BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO MÔN HỌC THÍ NGHIỆM VẬT LIỆU HỌC GVHD Nguyễn Thanh Tân & Nguyễn Nhựt Phi Long SVTH Nguyễn Văn Thông LỚP 22LC43[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO MÔN HỌC THÍ NGHIỆM VẬT LIỆU HỌC
GVHD: Nguyễn Thanh Tân &
Nguyễn Nhựt Phi Long
SVTH: Nguyễn Văn Thông
LỚP:22LC43DN3, Nhóm 5
MSSV: 22843183 Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 3 năm 2023
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Điểm………
Trang 3BÀI 1 CHUẨN BỊ MẪU ĐỂ NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC TẾ
VI KIM LOẠI VÀ HỢP KIM
I MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Đánh giá được tầm quan trọng của công tác chuẩn bị mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu kim loại để nghiên cứu
Thực hành các bước để chuẩn bị mẫu nghiên cứu: mài, đánh bóng, tẩm thực
Sử dụng thiết bị và vật tư cho việc làm mẫu nghiên cứu
Chọn dung dịch tẩm thực thích hợp
II CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Cấu tạo kim loại và hợp kim
Vật liệu kim loại thường có cấu tạo gồm nhiều đơn tinh thể liên kết
chặt chẽ với nhau, được gọi là đa tinh thể
Đơn tinh thể được coi là tinh thể hoàn chỉnh, đa tinh thể gồm nhiều
đơn
tinh thể
Từng đơn tinh thể trong đa tinh thể được gọi là hạt tinh thể, do đó cấu
trúc
đa tinh thể còn được gọi là cấu trúc (tổ chức) hạt
Các nguyên tử trong từng hạt tinh thể luôn luôn sắp xếp một cách có trật tự
Các nguyên tử ở biên giới hạt thường sắp xếp không trật tự
do tác động của các hạt xung quanh
Hợp kim được cấu tạo từ một hoặc nhiều pha Các pha khác nhau đều có
các tính chất đặc trưng khác nhau (cơ tính, lý tính, hóa tính)
Mục đích của chuẩn bị mẫu là để nghiên cứu, phân biệt rõ cấu trúc (tổ chức) hạt,
biên giới hạt, các pha… khi quan sát dưới kính hiển vi kim loại Công việc này được gọi là nghiên cứu tổ chức tế vi
Kính hiển vi kim loại
Nguyên lý: Phóng đại hình ảnh bề mặt mẫu đã được chuẩn
bị bằng kính hiển vi, sử dụng ánh sáng phản xạ từ bề mặt
mẫu.
Độ phóng đại của kính hiển vi kim loại thường trong
khoảng 80 ÷ 2000 lần (được tính theo tích số độ phóng đại vật
kính, độ phóng đại thị kính, và hệ số hiệu chỉnh) Muốn quan
sát với độ phóng đại cao hơn phải dùng kính hiển vi điện tử.
Nhờ kính hiển vi mà ta có thể quan sát
được tổ chức của các pha, sự phân bố, hình
dáng và kích thước của chúng Với gang
graphite, có thể dễ dàng xác định được hình
dáng, kích thước, và sự phân bố của graphite
trên pha nền Ngoài ra, còn có thể thấy được
các khuyết tật của vật liệu như: vết nứt tế vi,
rỗ và các tạp chất…
Trang 4II THÍ NGHIỆM CHẾ TẠO MẪU
1 Chọn và cắt mẫu
Chọn mẫu: Tùy theo yêu cầu và nhiệm vụ của nghiên cứu và thí nghiệm mà ta chọn mẫu cho phù hợp
Máy cắt mẫu
Hình 1.4 - Máy cắt mẫu
Cắt mẫu: dựa vào mục đích quan sát mà ta có thể cắt mẫu theo tiết diện ngang hoặc cắt theo
dọc trục Kích thước mẫu: ∅10x10; ⬜10x10 mm Với các thép và gang đã nhiệt luyện thì yêu cầu nhiệt độ của vị trí cắt không quá 1000C
VD : Quan sát sự thay đổi tổ chức từ bề mặt vào lõi cắt theo tiết diện ngang.
Muốn nghiên cứu tổ chức dạng thớ, sợi nên cắt theo chiều dọc trục
a) Cắt theo tiết diện ngang b) Cắt theo tiết diện dọc
Hình 1.5 - Các kiểu cắt mẫu
Nếu mẫu quan sát nhỏ cần phải dùng kẹp để giữ mẫu hoặc đổ khuôn cố định mẫu
Trang 5Hình 1.6 - Các kiểu kẹp mẫu
2 Mài mẫu
2.1 Mài thô
Mẫu được mài trên máy mài hoặc đánh bằng giấy nhám hạt thô sao cho hai mặt đối diện (AB) song song với nhau, sau đó vát mép
Hình 1.7 - Máy mài
Giấy nhám: Giấy nhám có các số 180; 240; 320; 400; 600 v v…Con số chỉ số hạt mài trên 1
cm2.
Đầu tiên mài trên giấy nhám 180: Giấy nhám đặt trên mặt bàn phẳng (tấm kính), dùng tay nắm chặt mẫu, tì nhẹ mặt mẫu vào mặt giấy nhám vị trí 1, đẩy mẫu tới vị trí 2, nhấc mẫu lên khỏi
bề mặt giấy nhám, đưa về vị trí 1 và lặp lại động tác đã thực hiện
Sau khi mài 50÷70 lần, bề mặt mẫu chỉ còn các đường song song
Sau đó quay mẫu 900, tiếp tục mài trên giấy nhám, khử các hệ xước cũ và tạo hệ xước mới Lặp đi lặp lại bước mài và xoay từ 3-5 lần
Quan sát bằng mắt thường, thấy các hệ xước đều và sâu như nhau thì lần lượt chuyển sang giấy nhám cỡ 240, sau đó 320 và cuối cùng là cỡ 400
Chú ý: Khi chuyển từ giấy mài thô sang giấy mịn hơn phải lau sạch mẫu để tránh hạt mài thô
bám trên mẫu chuyển sang giấy nhám mịn hơn
2.2 Mài bóng
Sau khi hoàn tất mài thô, ta tạo được bề mặt tương đối phẳng nhưng bề mặt vẫn tồn tại các vết xước khá lớn→ đem rửa sạch → đánh bóng để xóa các vết xước trên bề mặt mẫu
Mài bóng bằng miếng dạ hay vải nỉ kết hợp với một số hỗn hợp đánh bóng
Một số hỗn hợp được dùng để đánh bóng mẫu
Bảng 1.1 – Thành phần hỗn hợp đánh bóng thông dụng
Tên các chất Hỗn hợp oxit crôm (%) Hỗn hợp oxit nhôm (%) Mị
n Trung bình Thô Mị n Trung bình Thô
AxitoleicC17H33CO2H 1.8 1.8 - 3 2 3
Nếu sau khi mài bóng, quan sát trên kính hiển vi vẫn thấy còn vết xước thì phải tiến hành mài bóng lại
Sau khi mài bóng xong, phải rửa mẫu lại cho thật sạch và sấy khô mẫu
Vát mép Mặt A
Mặt B
Trang 62.3 Tẩm thực
Muốn nghiên cứu tổ chức tế vi cần phải tẩm thực mẫu Tẩm thực là quá trình ăn mòn bề mặt kim loại bằng các dung dịch hóa học thích hợp
Dung dịch hóa học được gọi là dung dịch tẩm thực
Một số dung dịch tẩm thực thông dụng:
Bảng 1.2 - Dung dịch tẩm thực thông dụng
ST
1 - 4% acid HNO
3 trong cồn Gang, thép cacbon
Dùng ngay sau pha
2 - 4% acid picric trong cồn Gang, thép cacbon
3 - Dung dịch picrat natri Phân biệt giữa F và Ce
trong Pearlite tấm
4 - 20 cm3 HCl đậm đặc + 5g
CuSO4+ 20 cm3 H2O Thép bền nóng
5 - 3 phần HCl + 1 phần HNO3 Thép không gỉ
1 - Dung dịch 0.5% HF trong
nước Hợp kim nhôm
Với thép cacbon ta sử dụng dung dịch 4% HNO3 trong cồn > 900, nhúng mẫu vào
dungVới thép cacbon ta sử dụng dung dịch 4% HNO3 trong cồn > 900, nhúng mẫu vào dung dịch và giữ trong thời gian từ vài giây tới vài chục giây
Hình 1.9 – Tẩm thực và rửa mẫu
Sau đó rửa sạch bề mặt ở vòi nước chảy để tránh ăn mòn hóa học sâu vào bề mặt kim loại, cuối cùng rửa lại bằng cồn và đem sấy khô Nếu quan sát trên kính hiển vi, các đường biên giới hạn đứt đoạn là tẩm thực chưa đủ thời gian, phải đem tẩm thực thêm Ngược lại, bề mặt mẫu có màu đen đậm, độ tương phản kém thì mẫu đã tẩm thực quá lâu, phải đem đánh bóng và tẩm thực lại
Trang 7- Sạch bavia
- Máy mài đá 2 đầu
- Đeo kính bảo hộ
- 180 240 320 400 (hạt /cm2)
- Làm sạch
- Hỗn hợp Cr2O3 + H2O
- Vải nỉ
- Dung dịch 4% HNO3+cồn (thép cacbon)
- Rửa sạch lau khô sấy
- Kính hiển vi kim loại
- Xước đánh bóng
- Tẩm thực đậm, lâu đánh bóng
- Tẩm thực mờ tẩm thực thêm
III CÁC BƯỚC THỰC HIỆN
1 Nhận phôi và mài bavia trên máy mài
Đeo kính bảo hộ
Đứng góc 45 so với máy
Mài góc bị sùi bavia
Tắt máy cất kính bảo hộ
2 Tiến hành mài mẫu lần lượt với các mẫu giấy nhám từ thô tới tinh như P180, P240, P320, P400
Cách Mài Mẫu:
Đặt giấy nhám lên bề mặt phẳng sạch
Dùng tay cảm nhận mẫu di chuyển dọc theo giấy nhám lên xuống 5 lần
Dùng tay cảm nhận mẫu di chuyển ngang theo giấy nhám lên xuống 5 lần
Mài
Thô
Mài Nhám
Đánh Bóng
Tẩm Thực
Quan Sát
Trang 8 Lặp lại chu trình trên 10 lần cho giấy P180, P240, P320, P400.
Hướng mài
Lưu ý:
- Giấy càng mịm thao tác càng nhẹ nhàng
- Mẫu đạt yêu cầu khi bề mặt sang, ít vết xức – vết xước
3 Đánh bóng bề mặt bằng máy đánh bóng
Thao tác đánh bóng: thoa một ít bột Crom trộn với nước thoa vào mặt mài
Di chuyển mẫu theo hình tam giác hoặc xoay mẫu tại chỗ
Sau khi đánh bóng xong dùng nước rửa sạch mặt đánh bóng sau đó lau khô Xem dưới kính hiển vi và nhận kết quả
4 Ảnh sau khi đánh bóng đạt
Trang 9Trình tự thao tác:
Cắm điện bật công tắc đèn điều chỉnh ảnh sang phù hợp (không nên để đèn sáng quá dễ đứt tim bóng đèn)
Chọn vật kính thị kính: điều chỉnh dãn cách mắt
Đặt mẫu lên bàn mẫu, dùng núm điều chỉnh để mẫu ở vị trí trực diện với vật kính
Điều chỉnh thô kết hợp với quan sát trong thị kính,khí ánh sáng trong thị kính sáng hẳn lên là lúc sắp nhìn thấy tổ chức tế vi, lúc này cần điều chỉnh nhẹ nhàng từng chút một để có thể quan sát tổ chức tế vi hơi mờ
Điều chỉnh tinh để nhìn rõ hơn tổ chức tế vi
Kính hiển vi kim loại
5 Ảnh sau khi tẩm thực bằng dung dịch axit
Trang 10IV KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM
TRÌNH TỰ THAO TÁC
- Nhận mẫu
- Mài bavi bằng máy mài
- Mài mẫu trên giấy nhám 180,240,360,480 cho sạch và bóng
- Đánh bóng mẫu trên máy mài bóng
- Xem TCTV coi được chưa
- Tẩm thực và xem TCTV và chụp hình mẫu
4.1 Mẫu trước khi tẩm thực
4.2 Mẫu sau khi tẩm thực
Trang 114.3 Kết luận
Dựa trên tổ chức tế vi cảu mẫu được nhận , ta có thể đưa ra kết quả như sau:
Mẫu là thép trước cùng tích với tỉ lệ cacbon vào khoảng 0.6%
Theo tính toán từ quy tắc đòn bẩy, khi lượng cacbon tang lên thì tỷ lệ phần Pelic ( màu tối) trong tổ chức tang lên, còn ferric (phần sáng ) giảm đi Nếu không chứa cacbon hay quá ít cacbon (0.02-0.05) tức là màu sáng hoàn toàn.với 0.1% C thì tỉ lệ phần tối đa là 1/8 với 0.4% C thì tỷ lệ sáng là ½ với 0.6% C là ¾ cuối cùng với 0.8% là tối hoàn toàn