MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Chính sách công là một trong những công cụ quản lý quan trọng của mỗi quốc gia được nhà nước sử dụng trong việc điều chỉnh và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển đất nước. Nói cách khác, chính sách công là công cụ để Nhà nước đề ra và hiện thực hóa các mục tiêu, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng mà Đảng, Nhà nước đã đề ra. Một chính sách công từ khi ra đời đến khi kết thúc đều trải qua một quá trình, gọi là chu trình chính sách công. Theo đó, một chu trình chính sách thường có 4 giai đoạn, đó là khởi sự chính sách, hoạch định chính sách, thực thi chính sách, đánh giá chính sách. Mỗi giai đoạn đều có vai trò riêng, ảnh hưởng đến chất lượng của một chính sách, trong đó đánh giá chính sách là giai đoạn rất quan trọng nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm để hoàn thiện hoặc thực hiện tốt hơn ở những chính sách sau. Đánh giá chính sách là việc kiểm tra trên thực tế, có hệ thống những tác động do việc thực hiện các giải phập chính sách mang lại và so sánh nó với mục tiêu ban đâu để xác định chính sách có đạt mục tiêu mong muốn hay không. Có nhiều cách tiếp cận để đánh giá chính sách, song chủ yếu được đánh giá từ 3 phương diện: đánh giá chính trị, đánh giá tư pháp và đánh giá hành chính. Đánh giá chính trị là loại đánh giá được tiến hành bởi những người có lợi ích trong hoạt động chính trị, thường không có tính hệ thống và không phức tạp về mặt kỹ thuật mà tập trung vào khía cạnh khả thi chính trị của phương án chính sách, từ đó ủng hộ hay phản đối chính sách. Đánh giá tư pháp là loại đánh giá được tiến hành nhằm đánh giá tính hợp pháp của việc ban hành và thực hiện một chính sách. Đánh gia hành chính là đánh giá được thực hiện bởi hệ thống hành chính nhà nước nhằm xác định hiệu lực và hiệu quả của một chính sách. Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa cũng như cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và trên thê giới đã tác động mạnh đến nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội và trình độ dân trí ngày càng cao đặt ra đòi hỏi ngày càng lớn của xã hội đối với Nhà nước. Đồng thời, những biến động lớn về môi trường, tài nguyên, dân số... đang đặt ra những thách thức lớn đòi hỏi Nhà nước phải ban hành các chính sách công để giải quyết Trong những năm gần đây, số lượng văn bản quy phạm pháp luật tăng lên nhiều, phản ánh nỗ lực của Nhà nước trong việc ban hành chính sách để giải quyết các vấn đề đặt ra. Các chính sách này đã có tác động tích cực đến đời sống kinh tế xã hội, giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết. Tuy nhiên, nhiều chính sách khi tiến hành triển khai còn gặp khó khăn, quá trình thực thi không đạt được mục tiêu đề ra bởi nguyên nhân từ nhiều phía (vốn, đối tượng thực thi chính sách, phong tục tập quán của từng địa phương...), nhiều chính sách không đem lại lợi ích tương xứng với chi phí bỏ ra. Do đó, cần coi đánh giá chính sách như một hoạt động không thể thiếu trong quy trình chính sách. Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Phân tích các tiêu chí đánh giá chính sách công? Lựa chọn một chính sách công mà anh (chị) quan tâm và đánh giá chính sách đó thông qua các tiêu chí đã phân tích?” làm đề tài tiểu luận của mình.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Chính sách công là một trong những công cụ quản lý quan trọng củamỗi quốc gia được nhà nước sử dụng trong việc điều chỉnh và giải quyết cácvấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển đất nước Nói cách khác, chính sáchcông là công cụ để Nhà nước đề ra và hiện thực hóa các mục tiêu, góp phầnthúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng mà Đảng, Nhà nước đã đề ra
Một chính sách công từ khi ra đời đến khi kết thúc đều trải qua một quátrình, gọi là chu trình chính sách công Theo đó, một chu trình chính sáchthường có 4 giai đoạn, đó là khởi sự chính sách, hoạch định chính sách, thựcthi chính sách, đánh giá chính sách Mỗi giai đoạn đều có vai trò riêng, ảnhhưởng đến chất lượng của một chính sách, trong đó đánh giá chính sách làgiai đoạn rất quan trọng nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm để hoàn thiệnhoặc thực hiện tốt hơn ở những chính sách sau
Đánh giá chính sách là việc kiểm tra trên thực tế, có hệ thống những tácđộng do việc thực hiện các giải phập chính sách mang lại và so sánh nó vớimục tiêu ban đâu để xác định chính sách có đạt mục tiêu mong muốn haykhông Có nhiều cách tiếp cận để đánh giá chính sách, song chủ yếu đượcđánh giá từ 3 phương diện: đánh giá chính trị, đánh giá tư pháp và đánh giáhành chính Đánh giá chính trị là loại đánh giá được tiến hành bởi nhữngngười có lợi ích trong hoạt động chính trị, thường không có tính hệ thống vàkhông phức tạp về mặt kỹ thuật mà tập trung vào khía cạnh khả thi chính trịcủa phương án chính sách, từ đó ủng hộ hay phản đối chính sách Đánh giá tưpháp là loại đánh giá được tiến hành nhằm đánh giá tính hợp pháp của việcban hành và thực hiện một chính sách Đánh gia hành chính là đánh giá đượcthực hiện bởi hệ thống hành chính nhà nước nhằm xác định hiệu lực và hiệuquả của một chính sách
Trang 2Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường,quá trình hội nhập và toàn cầu hóa cũng như cuộc khủng hoảng tài chính khuvực và trên thê' giới đã tác động mạnh đến nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởngtrực tiếp đến đời sống người dân Xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội vàtrình độ dân trí ngày càng cao đặt ra đòi hỏi ngày càng lớn của xã hội đối vớiNhà nước Đồng thời, những biến động lớn về môi trường, tài nguyên, dânsố đang đặt ra những thách thức lớn đòi hỏi Nhà nước phải ban hành cácchính sách công để giải quyết
Trong những năm gần đây, số lượng văn bản quy phạm pháp luậttăng lên nhiều, phản ánh nỗ lực của Nhà nước trong việc ban hành chính sách
để giải quyết các vấn đề đặt ra Các chính sách này đã có tác động tích cựcđến đời sống kinh tế - xã hội, giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết Tuy nhiên,nhiều chính sách khi tiến hành triển khai còn gặp khó khăn, quá trình thực thikhông đạt được mục tiêu đề ra bởi nguyên nhân từ nhiều phía (vốn, đối tượngthực thi chính sách, phong tục tập quán của từng địa phương ), nhiều chínhsách không đem lại lợi ích tương xứng với chi phí bỏ ra Do đó, cần coi đánhgiá chính sách như một hoạt động không thể thiếu trong quy trình chính sách
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Phân tích các tiêu chíđánh giá chính sách công? Lựa chọn một chính sách công mà anh (chị) quantâm và đánh giá chính sách đó thông qua các tiêu chí đã phân tích?” làm đề tàitiểu luận của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về phân tích các tiêu chí đánh giá chính sách công.Luận văn cũng đã lựa chọn một chính sách công mà mình quan tâm và đánhgiá chính sách đó thông qua các tiêu chí đã phân tích
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 3Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, tiểu luận tập trung vào cácnhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận về các tiêu chí đánh giá chính sách công Hai là, lựa chọn một chính sách công mà mình quan tâm và đánh giáchính sách đó thông qua các tiêu chí đã phân tích
3 Đối tượng nghiên cứu
Phân tích các tiêu chí đánh giá chính sách công? Lựa chọn một chínhsách công mà anh (chị) quan tâm và đánh giá chính sách đó thông qua cáctiêu chí đã phân tích?
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm: Phương pháp cụthể: Nghiên cứu tài liệu, phân tích - tổng hợp, khảo sát, đánh giá thực tế
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG 1.1 Đánh giá chính sách công
1.1.1 Khái niệm đánh giá chính sách công
Trang 4Đánh giá chính sách công là những hoạt động ảnh có tính hệ thống nằmtrong một tiến trình; các hoạt động này nhằm kiểm tra toàn bộ các khía cạnhhay một khía cạnh của một can thiệp chính sách (đầu vào, các hoạt động thựchiện các đầu ra kết quả đầu ra và tác động) và làm thế nào để sử dụng nó hiệuquả các nguồn lực.
Đánh giá chính sách công có thể bao gồm đánh giá quá trình hay đánhgiá hoạt động, đánh giá tác động, đánh giá chéo, đánh giá trước, đánh giá sau,đánh giá đầu kỳ, đánh giá giữa kỳ, đánh giá cuối kỳ Các loại đánh giá nhằmmục đích cải thiện can thiệp chính sách Đánh giá chính sách công cũng liênquan đến quá trình xác định giá trị hoặc ý nghĩa của một can thiệp chính sách.Một đánh giá càng khách quan và càng hệ thống thì càng tốt
Tóm lại, đánh giá chính sách công, là xem xét khách quan và có hệthống về một chính khách đang được thực hiện hoặc đã hoàn thành để xácđịnh tính thích hợp hiệu quả ả hiệu lực tác động và tính bền vững của nó Cácđánh giá bao gồm thiết kế cách thực hiện và kết quả của nó Một đánh giá cầncung cấp thông tin tin cậy và hữu ích, cho phép hợp nhất các bài học kinhnghiệm vào quá trình ra quyết định của nhà quản lý, những người thụ hưởng
và nhà tài trợ
1.1.2 Vai trò của đánh giá chính sách công
Đánh giá chính sách cung cấp cho các nhà hoạch định chính sáchnhững kinh nghiệm, bài học trong việc ban hành chính sách; xem xét tính hợp
lý của chính sách; cung cấp cách nhìn, bài học thực tế trong việc thực hiệnchính sách; góp phần tổng kết thực tiễn, hoàn thiện chính sách thông qua việcrút ra những thiếu sót của các chính sách để bổ sung cho chính sách mới
1.1.3 Các đặc trưng của đánh giá chính sách công
- Đánh giá chính sách công tập trung vào việc phán xét các giá trị thuđược
Trang 5- Đánh giá chính sách công căn cứ vào những kết quả thực tế.
1.2 Các tiêu chí đánh giá chính sách công
Tiêu chí là thước đo, chuẩn mực đặt ra trong tường điều kiện hoàn cảnh
cụ thể làm công cụ để phân tích đánh giá lựa chọn các phương pháp và giảipháp chính sách đánh giá chính sách là việc xem xét, nhận định về giá trị cáckết quả thực hiện chính sách; vì vậy phải dựa vào những thức nào nhất địnhhay còn gọi là những tiêu chí (căn cứ) đánh giá chính sách gồm các tiêu chí
xã hội và tiêu chí chính trị Trong hai mặt đó (xã hội và chính trị) khó có thểkhẳng định được tiêu chí nào tốt hơn trội hơn bởi vì một chính sách có thể cólợi về mặt chính trị nhưng hiệu quả xã hội có thể không cao; hoặc ngược lại.Xác định các tiêu chí đánh giá chính sách là công việc khó khăn và thườnggây nhiều tranh cãi, bởi vì cùng một kết quả thực hiện có thể được nhìn nhậndưới các góc độ khác nhau Song nhìn chung, tiêu chí đánh giá chính sáchphải đáp ứng các yêu cầu sau: tính khoa học, tính khách quan, tính so sánh,tính phương hướng, tính chính xác Nhìn chung có 6 tiêu chí đánh giá chínhsách được thừa nhận rộng rãi sau đây:
1.2.1 Tính hiệu lực của chính sách công
Là tiêu chí phản ánh mức độ tác động, làm biến đổi hoặc duy trì tồn tại
xã hội của chính sách đó trên thực tế theo mong muốn của chính phủ Hiểutheo nghĩa thông thường thì hiệu lực của chính sách là những tác dụng hiệnhữu của chính sách gây ra Tính hiện hữu là thuộc tính tồn tại của chính sáchphản ánh sự tác động của chính sách lên các đối tượng của nó, được xác địnhbằng mốc thời gian bắt đầu phát sinh tác dụng (kể cả tác hại) của chính sách.Hiệu lực của chính sách phản ánh tính đúng đắn cả về lý thuyết cũng như hoạtđộng thực tế, và là kết quả tác động tổng hợp của cả hiệu lực lý thuyết cũngnhư hiệu lực thực tế
Trên thực tế hiện tượng kém hiệu lực hay không có hiệu lực (vô hiệu)của một chính sách thường bắt nguồn từ những nguyên nhân sau đây:
Trang 6Một là những nguyên nhân khách quan: các chính sách ra đời phát huytác dụng và suy giảm hiệu lực theo quy luật vòng đời của chính sách Thôngthường các chính sách đều phải trải qua 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn đầu (đưa chính sách và thực hiện): do mới ra đời chínhsách ít được xã hội hưởng ứng và gặp nhiều trở ngại trong nguyên nhân (mới
lạ, do quan hệ lợi ích thay đổi, những người thực thi chính sách chưa đủ hiểubiết và kinh nghiệm, hay chính sách có thể thiếu sót)
+ Giai đoạn 2 (giai đoạn hiệu quả và hiệu lực): Sau một thời gian nhấtđịnh, mọi người đều dành nhiều và đồng tình với chính sách, mặt khác bảnthân chính sách cũng từng bước được hoàn thiện, nên trong giai đoạn nàychính sách phát huy được hiệu quả trong mong muốn của các nhà hoạch địnhchính sách
+ Giai đoạn 3 (giai đoạn hiệu lực giảm): Do chính sách trở nên quenthuộc với những người thực thi và do những thay đổi của xã hội nên tác độngcủa chính sách suy giảm Vì vậy, trong xã hội ngày thật thi chính sách phải cónhững hình thức mới thích hợp, nếu không sẽ trở nên lỗi thời (Vô hiệu ngẫunhiên)
+ Giai đoạn 4 (giai đoạn lạc hậu): Do điều kiện khách quan, chínhsách trở nên lão hóa, gần như mất hết hiệu lực nó đã làm xong nhiệm vụ củamình và đòi hỏi phải được điều chỉnh hoặc xây dựng chính sách mới thíchhợp với điều kiện mới
Hai là, những nguyên nhân chủ quan:
Ngoài ra các nguyên nhân khách quan, hiện tượng vô hiệu của cácchính sách còn có thể do các nguyên nhân chủ quan sau:
+ Các chính sách không đem lại lợi ích thiết thực cho xã hội Do ý thứcchủ quan của một số nhà lãnh đạo hoặc tư vấn tồi của đội ngũ viên chức giúpviệc cho các nhà lãnh đạo đề ra chính sách
Trang 7+ Chính sách được đề ra không đủ các điều kiện thực thi (kinh phí,nhân sự, tổ chức, và kinh nghiệm cần thiết); hoặc nó được đưa ra tùy tiệncùng một lúc hàng loạt chính sách.
+ Độ nhờn chính sách: là ấn tượng xấu của nhân dân trong việc thựchiện các chính sách trong quá khứ
+ Các lực lượng chống đối chính sách quá mạnh mà nhà nước lại không
đủ năng lực để đối phó, xử lý
+ Kỷ cương, pháp luật không nghiêm
1.2.2 Tính hiệu quả của chính sách công
Tính hiệu quả của một chính sách phản ánh tương quan so sánh các kếtquả đạt được của chính sách so những chi phí và công sức đã bỏ ra để đạt kếtquả đó Đánh giá hiệu quả chính sách là sự phối hợp các phân tích riêng lẻ cácyếu tố chi phí và lợi ích trong suốt vòng đời chính sách để xác định kết quảtổng hợp Vì vậy, để đánh giá xác thực về hiệu quả của chính sách, yêu cầutrước hết là phải cụ thể và chi tiết hóa được các yếu tố liên quan đến chi phí
và lợi ích của chính sách đó
Hiệu quả của một chính sách còn thể hiện ở hiệu quả của các hoạt độngphối hợp chính sách Đây là một tất yếu khách quan, bởi ranh giới giữa tácđộng và chi phí của các chính sách thường có những khoảng không rõ ràng
mà chúng đan xen, chi phối lẫn nhau (chẳng hạn: việc tách bạch tác động củacác chính sách phát triển văn hóa giáo dục và chính sách dân số và kế hoạchhóa gia đình đến việc giảm bớt dân số không phải là đơn giản Thông thường,việc tính toán phải nhờ vào ý kiến của các chuyên gia (các nhà xã hội học vànhân loại học) Với kinh nghiệm, hiểu biết và tri thức thực tiễn được tích lũy,các chuyên gia thường có những nhận định khá sát về việc phân tích hiệu quảgiáp ranh giữa các chính sách, sẽ giúp chúng ta có cách đánh giá tương đốichuẩn xác về các chỉ tiêu tính toán hiệu quả phải tìm
Trang 81.2.3 Tính hữu dụng của chính sách
Tính hữu dụng của chính sách phản ánh mức độ chính sách đã đượcgiải quyết đến đâu Đánh giá tính hữu dụng của chính sách trả lời cho câu hỏi:Các kết quả của chính sách đã giải quyết được vấn đề ở mức độ nào? Chẳnghạn, xem xét chương trình cho vay vốn để tạo việc làm cho người nghèo vớimục đích giảm nghèo nhờ thu nhập từ việc làm không đáp ứng được mục tiêuđặt ra do không giải quyết đúng vấn đề theo mục tiêu đặt ra Những trở ngại ởđây xuất hiện trong khâu thực hiện, do thủ tục phức tạp, do ý đồ cá nhân củanhững người tổ chức thực hiện đã bóp méo ý định ban đầu của chính sách.Song điều đó cũng cho thấy sai lầm trong khâu định chính sách là đã khôngtính hết cá khả năng có thể xảy ra trong điều kiện cụ thể lúc đó Tương tự mộtchương trình nâng cao khả năng tiếp cận với hệ thống giáo dục phổ thông đốivới các dân tộc thiểu số cũng sẽ khó đạt được mục tiêu đề ra nếu không quantâm đến các yếu tố như khó khăn về ngôn ngữ, chương trình giảng dạy phùhợp, công tác đào tạo cũng như chế độ đối với giáo viên và cơ sở vật chất cầnthiết
1.2.4 Tính công bằng của chính sách
Công bằng là khái niệm dùng để đánh giá về việc những cái mà đốitượng nào đó được hưởng là xứng đáng trên cơ sở những điều kiện vốn có vàcống hiến cảu đối tượng trong sự so sánh với một hay nhiều đối tượng tương
tự khác1 Nội dung cơ bản nhất của công bằng xã hội là xử lý hợp lý nhất mốiquan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định Đểphản ánh được nội dung này, người ta đưa ra các khái niệm về công bằng theochiều dọc và công bằng theo chiều ngang Công bằng theo chiều dọc là sự đối
xử khác nhau đối với những người có khác biệt bẩm sinh hoặc có tình trạngkinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắc phục những khác biệt sẵn có (đối xử
1 Xem Dương Phú Hiệp – Nguyễn Duy Dũng (chủ biên): Những thay đổi về văn hóa, xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước Châu Á, NXb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1998, tr 144 - 145
Trang 9với người giàu khác người nghèo) Chẳng hạn, một chương trình sẽ tăng tínhcông bằng nếu có tiến hành chuyển dịch nguồn lực từ những người giàu sangnhững người nghèo hơn Công bằng theo chiều ngang là sự đối xử như nhauđối với những người có tăng trưởng kinh tế như nhau (có nghĩa là nhữngngười có kết quả hoạt động như nhau, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôngiáo, màu da… đều được đối xử như nhau) Nếu như công bằng theo chiềungang theo chiều dọc cần có sư điều tiết của nhà nước Chính phủ thực thichính sách phân phối công bằng theo chiều dọc nhằm giảm chênh lệch vềphúc lợi giữa các cá nhân (được thể hiện rõ nhất trong chính sách thuế và trợcấp, đặc biệt là thuế lũy tiến).
Mỗi chính sách khi giải quyết một vấn đề nhất định cũng phản ánh tínhcông bằng trong mục tiêu và các giải pháp của nó Thông thường, một chínhsách công có thể mang lại lợi ích cho nhóm người này nhiều hơn nhóm ngườikhác, thậm chí có khi gây thiệt hại cho nhóm người khác, ngay trong mộtnhóm người lợi ích hoặc thiệt hại cũng không đều nhau, do đó cần phải xử lýđúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích công cộng, và lợi ích đặc thù
Việc nhà nước thực hiện sự công bằng đến đâu tùy thuộc vào sự đúngđắn và hợp lý của các chính sách đề ra Tuy nhiên, dù nhà nước có tác độngtích cực như thế nào thì trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thịtrường cũng không thể đạt được sự bình đẳng tuyệt đối Cũng cần phải hiểu:thực hiện nguyên tắc công bằng không có nghĩa là cào bằng, là “chia đềunghèo khổ cho nhau” bất chấp chất lượng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh và
sự đóng góp của mỗi người cho sự phát triển của cộng đồng, vì như thế sẽ làmtriệt tiêu động lực cho sự phát triển Vấn đề là ở chỗ, nhà nước phải làm gì để
xã hội ít bất bình đẳng hơn trong khi sản xuất vẫn phát triển một cách có hiệuquả (hay thực hiện công bằng như thế nào để không phải “trả giá” về xã hộicho tăng trưởng kinh tế?) CÔng bằng trong chính sách của nhà nước chủ yếu
là việc tạo ra những cơ hội ngang nhau cho các đối tượng khác nhau
Trang 101.2.5 Tính đáp ứng yêu cầu của đối tượng chính sách
Là sự trả lời cho câu hỏi: Việc thực hiện chính sách để ra có đáp ứngđược mong muốn, nguyện vọng của các nhóm đối tượng của chính sách haykhông? Trên thực tế có nhiều chính sách đề ra không đáp ứng được đầy đủnguyện vọng của nhóm đối tượng chính sách
1.2.6 Kết hợp hợp lý giữa hiệu quả và công bằng (hay tính thích đáng của chính sách)
Khi đề ra và thực hiện một chính sách, người ta thường mâu thuẫn phảigiải quyết các yêu cầu về hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội Trong nềnkinh tế thị trường phân phối thu nhập và phúc lợi về cơ bản được tiến hànhtheo năng lực thị trường Tự thân thị trường không có khả năng giải quyết bấtcông xã hội và suy thoái môi trường Vì vậy nhà nước cần sự can thiệp đểđiều hòa các lợi ích và giữ ổn định và bảo vệ an ninh xã hội
Thông thường, sự can thiệp của chính phủ nhằm tạo ra sự công bằngtrong xã hội sẽ được đánh đổi bằng một sự kém hiệu quả về mặt kinh tế Do
đó, phải đánh giá tác động của chính sách đến các đối tượng trong mối quan
hệ giữa tính hiệu quả và tính công bằng
Mỗi chính sách kinh tế đều phải nhằm mục tiêu phát triển xã hội, mỗichính sách xã hội đều hàm chứa nội dung và ý nghĩa kinh tế, dù trực tiếp haygián tiếp, trước mắt hoặc lâu dài Xuất phát từ nhận thức chung đó, các giảipháp kinh tế - xã hội cần quán triệt yêu cầu: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tếphải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay từ đầu trong suốt quá trìnhthực hiện các chính sách phát triển Không thể chờ đợi đến khi đất nước đạttrình độ phát triển kinh tế cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
để phát triển kinh tế đơn thuần Đồng thời, trong mỗi bước đi, mỗi thời kỳ cụthể phải xác định đúng mức độ hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiệntiến bộ và công bằng xã hội sao cho hai mặt này không cản trở hoặc triệt tiêulẫn nhau mà còn hỗ trợ nhau
Trang 11ở Việt Nam lại thường bổ sung thêm khía cạnh thực hiện đường lối chính trị,mục tiêu của Đảng cầm quyền Tuy có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau vềchính sách công, song chúng đều hàm chứa những nét đặc thù thể hiện bảnchất của chính sách công, đó là: Chủ thể ban hành chính sách công là Nhànước.
Chính sách công bao giờ cũng được thể chế thành hàng loạt các quyếtđịnh có hiệu lực pháp lý của cơ quan Nhà nước Chính sách công tập trunggiải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo các mụctiêu xác định của Nhà nước, nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng hoặccủa quốc gia Chính sách công bao gồm những việc Nhà nước lựa chọn làm
và không làm.
Như vậy, không phải mọi mục tiêu của chính sách công đều dẫn tớihành động mà có thể là yêu cầu đối tượng không được thực hiện Ngoài bảnchất giai cấp, chính sách công chịu ảnh hưởng bởi thể chế chính trị, nhóm lợiích, văn hóa truyền thống dân tộc Từ các cách tiếp cận về chính sách côngcủa các tác giả trong và ngoài nước, tác giả đưa ra khái niệm về chính sách
công như sau: Chính sách công là hành động ứng xử của Nhà nước trước các
vấn đề chính sách, được xác lập bởi tập hợp các quyết định chính trị có liên quan với nhau, với các giải pháp và công cụ rõ ràng để hiện thức hoá mục
Trang 12tiêu của chính sách. Chính sách công là chuỗi hành động ứng xử với vấn đề
chính sách theo một chu trình với nhiều giai đoạn khác nhau, từ việc xâydựng, ban hành, thực thi cho đến giám sát, đánh giá chính sách
Đối với chính sách phòng, chống tham nhũng (PCTN), đây là hànhđộng ứng xử của Nhà nước với các mục tiêu, giải pháp và công cụ được xáclập trong các văn bản chính sách nhằm giải quyết vấn đề mà thực tiễn đặt ra
về PCTN trong những giai đoạn nhất định. Nội dung chính sách PCTN được
tiếp cận theo nội dung của mục tiêu chính sách, giải pháp chính sách, công cụchính sách Đây chính là ba bộ phận cấu thành cơ bản của nội dung một chínhsách công
Mục tiêu chính sách PCTN là hệ thống các mục tiêu chung và mục tiêu
cụ thể được quy định cụ thể trong các văn bản chính sách Hệ thống mục tiêunày cho thấy mức độ hiệu quả mong muốn của việc PCTN, trạng thái tươnglai của tình hình tham nhũng mà chủ thể chính sách muốn xác lập Mục tiêuchính sách PCTN mang tính tích hợp vừa nhằm loại bỏ các nguyên nhân, điềukiện về chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội của tham nhũng, vừahướng tới việc ngăn chặn, phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng Tùy thuộcvào hiện trạng tham nhũng của mỗi quốc gia trong từng bối cảnh kinh tế - xãhội ở giai đoạn cụ thể mà mục tiêu này được điều chỉnh cho phù hợp theohướng nhấn mạnh, tập trung vào khía cạnh nào hoặc có thể cân bằng cả hai.Mục tiêu của chính sách PCTN có mối quan hệ biện chứng, là căn cứ để xáclập các giải pháp, công cụ của chính sách PCTN Mục tiêu ưu tiên trong từnggiai đoạn là gì sẽ dẫn tới việc xác định giải pháp, công cụ trọng tâm để thựchiện trong giai đoạn đó
Giải pháp chính sách PCTN là những cách thức, biện pháp được ghi
nhận trong các văn bản chính thức và được áp dụng để đạt được mục tiêu đãxác định của chính sách trong từng thời kỳ Tùy vào mục tiêu trọng tâm mànội dung của hệ thống giải pháp sẽ được thiết lập cho phù hợp Về cơ bản, nội
Trang 13dung giải pháp của chính sách PCTN bao gồm các nhóm sau đây: Giải pháp
phòng ngừa; Giải pháp phát hiện và xử lý tham nhũng; Giải pháp phát huy vaitrò của xã hội trong PCTN; Giải pháp hợp tác quốc tế về PCTN
Công cụ chính sách PCTN là các tổ chức, các công cụ về kinh tế, tài
chính, kỹ thuật được chính sách quy định để hỗ trợ cho việc thực hiện các giảipháp của chính sách PCTN Tùy vào từng quốc gia mà chính sách PCTN sẽđịnh ra các tổ chức có chức năng chống tham nhũng đủ mạnh để triển khaicác hoạt động kiểm tra, thanh tra, phát hiện, điều tra, truy trố, xét xử hành vitham nhũng Quan trọng nhất là đảm bảo tính khách quan, công tâm, độc lậpcho các công cụ này Không chỉ có mối quan hệ biện chứng với hệ thống mụctiêu, giải pháp, công cụ của chính sách PCTN còn có mối quan hệ biện chứngvới nhau Mỗi giải pháp, công cụ có sự độc lập tương đối nhưng xét trên tổngthể chính sách PCTN hướng tới mục tiêu chung, các giải pháp, công cụ cómối quan hệ hỗ trợ hoặc phụ thuộc lẫn nhau, các công cụ đưa ra thường là đểphục vụ cho các giải pháp nhất định Sự điều chỉnh đối với giải pháp, công cụnhất định sẽ có thể dẫn tới sự điều chỉnh các giải pháp, công cụ liên quan.
Cơ quan Nhà nước có thể ban hành văn bản chính sách quy định trựctiếp mục tiêu và hệ thống các giải pháp, công cụ của chính sách PCTN nhưchính sách/chiến lược/chương trình hành động quốc gia về PCTN trong từnggiai đoạn và thể chế hóa các giải pháp, công cụ của chính sách một cách cụthể, chi tiết bằng hệ thống các văn bản pháp lý hoặc không ban hành văn bảnquy định trực tiếp mục tiêu, hệ thống giải pháp, công cụ của chính sách mà đithẳng vào cụ thể hóa các giải pháp, công cụ của chính sách PCTN trong hệthống văn bản pháp luật về hình sự, hành chính, công vụ… Như vậy, văn bảnquy định trực tiếp nội dung chính sách và hệ thống văn bản cụ thể hóa cácgiải pháp, công cụ của chính sách là đảm bảo pháp lý cho chính sách PCTNđược thực thi, là cơ sở để đánh giá, xem xét và xử lý trách nhiệm của các cơquan, tổ chức, cá nhân trong việc triển khai thực hiện chính sách PCTN