Ở nước ta chưa có cơ sở nào sản xuất chính thức về loại men này, vì vậy việc nghiên cứu xây dựng bài phối liệu men dùng để tráng lên nền thép dùng trong môi trường axit ở trong nước, từn
Trang 1CẤP BỘ NĂM 2011
Đề tài:
NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI CÔNG NGHỆ XỬ LÝ BỀ MẶT
TẠO LỚP MEN HỆ COBALT CHỊU AXIT TRÊN CHI TIẾT THÉP
Ký hiệu: 01.11.HT/HĐ-KHCN Chủ nhiệm đề tài: Lục Vân Thương
9152
Hà Nội, 12-2011
Trang 2DANH SÁCH HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 2
1.1 Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của Đề tài 2
1.1.1 Tính cấp thiết của Đề tài 2
1.1.2 Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài 2
1.2 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu 2
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.2.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.2.3 Nội dung nghiên cứu 2
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 3
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 3
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 11
1.4 Kết luận chương 1 16
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT 18
2.1 Khái niệm về men 18
2.2 Phân loại men 18
2.3 Các tính chất của men 23
2.3.1 Độ nhớt 23
2.3.2 Sức căng bề mặt 24
2.3.3 Sự giãn nở của men 25
2.3.4 Lớp trung gian giữa xương và men, vai trò và sự hình thành lớp này 27
2.3.5 Độ cứng của men 29
2.3.6 Tính chất điện của men 31
2.3.7 Độ bền hoá 33
Trang 33.1 Quy trình chế tạo men 47
3.1.1 Chuẩn bị nguyên vật liệu 47
3.1.2 Thiết bị sản xuất men 50
3.1.2.1 Máy trộn 50
3.1.2.2 Các bể chứa 50
3.1.2.3 Máy nghiền thô 51
3.1.2.4 Lò nung 52
3.1.2.5 Máy nghiền bi (nghiền tinh) 52
3.1.2.6 Máy ly tâm 52
3.1.2.7 Sàng rung 53
3.1.3 Lựa chọn phương pháp sản xuất men 53
3.1.4 Tính toán bài men 54
3.1.5 Phối liệu nguyên liêu tạo men 56
3.1.6 Chế tạo men 57
3.2 Quy trình kỹ thuật tráng men lên chi tiết sắt 57
3.2.1 Chuẩn bị mẫu 57
3.2.1.1 Gia công mẫu 57
3.2.1.2 Làm sạch mẫu chi tiết 57
3.2.2 Tráng men 60
3.2.2.1 Dụng cụ tráng men 60
3.2.2.2 Các bước tráng men 60
3.2.2.3 Kiểm tra và xử lý chi tiết sản phẩm tráng lại 62
3.2.3 Sấy, nung chi tiết 62
3.2.3.1 Sấy chi tiết 62
3.2.3.2 Nung chi tiết 63
Trang 44.1 Chế tạo men phủ chi tiết sắt 67
4.1.1 Tính toán lựa chọn bài phối trộn men 67
4.1.2 Chế tạo men 70
4.2 Thực nghiệm tráng men lên chi tiết 71
4.2.1 Chuẩn bị 71
4.2.1.1 Dụng cụ và thiết bị 71
4.2.1.2 Chuẩn bị men 72
4.2.1.3 Chuẩn bị chi tiết mẫu 73
4.2.2 Tráng men lên chi tiết mẫu 77
4.2.3 Nung chi tiết 78
4.2.4 Kết quả 79
4.3 Kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm 80
4.4 Kết luận chương 4 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 86
Trang 51) Lục Vân Thương Thạc sỹ Viện Nghiên cứu Cơ khí 2) Ngô Xuân Cường Thạc sỹ Viện Nghiên cứu Cơ khí 3) Phạm Văn Nghi Kỹ sư Nhà máy Z195
4) Hoàng Văn Lợi Cử nhân Viện Nghiên cứu Cơ khí
5) Vũ Thị Mỹ Cử nhân Viện Nghiên cứu Cơ khí
6) Ngô Văn Dũng Kỹ sư Viện Nghiên cứu Cơ khí
7) Nguyễn Đình Sao Kỹ sư Viện Nghiên cứu Cơ khí
8) Phạm Thanh Hoài Kỹ sư Viện Nghiên cứu Cơ khí
9) Đỗ Quang Chiến Kỹ sư Viện Nghiên cứu Cơ khí
Trang 6
DANH SÁCH HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU
A Danh sách hình
Hình 1 Ống thép phủ men chịu axit (91T01) 8
Hình 2 Cút 90 o thép phủ men chịu axit 9
Hình 3.‘TÊ’ thép phủ men chịu axit 10
Hình 4 ‘Đột thu’ thép phủ men chịu axit 11
Hình 5 Khoang lò tráng men gốm cao cấp 12
Hình 6 Bộ trao đổi nhiệt 14
Hình 7 a) Bộ khuấy trộn; b) Silo chứa hóa chất 14
Hình 8 Ống nối khí thải 14
Hình 9 Lò phản ứng 15
Hình 10 Biểu đồ phạm vi trạng thái của men 26
Hình 11 Độ bền chống cào, rạch 30
Hình 12 Ảnh hưởng của các oxyt thêm vào men chì Bor đến độ bền khi mài 31
Hình 13 Ảnh hưởng của các phụ gia đối với độ dẫn điện 33
Hình 14 Phương pháp frit 38
Hình 15 Ảnh một loại Frit 39
Hình 16 Một khối men bị chảy lỏng 41
Hình 17 Minh hoạ cách xác định hiện tượng thấm ướt của men 44
Hình 18 Bể chứa cánh khuấy 51
Hình 19 Máy nghiền 51
Hình 20.a) Lò quay; b) Lò buồng 52
Hình 21 Máy nghiền bi 52
Hình 22 Thiết bị sàng 53
Hình 23 Nguyên liệu thô 71
Hình 24 Men bán thành phẩm 71
Hình 25 Men thành phẩm 71
Hình 26 Pha chế men 72
Hình 27 Chi tiết mẫu ống nối thẳng 73
Trang 7Hình 32 Ngâm trong dung dịch axit 75
Hình 33 Chi tiết sau khi được tẩy sạch bằng dung dịch axit 76
Hình 34 Khay dung dịch trung hòa axit 77
Hình 35 Chi tiết sau khi tráng men 77
Hình 36 Sấy chi tiết sau khi tráng men 78
Hình 37 Chi tiết sau khi nung 79
Hình 38 Sản phẩm chi tiết 80
Hình 39 Kiểm tra chiều dày lớp tráng men 81
Hình 40 Kiểm tra độ cứng lớp tráng men 81
B Danh sách bảng biểu Bảng 1 Thành phần của loại men này dao động trong phạm vi sau: 19
Bảng 2 Thành phần men dễ chảy 20
Bảng 3 Thành phần men của sứ xốp nằm trong giới hạn sau: 20
Bảng 4 Men Bor có giới hạn sau: 21
Bảng 5 Những men dễ chảy không frit có thành phần sau: 21
Bảng 6 Men không chì hoặc nghèo chì thường có thành phần sau: 21
Bảng 7 Thành phần men muối dao động như sau: 22
Bảng 8 Thành phần hoá học và tỷ lệ 24
Bảng 9 Hằng số nóng chảy của ôxít hoặc hợp chất dễ nóng chảy 41
Bảng 10 Hằng số nóng chảy của ôxít hoặc hợp chất khó nóng chảy 42
Bảng 11 Bảng tra cứu nhiệt độ nóng chảy (°C) của men theo hệ số K 42
Bảng 12 Số liệu để tính sức căng bề mặt của men ở 900°C 44
Bảng 13 Bảng tính toán hệ số giãn nở nhiệt của men dùng ở 400 - 500°C 45
Bảng 14 Bảng trọng lượng mol các nguyên liệu cơ bản thường 54
Bảng 15 Trọng lượng nguyên tử và trọng lượng mol các ôxyt thường dùng 55
Trang 8MỞ ĐẦU
Hàng năm ở nước ta nhu cầu sử dụng các sản phẩm thép tráng men là rất lớn Đặc biệt là những sản phẩm thép tráng men dùng trong môi trường axit đậm đặc và trong môi trường có tính ăn mòn hoá học cao Những sản phẩm này hiện nay chủ yếu là nhập từ nước ngoài
Men dùng để tráng lên thép dùng trong môi trường axit là loại men có tính chịu axit hay còn gọi là men chịu axit Loại men này được phối liệu từ rất nhiều loại hoá chất kết hợp với nhau: Quắc zit, Tràng thạch, Đá vôi, Soda và một số chất khác
Ở nước ta chưa có cơ sở nào sản xuất chính thức về loại men này, vì vậy việc nghiên cứu xây dựng bài phối liệu men dùng để tráng lên nền thép dùng trong môi trường axit ở trong nước, từng bước có khả năng thay thế được các chế phẩm nhập ngoại phục vụ cho các nhu cầu sản xuất trong các cơ
sở sản xuất thuốc nổ, khai khoáng (tuyển khoáng) được đặt ra và đã được tiến hành thực hiện nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm – Viện Nghiên cứu Cơ khí
với đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu triển khai công nghệ xử lý bề mặt tạo
lớp men hệ Cobalt chịu axit trên chi tiết thép”
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của Đề tài
1.1.1 Tính cấp thiết của Đề tài
- Chi tiết thép có lớp men chịu axit được sử dụng nhiều trong các nhà máy hóa chất, vật liệu nổ, ở trong nước Do các chi tiết làm việc trong môi trường axit nên thời gian hay tuổi thọ của chi tiết không được bền, vì vậy nhu cầu sửa chữa thay thế là rất cao
- Hiện nay, tại nhà máy Z195 – Bộ Quốc Phòng chuyển sản xuất thuốc
nổ là đơn vị có nhu cầu sử dụng sửa chữa và thay thế chi tiết thép có lớp men chịu axit Và đây là đơn vị mà đề tài có thể áp dụng thực tế được
1.1.2 Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài
Trên cơ sở công nghệ đã được tìm hiểu tại PTN TĐ và với nguyên vật liệu được sử dụng trong nước, nghiên cứu tính toán xác lập các bài phối liệu tối ưu, thiết kế và chế tạo sản phẩm men hoàn chỉnh tương ứng với từng chủng loại chi tiết phục vụ quá trình phủ bề mặt, thiết lập Quy trình công nghệ nâng cao chất lượng lớp tráng men đối với một số chi tiết điển hình
1.2 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các chi tiết máy làm việc trong môi trường axit H2SO4 đậm đặc
1.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hệ men chịu axit phủ trên nền thép, dùng trong dây chuyền vận chuyển axit
1.2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về công nghệ tạo men trên thế giới và trong nước
Trang 10- Nghiên cứu đặc tính các loại men Cobalt đối với một số vật liệu chế tạo chi tiết máy thông dụng
- Tính toán lựa chọn các thông số cho quá trình tạo men Cobalt từ các loại vật liệu khác nhau
- Tạo men Cobalt trên một số loại chi tiết thông dụng đang được sử dụng tại Việt nam
- Nghiên cứu thiết lập QTCN cụ thể tạo ra loại men Cobalt thông dụng
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, công nghệ men sắt đã được ứng dụng trong một số công ty chuyên sản xuất sản phẩm đồ gia dụng như:
- Công ty Cổ phần Sắt tráng men - Nhôm Hải Phòng là doanh nghiệp hàng đầu trong cả nước về sản xuất các mặt hàng Nhôm, Nhôm lá, Sắt tráng men, Men và inox
- Công ty Cổ phần Kim Khí Thăng Long chuyên sản xuất, kinh doanh các sản phẩm kim khí gia dụng và chi tiết cho các ngành công nghiệp khác từ kim loại tấm lá mỏng bằng công nghệ đột dập Sau
đó sản phẩm được bảo vệ và trang trí bề mặt bằng công nghệ Mạ, Men, Sơn, Ðánh bóng và nhiều công nghệ tiên tiến khác
Hiện nay việc sản xuất men sắt chủ yếu phục vụ cho công nghệ tráng men các đồ gia dụng như bát sắt, ca sắt, khay sắt, chậu sắt, và một số dụng cụ
y tế Tất cả các sản phẩm này có chiều dày rất mỏng, công nghệ thì đã được hoàn thiện từ lâu
Trên phương diện công nghiệp, men được sử dụng thông dụng như là một biện pháp bảo vệ cho các loại vật liệu thép (thép và gang) thường bị hư hỏng nhanh, bị han gỉ và ăn mòn: việc tráng men bảo vệ chúng kịp thời, tránh được chi phí cao cho việc bảo dưỡng và thay thế
Trang 11Trong những năm gần đây những ứng dụng của men đã phát triển mở rộng đối với cả những sản phẩm có tính chất bề mặt ít bị ăn mòn hơn (nhôm, đồng, inox): nhằm khẳng định giá trị mỹ thuật và giá trị ứng dụng, và ngoài ra cũng là một biện pháp bảo vệ cho những vật liệu này Vì những lý do đó men thủy tinh ngày càng được sử dụng rộng rãi trong gia đình: từ chảo rán đến những dụng cụ nhà bếp, từ đồ vệ sinh đến các thiết bị điện tử và những tấm kết cấu trong xây dựng
Thành phần hóa học của các chủng loại men phụ thuộc vào tính chất của bề mặt cần bao phủ và các đặc điểm cần được tăng cường trong thành phẩm
Nhìn chung tất cả các loại men đều đảm bảo:
- Tính bền vững
+ Đối với lửa
+ Đối với nhiệt độ lạnh (-50°C) và nóng tới (450°C)
+ Đối với việc thay đổi nhiệt độ đột ngột
+ Đối với sự ăn mòn của axít và kiềm ở nhiệt môi trường xung quanh, của việc hòa tan chất hữu cơ và của các tác nhân trong không khí làm xước và
ăn mòn (Thang độ cứng 5.5 - 7.5)
- Vệ sinh và vô hại
+ Bề mặt kín ngăn cản việc vi khuẩn cấy và phát triển cũng như mốc và
+ Có thể tạo mầu sắc đa dạng, có thể làm bóng, mờ
+ Bề mặt nhẵn, đều tuyệt vời
Trang 12- Bền mầu
+ Mầu sắc tồn tại bền lâu, rực rỡ và sáng chói với thời gian, nhất là dưới hiệu ứng ánh sáng, tia tử ngoại và các tác nhân không khí
- Không gây ô nhiễm đối với môi trường
+ Men là một sản phẩm tự nhiên và thân thiện với môi trường, hoàn toàn có khả năng tái chế
+ Enamel /Men được chế tạo từ thành phần chính là ô xít silicon (SiO2) khoảng (45-55%) và nhiều thành phần khác như: Al2O3 (3-5%), B2O3 (8-14%), Na2O/K2O (15-18%), CaO (5-10%; từ CaFe2), P2O5 (đến 2%), ngoài ra
có thể thêm MnO2 cũng như các o xít khác nhằm tăng độ bám của men vào sắt như: Chrom hoặc Cobalt, TiO2 hoặc ZrO2
Men có thể ở hai dạng, dạng thể bột và dạng thể nước Đối với mỗi một loại men ướt hay men bột chúng cần có những thiết bị và công nghệ phù hợp
để thực hiện việc tráng và nung men cho bình nước nóng
Men sau khi đã được phun vào bình nước nóng sẽ được nung trong nhiệt độ khoảng từ 800 đến 850oC, khi đó các phân tử men tan chảy hòa quyện vào nhau và thẩm thấu đều lên bề mặt thép lõi bình nước nóng
Men có thể bị vỡ, bị bung ra trong quá trình vận chuyển hay sử dụng, ít hay nhiều điều đó còn phụ thuộc vào chất lượng men cũng như công nghệ và quy trình sản xuất
Để có thể tráng men tốt thì cần thiết phải sử dụng loại thép làm lõi phù hợp Sau đây là yêu cầu thép tráng men theo tiêu chuẩn Châu Âu:
- Thành phần hóa học:
EN10025 C [%] Mn [%] P [%] S [%] Si [%]
S235J 0.17 1.40 0.035 0.035 S275J 0.18 1.50 0.035 0.035
Trang 13- Các tính chất cơ học (theo tiêu chuẩn EN10025):
<3mm
Độ giãn dài A80 [%]
>3mm
S235J 235 360-510 340-470 21 25 S275J 275 430-580 410-560 18 22
- Hiện nay hầu hết các loại men trên thị trường có thêm thành phần Titanium Dioxide (TiO2) để tăng độ bám của men vào sắt và bền vững với các nguyên tố hóa học, tuy nhiên đó là Titanium Dioxide (TiO2) chứ không phải
là kim loại Titanium Titanium Dioxide (TiO2) tồn tại nhiều trong thiên nhiên,
dễ khai thác và giá thành rẻ
Đối với mỗi loại vật liệu khác nhau việc nghiên cứu và thiết lập một quy trình công nghệ tạo men phù hợp đảm bảo chất lượng lớp bề mặt và khả năng làm việc là hết sức cần thiết
Phòng thí nghiệm trọng điểm CN Hàn và XLBM là đơn vị đã bắt đầu nghiên cứu tạo ra loại men với thành phần chủ yếu là Cobalt tráng lên thép cho các thiết bị và dụng cụ làm việc trong môi trường chịu axít phục vụ nhu cầu hiện nay ở trong nước
Dưới đây là một số sản phẩm trong nước đang sử dụng, dùng công nghệ phủ men lên nền thép sử dụng trong môi trường axit với các điều kiện làm việc:
Trang 14TT Kích thước danh nghĩa φn x t (PN10) Số lượng
Trang 15Hình 1 Ống thép phủ men chịu axit (91T01)
Trang 16Hình 2 Cút 90 o thép phủ men chịu axit
Trang 17Hình 3.‘TÊ’ thép phủ men chịu axit
- Các ‘Đột thu’ thép phủ men chịu axit
Trang 18Hình 4 ‘Đột thu’ thép phủ men chịu axit 1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Rất khó xác định chính xác khi nào nghề đồ gốm ra đời, người ta cho rằng nghề gốm bắt đầu tại vùng Trung Đông và Ai Cập khoảng 4500 - 4000 năm TCN Khoảng 4000 - 3000 năm TCN đã hình thành một số trung tâm gốm ở vùng này
Thời Trung Cổ ở Châu Âu đã có những trung tâm rất lớn sản xuất đồ gốm như Faenza ở Ý (từ đó dó danh từ faience hay còn gọi là sành), hay Mallorca là một hòn đảo ở Địa Trung Hải (từ đó có tên mặt hàng majolica, cũng có nghĩa là sành
Ở Châu Âu mãi đến năm 1709, một người Đức là Johann Friedrich Bottger đã sản xuất được đồ sứ giống đồ sứ Trung Quốc Năm 1759 người Anh Josial Wedgwood sản xuất được sành dạng đá (một loại sành có xương mịn, trắng, kết khối tương đối tốt, chất lượng hơn hẳn sành thông thường tuy chưa bằng đồ sứ) Trong ¼ cuối cùng của thế kỷ 18 sành dạng đá đã đẩy lùi mặt hàng majolica Trong thế kỷ 19 ở châu Âu mặt hàng này thay thế cho đồ
sứ đắt tiền
Ngày nay, việc tạo men trên bề mặt của các chi tiết thép, gang hay hợp kim được áp dụng rất nhiều trong các ngành công nghiệp sản suất đồ gia dụng như:
Trang 19Hãng Samsung đã ứng dụng công nghệ men gốm diệt khuẩn vào việc sản xuất các lò vi sóng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lâu bền cũng như an toàn vệ sinh thực phẩm tại mỗi gia đình Lớp men này được sản xuất ở nhiệt
độ cao khoảng 830oC để cho một bề mặt trơn nhẵn và cứng, khó có thể trầy xước bằng các vật nhọn sắc Phủ trên lớp men còn là lớp bảo vệ kháng khuẩn, biến mặt trong khoang lò hoạt động giống như một chất diệt khuẩn và khử mùi hoàn hảo, có thể loại bỏ các mầm bệnh Công nghệ tráng men diệt khuẩn độc đáo này đã giúp Samsung giành được chứng nhận đầu tiên trên thế giới về khả năng tự diệt khuẩn làm sạch từ tổ chức nghiên cứu công nghệ sinh học Hohenstein, Đức Samsung cũng là công ty đầu tiên trên thế giới sử dụng loại vật liệu này vào các lò vi sóng
Hình 5 Khoang lò tráng men gốm cao cấp
Hãng Huper Optik sử dụng công nghệ của Đức để tạo ra loại phim tráng men gốm đầu tiên trên thế giới kiểm soát năng lượng mặt trời Tận dụng
kỹ thuật tiên tiến kết hợp nâng cao phương pháp kiểm soát, các lớp men mịn được lắng đọng trên bề mặt phim trong suốt tạo nên một hàng rào cản nhiệt, ánh sáng chói và tia cực tím hiệu quả Công nghệ duy nhất đã được đăng ký bản quyền của Huper Optik cho phép sản phẩm phim của chúng tôi vượt trội
Trang 20hơn hẳn các loại phim tráng kim, phim phủ bột và phim phủ màu thông thường đang có mặt trên thị trường
Trên phương diện công nghiệp, men được sử dụng thông dụng như là một biện pháp bảo vệ cho các loại vật liệu thép (thép và gang) thường bị hư hỏng nhanh, bị han gỉ và ăn mòn: việc tráng men bảo vệ chúng kịp thời, tránh được chi phí cao cho việc bảo dưỡng và thay thế
Trong những năm gần đây những ứng dụng của men đã phát triển mở rộng đối với cả những sản phẩm có tính chất bề mặt ít bị ăn mòn hơn (nhôm, đồng, inox): nhằm khẳng định giá trị mỹ thuật và giá trị ứng dụng, và ngoài ra cũng là một biện pháp bảo vệ cho những vật liệu này Vì những lý do đó men phủ lên chi tiết thép ngày càng được sử dụng rộng rãi trong gia đình: từ chảo rán đến những dụng cụ nhà bếp, từ đồ vệ sinh đến các thiết bị điện tử và những tấm kết cấu trong xây dựng, hệ thống trao đổi nhiệt, lò phản ứng và tầu thuyền,
+ Thiết bị tráng men đã được sử dụng trong ngành công nghiệp hóa học được hơn một thế kỷ và giữ vai trò quan trọng cho sự phát triển của ngành Phạm vi của thiết bị được sử dụng là rất rộng và bao gồm trong các lò phản ứng, xử lý và bồn chứa, cột, bộ lọc, máy sấy, bộ trao đổi nhiệt, ống nước và nhiều hơn nữa
Men được sử dụng rộng rãi cho các Silo và bồn chứa trong ngành công nghiệp: cung cấp tiện ích bảo vệ chống ăn mòn và mài mòn, chống cháy và tấn công bằng axit và các chất gây ô nhiễm môi trường
Trang 21Hình 6 Bộ trao đổi nhiệt
a) b) Hình 7 a) Bộ khuấy trộn; b) Silo chứa hóa chất
Hình 8 Ống nối khí thải
Trang 22Hình 9 Lò phản ứng
Trang 23Công nghệ tạo men trên bề mặt chi tiết máy và các thiết bị, dụng cụ được ứng dụng rộng rãi trên thế giới bằng các công thức pha chế khác nhau
để tạo nên những sản phẩm có màu sắc và tính chất chịu ăn mòn khác nhau
Hiện nay công nghệ tạo men là một trong những công nghệ tiên tiến được phát triển rất mạnh ở các nước công nghiệp phát triển và được đánh giá
là một trong những công nghệ ứng dụng quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự và hóa chất
1.4 Kết luận chương 1
- Ý nghĩa và tính cấp thiết: Hiện nay việc sản xuất men phủ lên bề mặt chi tiết sắt thép chủ yếu phục vụ cho công nghệ tráng men các đồ gia dụng như bát sắt tráng men, ca sắt tráng men, khay sắt tráng men, chậu sắt tráng men, và một số dụng cụ y tế Tất cả các sản phẩm này có chiều dày rất mỏng (≤ 1mm), công nghệ thì đã được hoàn thiện từ lâu Vì vậy việc nghiên cứu chế tạo loại men phủ và nung thành phẩm chi tiết thép có chiều dày lớn (3-6mm)
và công nghiệp: từ chảo rán đến những dụng cụ nhà bếp, từ đồ vệ sinh đến các thiết bị điện tử và từ những đường ống vận chuyển hóa chất đến những tấm kết cấu trong xây dựng hệ thống trao đổi nhiệt, lò phản ứng và tầu thuyền,
- Mục tiêu, nhiệm vụ của Đề tài: Trên cơ sở công nghệ đã được tìm hiểu tại PTN TĐ và với nguyên vật liệu được sử dụng trong nước, nghiên cứu tính toán xác lập các bài phối liệu tạo men, thiết kế và chế tạo sản phẩm men hoàn chỉnh tương ứng với từng chủng loại chi tiết phục vụ quá trình phủ bề
Trang 24mặt, thiết lập Quy trình công nghệ nâng cao chất lượng lớp tráng men đối với một số chi tiết điển hình
Trang 25CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT
2.1 Khái niệm về men
Men là một lớp vật liệu dạng thủy tinh chiều dày 0,15 – 1,0 mm phủ lên
bề mặt chi tiết Lớp vật liệu này hình thành trong quá trình nung và có tác dụng làm cho bề mặt sản phẩm trở thành sít đặc, nhẵn, bóng Nhờ vậy, men
có ảnh hưởng rõ rệt đến việc tăng độ bền hoá, bền cơ và bền điện của sản phẩm đồng thời nó còn có ý nghĩa lớn đối với việc trang trí sản phẩm
2.2 Phân loại men
Trước đây men được phân loại theo sản phẩm (ví dụ như: men sành, men sứ, men sắt ) sự phân loại này thực tế không thật hợp là vì men dùng cho sành cũng có thể dùng để tráng lên trên bề mặt sản phẩm sành dạng đá hoặc
sứ Ngày nay men được phân loại theo phạm vi nhiệt độ
2.2.1 Phân loại theo thành phần
a) Men chì:
- Men không chứa Bor
- Men chì đơn giản
- Men chì có chứa Bor
b) Men không chứa chì
- Men chứa Bor
- Men không chứa Bor
- Men kiềm (có hàm lượng kiềm cao)
Men có hàm lượng kiềm thấp (men sứ)
2.2.2 Phân loại theo cách sản xuất men
a) Men sống (thường gọi là men)
b) Men frit
Trang 26c) Men được tạo thành do các chất bay hơi bám lên bề mặt sản phẩm tạo nên lớp men (chủ yếu là men muối)
d) Men tự tạo (phối liệu trong quá trình nung hình thành trên bề mặt sản phẩm một bề mặt tương đối nhẵn và bóng)
Các loại men sống có thành phần chủ yếu là đất sét và các chất giúp chảy, ngoài ra có thể có các chất mang màu Loại men này có thể là men chứa chì hoặc không chứa chì và thường thuộc nhóm men có hàm lượng kiềm thấp (men sứ)
Men khử và men Luster (Luy-stơ) loại men này có thể sản xuất theo kiểu men sống hoặc men frit Thành phần của nó có thể là tổ hợp của các nhóm, trừ nhóm men không chứa Bor
Men muối là loại men có thành phần thuộc nhóm en có hàm lượng kiềm thấp
2.2.3 Phân loại theo phạm vi nhiệt độ nung
Người ta chia ra hai loại men: men dễ chảy và men khó chảy
a) Men khó chảy
Men này có nhiệt độ nóng chảy cao (1250 - 1450oC), có độ nhớt lớn, thường là men kiềm thổ, men fenpat hoặc men đá vôi Loại men này có chứa hàm lượng SiO2 cao và hàm lượng kiềm thấp Nguyên liệu thường dùng để sản xuất men là qoắc, fenpat, pecmatit, đá vôi, đá phấn, đôlêmit talc, cao lanh, đất sét, Đó là các loại nguyên liệu không tan trong nước, nên phương pháp sản xuất loại men này là cách sản xuất men sống Loại này thường được tráng lên bề mặt chi tiết (sản phẩm) sành sứ mịn, sành dạng đá
Bảng 1 Thành phần của loại men này dao động trong phạm vi sau:
Trang 273 SiO2 3,5-4,5 5,0-6,0
Men đất sét thường dùng để tráng lên sản phẩm ống dẫn, sản phẩm bền hoá hoặc bình đựng axit Loại men này mặc dù có nhiệt độ chảy thấp hơn so với những men đã nêu ở phần trên, nhưng vẫn được xếp vào loại men này
b) Men dễ chảy
Men loại này có nhiệt độ nóng chảy thấp (dưới 1250oC) độ nhớt của men khi nóng chảy nhỏ Đây là loại men nghèo SiO2 nhưng giàu kiềm và các oxit loại khác Thường được tráng lên sản phẩm sành dạng đá hoặc hàng đất nung Men loại này có thể là men chì hoặc men không chì Trường hợp người ta đưa vào thành phần men các hợp chất dễ chảy mà khả năng hoà tan của nó trong nước lớn hoặc độc thì phải frit hoá trước Các loại men frit nói chung có nhiệt
độ nóng chảy thấp hơn men sống 60-80oC, nhưng lại có nhược điểm là dễ lắng, vì vậy thường phải đưa thêm vào men 10-20% cao lanh, đất sét chưa nung để chống lắng và triệt tiêu kiềm tự do Ngoài ra, còn có thể thêm axit acetic, HCl loãng hoặc axit oxalate, tốt nhất là cho thêm calxium borat
Bảng 2 Thành phần men dễ chảy
Thành phần men dễ nóng chảy Nguyên tố RO Al2O3 SiO2 B2O3
Trang 28Nhiệt độ nung 1000-1080oC, RO chủ yếu là PbO và có thêm một lượng nhỏ kiềm và vôi
Bảng 4 Men Bor có giới hạn sau:
Thành phần men Bor
Nguyên tố RO Al2O3 SiO2 B2O3
Tỷ lệ 1,0 0,2-0,4 1,5 0-0,5
Bảng 5 Những men dễ chảy không frit có thành phần sau:
Thành phần men dễ nóng chảy không frit
Nguyên tố K2O Al2O3 SiO2 B2O3 CaO
Tỷ lệ 0,1-0,25 0,1-0,35 0,6-3,0 0,7-0,9 0,7-0,9 Chú ý khi nung men dễ chảy, dễ bay hơi các cấu tử riêng lẻ Càng nhiều SiO2 thì khả năng bay hơi của các chất càng giảm Men có chứa 1-1,5 Silicat chì thì sự bay hơi hầu như không xảy ra B2O3 đưa vào dưới dạng calxiumborat cũng có tác dụng chống bay hơi tốt Khi trong men có chứa hàm lượng CaO cao cũng dễ làm cho kiềm bay hơi vì CaO có hoạt tính cao với SiO2, để tạo thành các silicat canxi cản trở sử tạo thành silicat kiềm, kiềm tự
do dễ dàng bay hơi ở nhiệt độ cao Để tránh hiện tượng này thì hàm lượng kiềm tối đa là 0,25 mol, CaO tối đa là 0,4 mol và hàm lượng SiO2 tối thiểu là 1,7-3 SiO2
Bảng 6 Men không chì hoặc nghèo chì thường có thành phần sau:
Thành phần men không chì
Nguyên tố K2O Al2O3 SiO2 CaO
Tỷ lệ 0,4 0,4 4 0,6
Nhiệt độ của men có thể giảm khi thêm 0,5-1,0 B2O3
Men muối: thường được dùng trong công nghiệp sành dạng đá để tạo các lộ quý, để trang trí sản phẩm, để tăng độ bền hoá cho dụng cụ bền hoá,
Trang 29bình đựng axit, sứ vệ sinh, ống dẫn, bình đựng rượu,… do men muối là loại men bền axit và là loại men khó chảy
Naumanh và fischer nghiên cứu ảnh hưởng của hơi muối ăn, hơi nước với các cấu tử của xương đã khẳng định rằng: ứng dụng với giai đoạn nung cao lửa nhất (khi sản phẩm bắt đầu kết khối, lúc đó độ hút nước nhỏ hơn 6,5-7%) hơi NaCl tác dụng với hơi nước tạo thành NaOH và HCl tiếp sau đó là phản ứng giữa NaOH với SiO2 và Al2O3 tạo thành men muối theo sơ đồ sau:
2NaOH + SiO2 + H2O = Na2SiO2 + 2HCl
Đây là phản ứng thu nhiệt do vậy cần phải cung cấp nhiệt
Bảng 7 Thành phần men muối dao động như sau:
Theo schuhrecht khi thêm vào xương 1-3% MgO men sẽ bóng hơn, nhưng thêm 3% MgO men trở nên sần mặt
Ứng với cùng một lượng tạp chất sắt phối liệu càng nhiều Al2O3 thì màu càng tối và ngược lại
Đất sét chứa nhiều sắt, đá vôi thì cho ta màu vàng lục
Thêm 3-10% Borax nung trong môi trường khử nhẹ sẽ tăng được độ bóng của men
Để trang trí, người ta có thể dùng các muối khác nhau để tạo men muối khác nhau để có màu như mong muốn
Trang 30Ví dụ như hỗn hợp NaCl và MnCl2 sẽ cho ta màu đỏ tím đến màu đỏ có màu sắc dễ chịu
Hỗn hợp NaCl và CaCl sẽ cho men có màu hơi vàng và dày Tuy nhiên, sản xuất theo cách này không kinh tế nên ít được dùng
2.3 Các tính chất của men
Bản chất của men là một vật liệu dạng thuỷ tinh nên cũng có các thông
số đặc trưng tương tự thuỷ tinh
2.3.1 Độ nhớt
Men không có điểm nóng chảy xác định mà có sự thay đổi dần từ trạng thái dẻo quánh sang trạng thái chảy lỏng Do vậy, độ nhớt cũng sẽ thay đổi dần theo nhiệt độ, nhiệt độ tăng thì độ nhớt giảm và ngược lại
Độ nhớt của men phụ thuộc vào thành phần hoá học của men Qua thực nghiệm, người ta có thể sơ bộ kết luận rằng các oxyt sau đó tác dụng làm tăng
Trang 312.3.2 Sức căng bề mặt
Sức căng bề mặt tác dụng lên ranh giới của pha lỏng theo chiều hướng thu nhỏ mặt pha lỏng Đối với các pha silicat nóng chảy sức căng bề mặt nằm trong khoảng 300 dyn/cm
Dựa vào thành phần hoá học của men, người ta có thể dùng phương pháp cộng tính để tính được sức căng bề mặt
ý nghĩa lớn nếu người ta tráng 2 men cách nhau hoặc chồng lên nhau thì phải tính sức căng bề mặt sao cho 2 men đó phải phù hợp nhau
Nếu không tráng 2 men cách nhau và muốn có ranh giới tiếp xúc sắc nét thì cả 2 men đó phải có sức căng bề mặt bằng nhau
Nếu không, men có sức căng bề mặt lớn hơn sẽ có hại, còn men có sức căng nhỏ hơn sẽ bị men lớn hơn kéo dãn ra
Trường hợp cần trang trí men co người ta có thể dựa vào sức căng bề mặt để điều chỉnh men thích hợp
Sức căng bề mặt của men lớn, khả năng thấm ướt của men với xương kém, thường xảy ra khuyết tật men như phồng, rộp, nứt men, bọt sủi tăm cuốn men ở các sản phẩm (xem thêm phần khuyết tật của men)
Để xác định sức căng bề mặt có thể tính theo Dietzel, hoặc có thể xác định giống như xác định thuỷ tinh bằng phương pháp:
Trang 32- Trọng lượng giọt theo Appen, cần trọng lượng 1 giọt và xác đinh
- So sánh bề mặt thấm ướt của 1 giọt men với mãu đã biết (phần lớn ép lại từng viên) trên 1 bề mặt phẳng được đo sau khi nóng chảy
- Xác định góc thấm ướt bằng cách đo góc ranh giới trong quá trình nóng chảy bằng kính hiển vi nhiệt độ cao
a) Không thấm ướt
180o b) Thấm ướt tốt
0 < ϕ < 180o c) Thấm ướt hoàn toàn
ϕ = 0 Dựa vào thực nghiệm người ta xác định được sức căng bề mặt của men tăng theo dãy sau:
B2O3, ZnO, CaO, NiO2, V2O5, Al2O3, MgO, SnO2,
Và giảm theo dãy sau:
SrO, BaO, SiO2, TiO2, Na2O, PbO, K2O, Li2O
Men giàu CaO và Br, có tỷ lệ Al2O3 và MgO cao cho ta sức căng bề mặt lớn
Người ta còn có thể điều chỉnh sức căng bề mặt mà không cần thay đổi thành phần hoá học bằng cách thay đổi nhiệt độ nung
2.3.3 Sự giãn nở của men
Sự giãn nở của men được biểu thị bằng sự giãn nở của vật khi nâng lên
1 độ gọi là hệ số giãn nở
Sự chênh lệch hệ số giãn nở của men và mộc trong phạm vi hẹp sẽ không gây khuyết tật vì men có khả năng đàn hồi trong một phạm vi nhất định, trước những ứng lực sinh ra, nên giữ cho men không bị nứt, bị bong Tuy nhiên, nếu ứng lực sinh ra lớn hơn độ bền thì sẽ có hiện tượng nứt men hoặc bong men
Trang 33Quá trình giãn nở nhiệt của men cũng tương tự như thuỷ tinh, khi làm nguội dưới điểm chuyển hoá men sẽ đóng rắn men phải làm nguội hoàn toàn
và hệ số giãn nở phải tương đương với KL nền
Nếu men (ở nhiệt độ chuyển hoá) khi làm nguội co lại mạnh hơn xương như vậy sẽ hình thành trong sản phẩm ứng suất kéo (hệ số giãn nở của men quá lớn) và sinh ra vết nứt Trường hợp ngược lại sẽ xuất hiện hiện tượng bong men
Phạm vi hệ số dãn nở ảnh hưởng Biểu đồ phạm vi trạng thái của
men trong đường do hệ số dãn nở của men củ đường cong Dilatomet
a) Men có sức kéo lớn b) Men chịu ứng suất bé
Hình 10 Biểu đồ phạm vi trạng thái của men
Chú ý men có hệ số giãn nở lớn: Khi nung giãn nở mạnh khi làm nguội
co nhiều
Hệ số giãn nở nhỏ: Khi nung nở yếu, co lại ít khi làm nguội
Nếu tráng lên sản phẩm mỏng (tấm lát) thì men sẽ làm cho sản phẩm bị biến hình cong tuy theo ứng lực kéo hay nén mà uốn cong lồi hay lõm Thường phương pháp này được dùng để kiểm tra sản phẩm
Trang 34Hệ số giãn nở men được xác định bằng:
a) Đo bằng Dilattomet
b) Tính toán
Theo kinh nghiệm thì hệ số giãn nở của men tăng theo dãy số sau:
Al2O3, K2O, Na2O, Li2O và giảm theo dãy sau:
CaO, ZnO, MgO, SnO2, B2O3, SiO2
Hệ số giãn nở tăng hạn chế khả năng nứt men Hệ số giãn nở hạn chế hiện tượng bong men
Theo Purdy và Potts thì độ sít đặc của phối liệu tăng sẽ làm giảm hệ số giãn nở
R Riecke đã chứng minh rằng hệ số giãn nở phụ thuộc nhiều vào dạng thù hình của SiO2 cho vào phối liệu
H Kohl chứng minh là Fenpat đưa vào càng nhiều thì sự giãn nở của phối liệu sẽ tăng, nhưng chỉ tăng đến 1180oC, ở nhiệt độ này độ giãn nở nhiệt của phối liệu sẽ giảm
CaCO3 có tác dụng tăng sức giãn nở
Sự giãn nở đột ngột là do sự biến đổi thù hình của Quac gây ra
Về ứng lực giữa xương và men thì Steger cho biết là ứng suất hiện qua nhiều lần nung bị thay đổi, do làm lạnh đột ngột ở vùng trên nhiệt độ thoát ứng lực làm cho sự giãn nở nhiệt của men giảm đi Độ bền kéo của xương cũng có ảnh hưởng Do vậy, sự giãn nở lớn chỉ có thể sinh ra sự nở men lúc làm nguội, còn đối với xương nếu độ bền cơ không đủ có thể bị rã hoàn toàn
2.3.4 Lớp trung gian giữa xương và men, vai trò và sự hình thành lớp này
Tất cả các loại men trong quá trình nung đều có gắn ít hoặc nhiều với xương sản phảm
W.Steger cho rằng khi nung men cần phải tạo ra giữa xương và men một lớp trung gian hay lớp quá độ Lớp này trong một chừng mực nào đó góp phần
Trang 35điều hoà ứng lực xuất hiện giữa xương và men, có tác dụng giảm bớt ứng lực Lớp trung gian này càng dày thì xương và men càng phù hợp với nhau
Sự hình thành lớp men trung gia phụ thuộc vào thành phần xương và men, nhiệt độ nung, sản phẩm, thời gian lưu mẫu ở nhiệt độ nung cao nhất, độ xốp của xương sản phẩm cũng như độ tan của từng loại oxyt trong men
Để tạo lớp trung gian, người ta thường cho thêm axit Boric vào men làm cho lớp trung gian phát triền rất tốt Vì B2O3 có khả năng hoà tan tốt và
ăn sâu vào xương sản phẩm; chì và kiềm cũng là những chất có khả năng tan mạnh, tuy nhiên do kiềm có hệ số giãn nở lớn nên ít được chú ý
Hầu hết các loại men đều có CaO trong thành phần của men, ở dạng bất
kỳ CaO trong men tan ra thì Canxi ở lớp bề mặt xương (kể cả lỗ xốp) và những phần tử có trong dung dịch nóng chảy của men sẽ tan ra, qua đó lớp trung gian được hình thành và phát triển lên từ cả 2 phía
Tương tự như canxi, SiO2 và các hạt phối liệu khác của men cũng tan ra hoặc giảm bớt, tạo nên liên kết bền vững với men Càng nung ở nhiệt độ cao
và thời gian lưu mãu ở nhiệt độ cao càng lâu thì lớp trung gian được tạo thành càng dày
Trong các nguyên liệu thì CaCO3 là phụ gia tốt nhất vì nó có tác dụng chống nứt men tốt, tạo chất trung gian tốt
Vô-lát-tô-nít (CaO.SiO2) và Dôlômet cũng là những chất có khả năng tạo lớp trung gian tốt Nhưng CaO.SiO2 tránh được sự trao đổi CO2 nên men chảy láng bóng, còn Dolomet có tác dụng kém hơn cả
Phụ gia CaCO3 cho vào xương có tác dụng chống nứt men tốt do
- Tăng hệ số giãn nở cho xương
- Tăng quá trình tạo lớp trung gian
- Cản trở sự trương nở của xương
Ngoài ra còn có tác dụng cho các vết nứt sít đặc trở lại
Trang 362.3.5 Độ cứng của men
Đối với men người ta không thể nói 1 cách chung chung về độ cứng của men, bởi vì có 1 số thông số về độ cứng ứng với những phương pháp kiểm tra khác nhau, vì vậy độ cứng của men không thể xem là khái niệm riêng lẻ Trong thực tế để xác định độ cứng của men người ta dùng các phương pháp tương ứng với từng loại men
Đối với sản phẩm sử dụng dân dụng (chén, bát đĩa) gạch men, hoặc vật phẩm kỹ thuật thường người ta xác định độ cứng thông qua độ bền chống lại đường vạch (vết xước) và độ bền lún của sản phẩm Còn sản phẩm là gạch lát nền, ống dẫn, các loại trang trí bên ngoài … thì chủ yếu do độ bền chống bào mòn
Cách xác định
a) Bền chống lại đường vạch (vết xước)
Dùng kim cương hoặc những vật liệu có độ cứng theo thang Mooc Một mặt xác định trọng lượng cần thiết của mũi kim cương để vạch một chiều rộng (hoặc sâu) xác định, mặt khác đối chiếu với vật liệu trong thang Mooc đã xác định trước có vết xước giống như đã tạo ra trên bề mặt men Căn cứ vào
độ xác định độ cứng của men
Theo kinh nghiệm độ cứng của men tăng theo dãy sau:
Mgo, CaO, SnO2, ZnO, Al2O3, TiO2, SiO2 và B2O3 Trong đó B2O3
dưới 12% tăng độ bền chống vết xước B2O3 trên 12% ngược lại sẽ giảm độ bền chống vết xước
Trang 37Hình 11 Độ bền chống cào, rạch
Ảnh hưởng của các oxyt thêm vào men chì Bor đến độ bền rạch
b) Độ lún
Độ lún được đo bằng lực ấn xuống của 1 hình mén bằng kim cương lên
bề mặt của men và khi rút lên để lại lỗ sâu
c) Độ bền chống bào mòn
Độ bền chống bào mòn được biểu thị bằng độ hao mòn trọng lượng của vật liệu sau khi mài Người ta có thể mài bằng phương pháp như mài, cày bằng cát, bằng SiO2 hoặc Corun v.v Nhưng đến nay chủ yếu vẫn dùng phương pháp Sceet (phương pháp phun cát lên bề mặt sản phẩm ứng với 1 độ cao nhất định và sau 1 thời gian thời gian nhất định)
Độ bền chống bào mòn không những chỉ là biểu tượng cho độ cứng mà còn có liên quan đến tính đàn hồi, độ sít đặc, tính dòn của sản phẩm
Theo Weyl thì PbO tuy giảm độ bền chống vết xước, nhưng lại làm tăng độ bền chống bào mòn
Theo kinh nghiệm độ bền chống bào mòn tăng theo dãy sau:
Trang 38PbO, Al2O3, SnO2, SrO, MgO, CaO, B2O3, SiO2
Riêng B2O3 có độ bền chống bào mòn cao nhất ứng với hàm lượng
B2O3 = 12%
Men ứng với hình chảy ở SK OI a (1080oC) Độ bào mòn được đo bằng phương pháp Sceet ứng với cùng 1 thiết bị và độ cứng của hạt mài không đổi
Hình 12 Ảnh hưởng của các oxyt thêm vào men chì Bor đến độ bền khi mài
2.3.6 Tính chất điện của men
Nhiệm vụ của men là phải đảm bảo tính cách điện tốt và chống được hiện tượng bong men, nứt men khi các chi tiết sử dụng cách điện làm việc
- Ảnh hưởng của các oxyt có mặt trong pha thuỷ tinh (men) đến độ cách điện như sau:
Theo thứ tự tạo pha thuỷ tinh điện trở của men tăng theo các oxit CaO,
B2O3, PbO, Fe2O3, MgO, ZnO, SiO2
Còn các oxyt sau có tác dụng giảm điện trở: Al2O3, K2O, Na2O Chiều dày của vỏ nước đọng lại trên thuỷ tinh của dãy chất nóng chảy trong hơi nước bão hoà được xác định bởi khả năng dẫn điện của nó Những chất kiềm
Trang 39tăng đối với các chất tạo pha thuỷ tinh khác cho ta chiều dày tối thiểu ứng với hàm lượng nhất định
Người ta có thể sắp xếp các chất tạo thuỷ tinh theo ảnh hưởng đối với
sự cản trở việc tạo thành một vỏ nước theo thứ tự như sau:
CaO, BaO, B2O3, Al2O3, Fe2O3, MgO, ZnO, PbO, SiO2
Những oxyt này cản trở sự tạo vỏ nước ứng với từng điểm tối ưu của
nó Còn K2O và Na2O thì lại thuận lợi cho việc tạo vỏ nước
Đó là những số liệu đưa ra qua thực nghiệm về sự cách điện Khả năng dẫn điện là do ảnh hưởng chính của kiềm đối với men, hàm lượng kiềm càng cao càng dẫn điện Theo Hinz điều này ứng với sự giao động của các ion kiềm trong màng lưới thuỷ tinh Khi có hàm lượng PbO thì sự giao động của các
có tác dụng làm giảm tác dụng của kiềm Đối với các điện trở tốt nhất là dùng càng ít kiềm càng tốt (tốt nhất là không nên có kiềm) Qua việc loại bỏ kiềm thì đầu tiên sẽ đạt được yêu cầu về cách điện tốt Ví dụ ở 800oC, người ta dùng men sau:
Trang 40Hình 13 Ảnh hưởng của các phụ gia đối với độ dẫn điện
Phụ gia oxyt theo % trọng lượng thuỷ tinh gốc: Na2O (18%), SiO2
Men phốt phát không có độ bền hoá cao, hàm lượng BPO4 trên 25-30%
có thể bị ăn mòn mạnh (tuỳ theo thành phần của men) sau vài tháng để trong môi trường ẩm thông thường PbO cũng như men B2O3 ít bền hoá, vì vậy người ta ít dùng nếu người ta cần độ bền hoá cao Thay PbO bằng SrO thì bền axit giảm Hàm lượng SiO2 càng cao thì độ bền chống ăn mòn hoá càng cao Hàm lượng Bor càng ít thì độ bền axit càng tăng (chỉ dùng tối đa 10%) nhưng lại rất chóng hỏng Ngay khi dùng B2O3 thay SiO2 để làm thuỷ tinh Kepplor