 /2018
3.3 Nội dung nghiên cứu
* Điều kiện tự nhiên , kinh tế - xã hội của phường Hương Sơn
- Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, địa hình địa mạo, khí hậu, thủy văn, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và thực trạng môi trường,
- Điều kiện kinh tế - xã hội: dân số, lao động việc làm; thực trạng tăng trưởng kinh tế; cơ sở hạ tầng; công tác văn hóa xã hội; công tác quân sự và đánh giá chung tình hình phát triển kinh tế xã hội của phường Hương Sơn
* Đánh giá công tác quản lý chất thải trên địa bàn phường Hương Sơn
- Nguồn gốc phát sinh chất thải trên địa bàn
- Thực trạng công tác thu gom , vận chuyển, xử lý rác thải tại địa bàn phường Hương Sơn:
+ Công tác thu gom rác thải tại phường
+ Nhân lực công tác thu gom rác thải
+ Cơ sở vật chất phục vụ công tác thu gom rác thải
Trang 273.3.3 Một số tồn tại trong công tác quản lý rác thải trên địa bàn phường
Hương Sơn
3.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chất thải trên địa bàn phường Hương Sơn
- Giải pháp về chính sách
- Giải pháp về kỹ thuật, công nghệ
- Giải pháp về tuyên truyền giáo dục
- Giải pháp đào tạo
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu thứ cấp
- Thu thập các số liệu về ĐKTN, KTXH khu vực phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Thu thập các số liệu, tài liệu có liên quan đến vấn đề thu gom, vận chuyển và chôn lấp rác thải đô thị khu vực phường Hương Sơn
- Thu thập thông tin và kế thừa có chọn lọc các số liệu về ĐKTN, KTXH
- Thu thập thông tin có liên quan đến đề tài qua sách báo, internet
Nội dung điều tra bao gồm:
- Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày (kg/ngày);
- Thành phần rác thải sinh hoạt;
- Thực trạng phân loại, thu gom, quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt ở địa phương hiện nay
- Khả năng nhận thức về phân loại và công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở địa phương
Trang 283.4.3 Phương pháp cân rác
- Dụng cụ tiến hành: Cân 20kg
- Cách thức tiến hành: Cân 20kg tại các điểm tập kết rác làm đại diện, sau
đó phân loại và cân từng thành phần
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Các số liệu được xử lý, thống kê trên máy tính:
+ Các số liệu thu thập từ quan sát thực tế, kế thừa, điều tra phỏng vấn được tổng kết dưới dạng bảng biểu bằng word
+ Dựa trên cơ sở các số liệu đã thống kê đánh giá cụ thể từng đề mục
Trang 29PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Phường Hương Sơn nằm ở trung tâm khu vực đô thị phía nam của thành phố và tiếp giáp với phường Cam Giá ở phía bắc, giáp với xã Đồng Liên của huyện Phú Bình ở phía đông qua Sông Cầu, giáp với xã Lương Sơn ở phía đông nam, phường Tân Thành ở phía tây nam và phường Trung Thành ở phía tây
Trên địa bàn phường có tuyến đường quốc lộ 37 (đường Cách mạng tháng 8) tạo thành ranh giới tự nhiên với phường Trung Thành, một tuyến đường sắt nhánh của Tổ hợp Gang Thép Thái Nguyên ở phía bắc tạo thành ranh giới với phường Cam Giá
Hình 4.1: Bản đồ phường Hương Sơn Thành phố Thái Nguyên
* Địa hình
Trang 30Phường Hương Sơn có địa hình dạng đồi bát úp, xen kẽ đồng ruộng Cao độ nền tự nhiên trung bình từ 20m đến 21m, cao độ nhất từ 50m đến 60m (thuộc đỉnh gò đồi) Hướng dốc từ Bắc xuống Nam, từ Đông Bắc xuống Tây Nam Nhìn chung địa hình của phường thuận tiện cho phát triển
đô thị và bố trí công trình xây dựng
- Nhiệt độ trung bình trong năm trên địa bàn phường đạt 22 - 230C Có
sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khoảng 2 – 50C.Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 27,700C và trung bình tháng thấp nhất là 160C
b Lượng mưa
Lượng mưa trung bình năm là 1.764 mm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (tháng 6,7,8,9) chiếm 85% lượng mưa cả năm, trong đó tháng 7,8 có số mưa nhiều nhất
c Nắng
Số giờ nóng trong năm đạt 1.600 – 1.700 giờ Tháng 5, 6, 7, 8 có số giờ nắng cao nhất (đạt 1700 – 200 giờ ) và tháng 2, 3 có số giờ nóng thấp nhất (đạt 40 – 50 giờ)