1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phát triển của chế định chính phủ trong các bản hiến pháp việt nam

33 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự phát triển của chế định chính phủ trong các bản Hiến pháp Việt Nam
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn B
Trường học Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại TP.HCM
Chuyên ngành Luật Hiến Pháp Việt Nam
Thể loại Bài tiểu luận kết thúc học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 376,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển của chế định chính phủ trong các bản hiến pháp việt nam. LUẬT HIẾN PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Sự phát triển của chế định chính phủ trong các bản hiến pháp việt nam. LUẬT HIẾN PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TẠI TP.HCM

KHOA HÀNH CHÍNH HỌC

TÊN ĐỀ TÀI

Sự phát triển của chế định chính phủ trong các bản Hiến pháp Việt Nam

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học phần: Luật Hiến Pháp Việt Nam

Mã phách: ………

TP HỒ CHÍ MINH – 2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CHÍNH PHỦ 3

1.1 Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ 3

1.2 Về cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc và trách nhiệm của Chính phủ 4

CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CHẾ ĐỊNH CHÍNH PHỦ QUA CÁC BẢN HIẾN PHÁP 5

2.1 Chế định Chính phủ trong Hiến pháp năm 1946 5

2.2 Chế định Chính phủ trong Hiến pháp năm 1959 9

2.3 Chế định Chính phủ trong Hiến pháp năm 1980 12

2.4 Chế định Chính phủ trong Hiến pháp năm 1992 15

2.5 Chế định chính phủ trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013 20

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CƠ BẢN GÓP PHẦN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CHẾ ĐỊNH CHÍNH PHỦ 26

3.1 Về vị trí, chức năng của Chính phủ 26

3.1.1 Về vị trí của Chính phủ 26

3.1.2 Về chức năng của Chính phủ 26

3.2 Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ 27

3.3 Về thành phần, cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc của Chính phủ 27

3.3.1 Về cơ cấu Chính phủ 27

3.3.2 Về chế độ làm việc 28

Trang 3

KẾT LUẬN 29 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

Trang 4

MỞ ĐẦU

Với tư cách là đạo luật gốc, Hiến pháp vừa là bản Hiến chương thể hiện chủ thuyết

về phát triển chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội vừa là nền tảng chính trị - pháp lý để bảo đảm cho sự phát triển ổn định, lâu dài của một quốc gia, dân tộc Hiến pháp đồng thời cũng là văn bản mang tính chính trị pháp lý quan trọng của đất nước, trước hết là về

tổ chức quyền lực nhà nước Lịch sử lập hiến của Việt Nam đã có bốn bản Hiến pháp (Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm

1992, được sửa đổi, bổ sung năm 2001), mỗi bản Hiến pháp có vai trò nhất định đối với mỗi giai đoạn phát triển của đất nước

Hiến pháp hiện hành là Hiến pháp năm 1992, được Quốc hội khóa VIII (kỳ họp thứ 11) thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1992, trong bối cảnh đất nước bước vào thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế theo định hướng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) và thể chế hoá Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) Sau 10 năm thực hiện Hiến pháp, vào những năm đầu thế kỷ 21, đất nước ta phải đối mặt với những vấn đề mới phát sinh của nền kinh tế thị trường và của quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế mà Hiến pháp năm 1992 chưa tiên liệu được Vì vậy, nhằm đáp ứng yêu cầu mới đặt ra, Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung (năm 2001), trong

đó Điều 2 sửa đổi, bổ sung đã bước đầu thể chế hóa chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; một số điều liên quan đến chế độ kinh tế, giáo dục, khoa học cũng được sửa đổi, bổ sung

Gần 30 năm thi hành Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã thực hiện những đổi mới căn bản và đạt được thành tựu quan trọng trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế -

xã hội; đổi mới cơ bản về kinh tế theo hướng thị trường, đất nước ta thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình; ngày càng bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân, tạo nên diện mạo mới, thế

và lực mới, nâng cao đời sống của nhân dân, nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước, từng bước đáp ứng được các yêu cầu của quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định

Trang 5

hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế dưới sự lãnh đạo của Đảng

Liên quan đến chế định Chính phủ, Hiến pháp đã dành một chương (Chương VIII,

từ Điều 109 đến Điều 117) quy định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, làm cơ sở cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ trong bối cảnh mới Phát huy vai trò là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Chính phủ ngày càng chủ động và năng động trong việc điều hành, quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội, đưa đất nước vượt qua các cuộc khủng hoảng kinh tế, ngày càng nâng cao đời sống của nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế Qua đó, vai trò của Chính phủ ngày càng được khẳng định, hoạt động của Chính phủ hiệu lực và hiệu quả hơn

Tuy nhiên, trong quá trình thực thi Hiến pháp cũng cho thấy, các quy định của Hiến pháp đã bộc lộ những điểm không còn phù hợp với thực tiễn và nhu cầu xây dựng

và phát triển Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường Những hạn chế, vướng mắc của Hiến pháp đã ảnh hưởng lớn đến việc thể chế hóa và thi hành trong thực tiễn, chưa bảo đảm cho Chính phủ có đủ các quyền hạn để thực hiện chức năng của mình trong quá trình quản lý, điều hành, đặc biệt là trong bối cảnh đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế Điều này đòi hỏi phải có những nghiên cứu, đánh giá sâu về những quy định của Hiến pháp năm 1992 về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Chính phủ và các quy định khác có liên quan nhằm có cái nhìn tổng thể, khách quan, nhận diện những ưu điểm và hạn chế trong các quy định hiện hành của Hiến pháp để đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung

Tóm lại, từ những vấn đề nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu chế định Chính phủ trong Hiến pháp là hết sức cần thiết Xuất phát từ tầm quan trọng trên, em đã quyết định

Trang 6

chọn: “Sự phát triển của chế định chính phủ trong các bản Hiến pháp Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho tiểu luận của mình

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN,

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CHÍNH PHỦ 1.1 Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ

Quyền hạn của Chính phủ là tập hợp những quyền mà Chính phủ được trao để thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả Quyền hạn của Chính phủ cũng chính

là những công việc mà Chính phủ phải làm, do vậy, các quyền hạn đó cũng chính là các nhiệm vụ của Chính phủ” Việc xác định quyền hạn của Chính phủ phải dựa trên một số

cơ sở lý luận sau:

Thứ nhất, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ phải phù hợp với chức năng và vị trí của Chính phủ Chức năng của Chính phủ là cơ sở để xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, còn vị trí của Chính phủ là cơ sở để xác định ranh giới của nhiệm vụ, quyền hạn đó Quyền hạn của Chính phủ không được quá nhiều để tránh nguy cơ lạm quyền song cũng phải đủ để Chính phủ thực hiện được hết chức năng hành pháp của mình

Thứ hai, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ cũng phải phù hợp với mức độ can thiệp của nhà nước vào các lĩnh vực của đời sống xã hội Có thể nói là phần lớn công việc của nhà nước nằm trong sự quán xuyến của Chính phủ Chính vì vậy, nếu nhà nước can thiệp càng sâu vào đời sống xã hội thì nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ đương nhiên cũng mở rộng ra một cách tương ứng Đây là một mối quan hệ mang tính nhân quả

và có thể được nghiên cứu để mang tính dự báo Khi phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ quá rộng, hiệu quả của hoạt động hành pháp của Chính phủ có thể bị ảnh hưởng

Thứ ba, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ phải đáp ứng đòi hỏi của từng thời

kỳ Đây là mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Nhân tố chính

Trang 7

trong từng thời kỳ ở đây là trình độ phát triển kinh tế - xã hội Nếu kinh tế - xã hội đang trong giai đoạn phát triển ban đầu, đang trong thời gian định hình, tuy tốc độ tăng trưởng

có thể cao song chưa ổn định thì Chính phủ, mà cụ thể là các thành viên Chính phủ, có thể được trao nhiều quyền hơn trong lĩnh vực hành chính nhà nước

1.2 Về cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc và trách nhiệm của Chính phủ

Thành phần Chính phủ thường có người đứng đầu Chính phủ, các bộ trưởng và người có chức vụ tương đương Bộ trưởng, một số nước có thêm chức danh Phó Thủ tướng (Đức, Việt Nam, Nga, Trung Quốc )

Thông thường, việc thành lập các bộ theo các chức năng được phân thành các nhóm theo tiêu chí, không phân thành mảng, không chồng chéo, làm cơ sở cho việc thành lập các bộ mới để đảm nhiệm các chức năng mới Ngoài ra, các bộ mới có thể được thành lập cho những ưu tiên chính sách mới, ví dụ như vấn đề chống tham nhũng, bảo vệ môi trường

Chính phủ hiện đại đòi hỏi Chính phủ được tổ chức gọn nhẹ, hợp lý, minh bạch, hiệu quả, trách nhiệm rõ ràng và có trách nhiệm chính trị cao trước nhân dân

Để tổ chức và hoạt động tốt, Chính phủ cần được tổ chức gọn nhẹ, hợp lý, minh bạch, hiệu quả, trách nhiệm rõ ràng và có trách nhiệm chính trị cao trước nhân dân

Về cơ cấu tổ chức, xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới là thực hiện sắp xếp lại, giảm số lượng các bộ, qua đó tạo thuận lợi hơn cho hoạt động quản lý, điều hành của Bộ trưởng, các bộ sẽ thuận lợi hơn trong việc thực hiện chức năng hoạch định, ban hành thể chế, chính sách đồng bộ, nhất quán

Hơn nữa, với sự ra đời của nền kinh tế toàn cầu, năng lực hoạch định và khởi xướng chính sách của Chính phủ là đặc biệt quan trọng, do vậy, không chỉ thực hiện việc sáp nhập các bộ để gọn bớt các đầu mối, cơ quan của Chính phủ mà còn cần phải tiến hành đổi mới cơ cấu tổ chức Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh lại chức năng của Chính phủ và các bộ; thay đổi lại vai trò của Chính phủ với vai trò là chất xúc tác, người “cầm lái”; phân quyền cho chính quyền địa phương và đặc biệt là tăng cường “tư nhân hoá”,

Trang 8

chuyển sang các khu vực tư nhân thực hiện dịch vụ công để đồng thời cắt giảm đáng kể

số lượng cán bộ, công chức, viên chức trong khu vực nhà nước Với chức năng quản lý

đa ngành, đa lĩnh vực, các bộ cần tập trung hơn vào quản lý vĩ mô, cụ thể là tập trung vào việc xây dựng chính sách, thể chế, pháp luật; xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước và thanh tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thực hiện (của chính quyền địa phương các cấp, của khu vực tư nhân, các tổ chức phi Chính phủ, các thành phần khác trong xã hội ) để bảo đảm tính thông suốt, tính thống nhất của

cơ chế, chính sách

Nhằm tăng cường vai trò của Chính phủ trong hoạch định chính sách, nhiều nước trên thế giới đã cải cách cơ cấu Chính phủ theo hướng tinh gọn bắt đầu từ quan niệm, cách nhìn mới về vai trò của Chính phủ trong một nhà nước hiện đại

Về chế độ làm việc và trách nhiệm của Chính phủ, điều này phụ thuộc vào mô hình tổ chức và hoạt động của Chính phủ nêu trên, theo đó, việc xác định và đề cao trách nhiệm tập thể hay cá nhân trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ các nước không giống nhau”

Về nguyên tắc, dù Chính phủ được tổ chức và hoạt động như thế nào thì đều phải chịu trách nhiệm về phạm vi quyết sách Chính phủ, về các giải pháp đã lựa chọn và cũng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về việc “không hành động hay không có giải pháp ứng phó kịp thời mà không đợi “chấp hành các quyết nghị từ Nghị viện/Quốc hội

CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CHẾ ĐỊNH CHÍNH PHỦ QUA CÁC BẢN

HIẾN PHÁP 2.1 Chế định Chính phủ trong Hiến pháp năm 1946

Trong bối cảnh nước ta vừa mới giành được độc lập sau Cách mạng Tháng Tám (1945) nhưng đã phải đối mặt với thù trong giặc ngoài, trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra các nhiệm vụ cấp bách, trong đó có việc phải tổ chức một cuộc tổng tuyển cử càng sớm càng tốt để bầu ra Quốc hội, với một trong những

Trang 9

nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là giúp nhân dân xây dựng “một hiến pháp dân chủ” Ngày 06 tháng 01 năm 1946, cuộc tổng tuyển cử thắng lợi Ngày 09 tháng 11 năm 1946, tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I đã biểu quyết thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà với 240 đại biểu tán thành trên 242 đại biểu Hiến pháp ra đời đặt nền tảng cho quốc gia đi vào xây dựng một thể chế chính trị dân chủ được thiết lập vững chắc”

Chế định Chính phủ trong Hiến pháp năm 1946 được quy định tại Chương IV (gồm 14 điều, từ Điều thứ 43 đến Điều thứ 56)

Về vị trí, chức năng, Điều thứ 43 Hiến pháp quy định: “Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà” Chính phủ là cơ quan do Nghị viện lập ra nhưng không phải là cơ quan chấp hành của Nghị viện

Về thành phần, Chính phủ là cơ quan có tính tập thể, bao gồm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước và Nội các Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng và có thể

có Phó thủ tướng (Điều thứ 44)

Chủ tịch nước được chọn trong Nghị viện nhân dân và phải được 2/3 tổng số nghị viện bỏ phiếu thuận (nếu bỏ phiếu lần đầu mà không đủ số phiếu ấy, thì lần thứ nhì sẽ theo đa số tương đối) Chủ tịch nước được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể được bầu lại (Điều thứ 45)

Về nhiệm kỳ, khi Nghị viện hết hạn hoặc tự giải tán, Nội các giữ chức quyền cho đến khi họp Nghị viện mới

Về chế độ trách nhiệm, Hiến pháp quy định Chủ tịch nước không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc (Điều thứ 50) Bộ trưởng nào không được Nghị viên tín nhiệm thì phải từ chức Toàn thể Nội các không phải chịu liên đới trách nhiệm về hành vi một Bộ trưởng Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các (Điều thứ 54)

Về nhiệm vụ, quyền hạn, Chính phủ có những quyền hạn cơ bản sau: thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện; đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện; đề

Trang 10

nghị những dự án sắc luật ra trước Ban thường vụ, trong lúc Nghị viện không họp mà gặp trường hợp đặc biệt; bãi bỏ những mệnh lệnh và nghị quyết của cơ quan cấp dưới, nếu cần; bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan hành chính hoặc chuyên môn; thi hành luật động viên và mọi phương sách cần thiết để giữ gìn đất nước; lập dự án ngân sách hàng năm (Điều thứ 52)

Về thẩm quyền ban hành văn bản, mỗi sắc lệnh của Chính phủ phải có chữ ký của Chủ tịch nước Việt Nam và tuỳ theo quyền hạn các Bộ, phải có một hay nhiều vị Bộ trưởng tiếp ký Các vị Bộ trưởng ấy phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện Chủ tịch nước có nhiệm vụ, quyền hạn lớn (như thay mặt cho Nước; giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái; ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, nhân viên Nội các và nhân viên cao cấp thuộc các cơ quan Chính phủ; chủ tọa Hội đồng Chính phủ; đặc xá; ký hiệp ước với các nước; tuyên chiến hay định chiến )

Về mối quan hệ giữa Chính phủ và các thiết chế khác:

- Trong mối quan hệ với Nghị viện nhân dân: Chính phủ thi hành những luật của Nghị viện; chịu sự kiểm soát và phê bình của Ban Thường vụ; Bộ trưởng chỉ còn giữ được chức của mình khi còn sự tín nhiệm của Nghị viện Thủ tướng và toàn thể Nội các cũng có thể bị Nghị viện bỏ phiếu tín nhiệm Tuy nhiên, trong hạn 24 giờ sau khi Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các, Chủ tịch nước Việt Nam có quyền đề nghị Nghị viện thảo luận lại Sau cuộc biểu quyết này, Nội các mất tín nhiệm phải từ chức

Bộ trưởng phải trả lời bằng thư từ hoặc bằng lời nói những điều chất vấn của Nghị viện hoặc của Ban thường vụ với kỳ hạn trả lời chậm nhất là 10 ngày sau khi nhận được thư chất vấn Tuy nhiên, Chủ tịch nước không phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện

Như vậy, Chính phủ giữ vị trí khá độc lập trong mối quan hệ với Nghị viện, thể hiện ở quyền phủ quyết của Chủ tịch nước đối với một số quyết định của Nghị viện: những luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước phải ban bố chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri, nhưng trong thời hạn ấy, Chủ tịch nước có quyền yêu

Trang 11

cầu Nghị viện thảo luận lại Những luật đem ra thảo luận lại, nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch nước phải ban bố

- Trong mối quan hệ với hệ thống Tòa án: Hiến pháp năm 1946 quy định các viên thẩm phán đều do Chính phủ bổ nhiệm (Điều thứ 64); khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp (Điều thứ 69) Trong mối quan hệ với Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính: Hội đồng nhân dân quyết định về những vấn đề thuộc địa phương mình

Tóm lại, mô hình tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo Hiến pháp năm 1946 được xây dựng theo hướng “dân chủ”, có áp dụng một số yếu tố phân quyền phù hợp với điều kiện của chế độ dân chủ nhân dân

Chính phủ được Nghị viện lập ra nhưng không phải là cơ quan chấp hành của Nghị viện; trong cơ cấu Chính phủ có Chủ tịch nước với nhiệm vụ, quyền hạn rất lớn Chủ tịch nước có vị trí khá độc lập trong mối quan hệ với Nghị viện như việc Chủ tịch nước có quyền phủ quyết đối với một số quyết định của Nghị viện (mặc dù quyền này không mang tính chất phủ định như ở các nước cộng hòa tổng thống vì quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về Nghị viện), Chủ tịch nước không phải chịu trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc

Chính phủ trực tiếp ban hành sắc lệnh (gần như là luật) Nội các là một cơ cấu trong Chính phủ Chính phủ hoạt động như một cơ quan hành pháp cao nhất Trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác, Chính phủ có vị trí độc lập tương đối và có quyền hạn rất lớn, tuy vậy, Chính phủ vẫn phải chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước Nghị viện theo nguyên tắc tập quyền

Về cơ bản Hiến pháp năm 1946 đã xác lập khá rõ ràng một cơ chế trách nhiệm của Chính phủ trước Nghị viện, đề cao vai trò của người đứng đầu Chính phủ và các Bộ trưởng

Trang 12

2.2 Chế định Chính phủ trong Hiến pháp năm 1959

Bối cảnh lịch sử của Hiến pháp năm 1959 tương đối đặc biệt, đất nước đang ở trong tình trạng chia cắt, miền Bắc thực hiện nhiệm vụ xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, còn miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc kháng chiến chống Pháp Vì vậy, Chính phủ được xây dựng theo những nguyên tắc chung của Chính phủ trong bộ máy nhà nước kiểu XHCN và đặc trưng là sự vận dụng mạnh mẽ nguyên tắc tập quyền XHCN Cụ thể:

Hiến pháp năm 1959 quy định về “Hội đồng Chính phủ” trong 7 điều (từ Điều 71 đến Điều 77)

Về vị trí, chức năng, Điều 71 Hiến pháp quy định: “Hội đồng Chinh phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, và là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”

Như vậy, khác với Hiến pháp năm 1946, Chính phủ không có vị độc lập tương đối như vậy, mà tính chất “chấp hành” của Chính phủ đối với Quốc hội đã được quy định

Về thành phần, Điều 72 Hiến pháp quy định Hội đồng Chính phủ gôm có: Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng; các Chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước; Tổng giám đốc ngân hàng Nhà nước Cơ cấu Chính phủ không còn Nội các như Hiến pháp năm 1946 Nguyên thủ quốc gia cũng không còn nằm trong thành phần của Chính phủ (Chủ tịch nước là một thiết chế riêng, là người thay mặt cho nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về mặt đối nội và đối ngoại)

Về chế độ trách nhiệm, Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không hợp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Với quy định trên, tính chất tập thể của Chính phủ được tiếp tục khẳng định Chính phủ được tổ chức theo hình thức hội đồng và trở thành cơ quan làm việc theo chế

độ tập thể Chế độ chịu trách nhiệm cá nhân của Bộ trưởng trước Quốc hội như Hiến pháp 1946 không còn được quy định Thay vào đó là chế độ chịu trách nhiệm tập thể của

Trang 13

Hội đồng Chính phủ Hiến pháp không còn quy định cho Quốc hội quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với tập thể Chính phủ hoặc với từng thành viên Chính phủ

Về nhiệm kỳ hoạt động Hiến pháp không quy định cụ thể nhiệm kỳ của Hội đồng Chính phủ

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Điều 74 Hiến pháp quy định cụ thể nhiệm

vụ, quyền hạn của Chính phủ theo hướng liệt kê, ví dụ: trình dự án luật, dự án pháp lệnh

và các dự án khác ra trước Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội; thống nhất lãnh đạo công tác của các bộ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ; thống nhất lãnh đạo công tác của Uỷ ban hành chính các cấp; quản lý nội thương và ngoại thương, quản lý công tác văn hoá, xã hội; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, duy trì trật tự công cộng, bảo hộ quyền lợi của công dân; lãnh đạo việc xây dựng lực lượng vũ trang của Nhà nước; quản lý công tác đối ngoại; quản lý công tác dân tộc; phê chuẩn sự phân vạch địa giới của các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh Ngoài những quyền hạn này, Quốc hội hoặc Uỷ ban thường

vụ Quốc hội có thể trao cho Hội đồng Chính phủ những quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết

Hiến pháp không có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu Chính phủ (Thủ tướng)

Về thẩm quyền ban hành văn bản, Hội đồng Chính phủ căn cứ vào Hiến pháp, pháp luật và pháp lệnh mà quy định những biện pháp hành chính, ban bố những nghị định, nghị quyết, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những nghị định, nghị quyết và chỉ thị

ấy

Về mối quan hệ giữa Chính phủ và các thiết chế khác:

Bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1959 gồm: Quốc hội, Chủ tịch nước và Hội đồng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

- Trong mối quan hệ với Quốc hội: Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Hội đồng Chính phủ phải thi hành những luật của Quốc hội; chịu sự giám sát

Trang 14

của Quốc hội, Chính phủ chỉ là một cơ quan của Quốc hội mặc dù vẫn giữ một sự độc lập nhất định ở khía cạnh là “cơ quan hành chính nhà nước cao nhất”

- Trong mối quan hệ với hệ thống Tòa án: Hệ thống tòa án do Quốc hội lập nên Chánh án TANDTC do Quốc hội bầu Các thẩm phán khác đều được bầu Khi xét xử, Tòa án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Theo đó, giữa Chính phủ và hệ thống TAND không có mối quan hệ hiến định nào xét từ góc độ phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực

- Trong mối quan hệ với hệ thống Viện kiểm sát nhân dân: Đây là lần đầu tiên hệ thống VKSND theo mô hình Xô Viết được quy định trong Hiến pháp Xét về mặt cơ chế quyền lực nhà nước, giữa Chính phủ và hệ thống VKSND hầu như không có mối quan

hệ hiến định nào xét từ góc độ phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực Tuy nhiên, theo Điều 105 Hiến pháp, VKSNDTC kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân (chức năng kiểm sát chung)

- Trong mối quan hệ với Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính” Hội đồng Chính phủ thống nhất lãnh đạo công tác của Uỷ ban hành chính các cấp; sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của Uỷ ban hành chính các cấp; đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương và đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết ấy Ủy ban hành chính các cấp chịu sự lãnh đạo của Ủy ban hành chính cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất của Hội đồng Chính phủ

Tóm lại, Chính phủ theo Hiến pháp năm 1959 đề cao tính chấp hành, | tính chịu trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội, Chủ tịch nước không thuộc bộ máy hành pháp mà đứng độc lập, được bầu trong nhân dâno và không phải chọn trong Quốc hội, Chính phủ vẫn có sự độc lập nhất định trong lĩnh vực hành chính nhà nước Hình thức làm việc và chịu trách nhiệm của Chính phủ theo nguyên tắc tập thể

Trang 15

2.3 Chế định Chính phủ trong Hiến pháp năm 1980

Hiến pháp năm 1980 được xây dựng trong bối cảnh đất nước đã thống nhất sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa

xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đây là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước với đặc điểm là thực hiện kế hoạch hóa tập trung

Hiến pháp năm 1980 quy định về Chính phủ (Hội đồng Bộ trưởng) bao gồm 10 điều (từ Điều 104 đến Điều 113)

Về vị trí, Điều 104 Hiến pháp quy định: “Hội đồng Bộ trưởng là Chính phủ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành và hành chính Nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Hội đồng bộ trưởng chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không hợp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng Nhà nước”

Tên gọi của Chính phủ được thay bằng “Hội đồng Bộ trưởng” - là “cơ quan chấp hành” và “cơ quan hành chính nhà nước cao nhất” của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất - Quốc hội (chứ không phải của cả quốc gia nữa) Như vậy, Chính phủ thuần túy là một cơ quan trực thuộc Quốc hội”

Về chức năng, Điều 104 Hiến pháp quy định: “Hội đồng Bộ trưởng thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước; tăng cường hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp Thành pháp luật; phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân; bảo đảm xây dựng chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.”

Về thành phần Chính phủ, Hội đồng Bộ trưởng gồm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, các Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; các Bộ trưởng và Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước Địa vị pháp lý của người đứng đầu Chính phủ (Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) khá mờ nhạt”

Trang 16

Nhiệm kỳ của Hội đồng Bộ trưởng theo nhiệm kỳ của Quốc hội Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Hội đồng Bộ trưởng tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu ra Hội đồng Bộ trưởng mới

Về cơ chế trách nhiệm, Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không hợp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng Nhà nước

Mỗi thành viên Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm cá nhân về phần công tác của mình trước Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng, và cùng với các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Hội đồng Bộ trưởng trước Quốc hội và Hội đồng Nhà nước

Như vậy, chế độ chịu trách nhiệm cá nhân của Bộ trưởng trước Quốc hội như Hiến pháp 1946 được quy định lại, nhưng Hiến pháp năm 1980 không quy định cơ chế

bỏ phiếu tín nhiệm

Về nhiệm vụ, quyền hạn, Điều 107 Hiến pháp liệt kê cụ thể các nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trên các lĩnh vực như: bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; trình dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Hội đồng Nhà nước; lập dự án kế hoạch Nhà nước và dự toán ngân sách Nhà nước trình Quốc hội; tổ chức thực hiện kế hoạch Nhà nước về ngân sách Nhà nước; thống nhất quản lý việc cải tạo, xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân, việc xây dựng và phát triển văn hoá, giáo dục, khoa học, kỹ thuật; chăm lo cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân; bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân; tổ chức quốc phòng toàn dân và xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; thống nhất quản lý tài chính, tiền tệ và tín dụng; tổ chức và quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước; xây dựng và kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước từ trung ương đến

cơ sở; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ cán bộ Nhà nước; lãnh đạo công tác của các bộ và các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng Quốc hội và Hội đồng

Ngày đăng: 12/05/2023, 09:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Xuân Đức: Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay, Nxb. Tư pháp, H.2007, tr. 281 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Bùi Xuân Đức
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2007
2. Đào Trí Úc chủ biên: Mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb.Tư pháp, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Đào Trí Úc
Nhà XB: Nxb.Tư pháp
Năm: 2007
4. Lê Minh Thông: Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Nxb.Chính trị quốc gia, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Minh Thông
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 2011
6. Nguyễn Đăng Dung: Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
7. Nguyễn Đăng Dung: Tư pháp độc lập - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, http://vienkhpl.ac.vn/index.php?cid=693 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp độc lập - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
5. Nguyễn Văn Cương, Chu Thị Hoa: Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ Việt Nam qua các bản Hiến pháp trong lịch sử,http://vierkhpl.ac.vn/index.php?cid=672 Link
8. Nguyễn Cửu Việt, Trương Đắc Linh: sửa đổi Hiến pháp: nhìn từ chiến lược phân cấp quản lý, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2011.9. Sdd, tr. 281 Khác
10. Trần Ngọc Đường: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cần xem xét và giải quyết trong sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Tạp chí Cộng sản Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w