CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG Dạy học được đánh giá là hoạt động phức tạp, các học giả và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục thường khám phá, phân tích về các vấn đề xoay quanh lĩnh
Trang 1CƠ SỞ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO TẠI
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN, 2014
Trang 2Công trình được thực hiện tại:
TRUNG TÂM LIÊN KẾT ĐÀO TẠO QUỐC TẾ,
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Apolonia A Espinosa
Có thể tìm luận án tại:
- Thư viện quốc gia
- Trung tâm học liệu, Đại học Thái nguyên
- Thư viện Trung tâm liên kết đào tạo quốc tế
- Thư viện trường Đại học tổng hợp Nam Luzon, Philipin
Trang 3CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG
Dạy học được đánh giá là hoạt động phức tạp, các học giả và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục thường khám phá, phân tích về các vấn đề xoay quanh lĩnh vực giảng dạy Những nghiên cứu này hầu hết đều tìm kiếm sự hiệu quả hay không hiệu quả về hoạt động giảng dạy của giảng viên Giảng viên thường bị đổ lỗi nhiều hơn nếu sinh viên của mình không chứng tỏ được những hành vi được mong đợi và cách thức học tập họ thu được trong suốt thời gian học ở trường Hơn thế nữa, nếu sinh viên có thể có được một công việc tốt và thành công, khi đó chứng tỏ sinh viên được giảng dạy tốt
và được học tập từ những người thầy giỏi Đây là cơ sở chung cho thấy hiệu quả giảng dạy của giảng viên trong nền giáo dục của thế giới Theo Lardizabal, Bustos, Bucu, & Tangco, (1991), giảng dạy có hiệu quả có nghĩa là giảng viên giảng dạy phù hợp với mong muốn của sinh viên Năng lực của người giảng viên sẽ tạo ra hiệu quả lâu dài đối với sinh viên Và đối với giảng viên, họ giảng dạy có hiệu quả nếu như họ có thể mang lại những thay đổi tích cực cho sinh viên Đại học Thái Nguyên (ĐHTN) đã và đang thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Đảng nhằm xây dựng Đại học thành trung tâm giáo dục đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cao trong khu vực và
cả nước Nhưng hiện nay tại ĐHTN có rất ít những đề tài nghiên cứu
về những yếu tố phát triển hoạt động giảng dạy của giảng viên Vì vậy, đề tài này được thực hiện để đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên dựa vào các yếu tố như đặc điểm cá nhân, đặc điểm nghề nghiệp Đề tài sẽ chỉ ra những nhu cầu cấp thiết, làm cơ sở cho việc phát triển giảng dạy và học tập của giảng viên Nếu những yếu tố ảnh
Trang 4hưởng đến hoạt động giảng dạy của giảng viên được kiểm soát, chất lượng giáo dục và quá trình học tập, giảng dạy sẽ trở nên hiệu quả hơn
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài xác định những tương quan đến hoạt động giảng dạy của giảng viên, qua đó phát triển một chương trình nâng cao tại ĐHTN cho năm học 2013-2014 Cụ thể, đề tài tìm kiếm những vấn đề sau:
1 Tìm hiểu hồ sơ nhân khẩu học về đối tượng nghiên cứu, gồm có:
2.2 Yếu tố Đặc điểm nghề nghiệp
2.2.1 Kỹ năng giảng dạy
2.2.2 Kỹ năng hướng dẫn
Trang 52.2.3 Kỹ năng quản lý lớp
2.2.4 Kỹ năng đánh giá
3 Xác định hoạt động giảng dạy của giảng viên, gồm có: 3.1 Sự tận tụy
3.2 Kiến thức chuyên môn
3.3 Giảng dạy sinh viên học tập độc lập
3.4 Quản lý việc học tập của sinh viên
4 Xác định xem yếu tố nào trong số những yếu tố trình bày ảnh hưởng đến hoạt động giảng dạy
5 Phát triển mẫu chương trình nâng cao dựa vào kết quả nghiên cứu
Giả thuyết
Không có yếu tố nào trong số các yếu tố đưa ra ảnh hưởng đến hoạt động giảng dạy của giảng viên
Ý nghĩa của đề tài
Đề tài được thực hiện với mong muốn kết quả của đề tài sẽ giúp cho sinh viên, giảng viên, nhà trường và các nhà quản lý giáo dục của ĐHTN:
- Đối với Sinh viên: Sẽ được giảng dạy bởi đội ngũ giảng viên
có đủ năng lực, tiêu chuẩn; được trang bị các kỹ năng thích hợp và năng lực nghề nghiệp khi ra trường
- Đối với Giảng viên: Đề tài giúp giáo viên bắt kịp được những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giảng dạy của mình và tạo cơ hội
Trang 6cho giảng viên khám phá những khả năng để tự phát triển bản thân với sự hỗ trợ từ phía ĐHTN
- Ban chủ nhiệm khoa và các nhà quản lý giáo dục: Có thể theo dõi được hoạt động giảng dạy của giảng viên, tìm ra những cải tiến
để đảm bảo sự phát triển của ĐHTN
- Các nhà nghiên cứu trong tương lai: Kết quả nghiên cứu này
có thể phục vụ như một nguồn cảm hứng cho các nhà nghiên cứu, đặc biệt những người muốn tiến hành các nghiên cứu tương tự trong đơn vị của mình Họ có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu như thông tin ban đầu, hoặc có thể được hỗ trợ bởi các phương pháp và chiến lược trong luận án này để tiếp tục nghiên cứu về hoạt động giảng dạy tại cơ sở của mình
Phạm vi và giới hạn của đề tài
Đề tài tập trung chính vào việc tìm kiếm hoạt động giảng dạy của giảng viên tại ĐHTN với mục đích phát triển một chương trình nâng cao dựa vào kết quả nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong khuôn khổ Đại học Thái Nguyên
và đối tượng nghiên cứu được lựa chọn có chủ đích và ngẫu nhiên từ các trường thành viên trong ĐHTN để trả lời các câu hỏi điều tra Về công cụ nghiên cứu, đề tài sử dụng giá trị trung bình, phân tích hồi quy để đo các tương quan đến hoạt động giảng dạy của giảng viên tại ĐHTN
Trang 7Trí tuệ
Lardizabal, et al (1991) chỉ ra rằng trước khi trở thành người giảng viên, người giảng viên ấy phải được học tập về lĩnh vực ấy một vài năm để rèn luyện về kiến thức chuyên môn, phải thành thạo về nghiệp vụ và hiểu được những kiến thức cơ bản
Tình cảm
Dạy học là một nghề nghiệp không những yêu cầu các đặc điểm về thể chất mà cả tinh thần Bởi người giảng viên làm việc với sinh viên và những người liên đới trong cộng đồng xã hội, họ phải sở hữu sức khỏe tinh thần tích cực, điều này rất cần thiết trong việc giải quyết những thách thức hàng ngày
Trang 8Đặc điểm nghề nghiệp
Kỹ năng giảng dạy
Charles County Public Schools [CCPS] (2013) ở Mỹ đánh giá
kỹ năng giảng dạy của người giảng viên qua 3 tiêu chí: (1) lựa chọn
và tổ chức vấn đề chuyên môn; (2) động lực; và (3) việc áp dụng,
phát triển bài học
Kỹ năng hướng dẫn
“Mỗi nhà giáo dục phải nhận ra trách nhiệm của mình như là người cố vấn hướng dẫn theo quyền hạn, nhiệm vụ và chức năng Hướng dẫn là một phần của người, đồng thời là người giám hộ, người
quản lý với trách nhiệm như người giám sát lớp học” (Batara, 1995: 1)
Kỹ năng quản lý
Như một điều tiên quyết trong hoạt động giảng dạy, người giảng viên phải thực hiện các hoạt động trong lớp và thúc đẩy sinh viên tham gia học tập và tương tác trong lớp
Kỹ năng đánh giá
Theo Eckard and McElhinney (1977), kỹ năng đánh giá được chú ý cao bởi các nhà giáo dục Họ cho rằng kỹ năng đánh giá và tính
trách nhiệm nên được thực hiện rộng rãi trong trường học
Hoạt động giảng dạy
Đây là lĩnh vực được nghiên cứu rộng rãi của những nhà giáo dục và các học giả Các nhà giáo dục tin rằng những kỹ năng mà người giảng viên sở hữu phản ánh rất nhiều về sự phát triển trí tuệ mà một sinh viên nhận được sau khi được giảng dạy
Tóm lại, cơ sở nghiên cứu này tổng hợp lại những nghiên cứu
Trang 9liên quan đến việc đánh giá hoạt động giảng dạy của người giảng viên với hy vọng bổ sung những giải thích cần thiết cho kết quả nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu
Biến độc lập Biến phụ thuộc
Hồ sơ nhân khẩu học
- Giảng dạy sinh viên học tập độc lập
- Quản lý việc học tập
của sinh viên
Chương trình nâng cao tại Đại học Thái Nguyên
Trang 10CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Địa điểm nghiên cứu
Luận án được thực hiện trong 4 đơn vị thành viên của Đại học Thái Nguyên bao gồm: Trường Đại học Kỹ thuật Công Nghiệp, Trường Đại học Sư Phạm, Trường Đại học Y Dược và Trường Đại học Nông Lâm
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng mẫu phân tích tương quan để phân tích các biến nghiên cứu Theo Sevilla, et al (2004), dạng nghiên cứu này giúp cho việc xác định những biến khác nhau mà có liên quan với nhau Đề tài được thực hiện để xác định tương quan của các yếu tố như: đặc điểm cá nhân và đặc điểm nghề nghiệp của người giảng
viên đối với hoạt động giảng dạy
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm 145 giảng viên và 728 sinh viên được lựa chọn ngẫu nhiên trong 4 trường đại học thuộc ĐHTN Bảng 1 chỉ ra số lượng các đối tượng nghiên cứu từ các trường đại học thuộc ĐHTN
Bảng 1 Số lượng đối tượng nghiên cứu
TT Đại học Thái Nguyên Số người được hỏi
Giảng viên Sinh viên
1 Đại học Kỹ thuật Công nghiệp 40 227
Trang 11Công cụ nghiên cứu
Trong đề tài này, tác giả sử dụng bảng câu hỏi điều tra để thu thập số liệu Bảng câu hỏi điều tra được xây dựng gồm các câu lựa chọn liên quan đến hoạt động giảng dạy của người giảng viên xét về
sự tận tụy trong công việc, kiến thức chuyên môn, giảng dạy sinh viên học tập độc lập, quản lý việc học tập của sinh viên và hồ sơ đối tượng nghiên cứu xét về tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ,
và địa vị Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giảng dạy của giảng viên xét về các đặc điểm cá nhân (thể chất, trí tuệ, cảm xúc, xã hội) và các đặc điểm nghề nghiệp (kỹ năng giảng dạy, kỹ năng hướng dẫn, kỹ năng quản lý lớp, kỹ năng đánh giá)
Sau khi được nhận bảng câu hỏi điều tra, giảng viên và sinh viên được yêu cầu điền các thông tin cá nhân trước, sau đó đánh dấu
vào các thang đo tương ứng với lựa chọn của mình
Quá trình thu thập số liệu nghiên cứu
Nghiên cứu được đề xuất trước các chuyên gia quản lý giáo dục của trường Đại học Southern Luzon và Đại học Thái Nguyên Sau khi tìm kiếm các thông tin liên quan đến đề tài, tác giả nghiên cứu thiết kế bảng câu hỏi điều tra Bảng câu hỏi điều tra được phê chuẩn bởi người hướng dẫn và đánh giá kỹ hơn bởi ba chuyên gia của
trường Đại học Southern Luzon và Đại học Thái Nguyên
Sau khi được phê duyệt, bảng câu hỏi điều tra được phát cho các giảng viên trong giờ lên lớp Các cán bộ trong phòng Quản lý Nghiên cứu Khoa học đã giúp đỡ tác giả trong việc phát bảng câu hỏi điều tra tới các nhóm giảng viên khác nhau Trước khi trả lời câu hỏi điều tra, các giảng viên đảm bảo chắc chắn rằng bảng câu hỏi điều tra được điền đúng cách Câu hỏi điều tra được thu lại ngay sau khi kết
Trang 12thúc Chi phí thu thập số liệu cũng được ghi chép lại Giảng viên không cần phải ghi tên vào bảng câu hỏi điều tra
Sau đó, câu hỏi điều tra tiếp tục được phát cho sinh viên trong buổi học qua sự giúp đỡ của cán bộ phòng Quản lý Sinh viên Sinh viên được hướng dẫn để đảm bảo chắc chắn rằng câu hỏi điều tra được điền chính xác Câu hỏi điều tra cũng được thu lại ngay sau khi kết thúc Chi phí thu thập số liệu cũng được ghi chép lại Sinh viên
lưu ý không ghi tên mình vào bảng câu hỏi điều tra
Phân tích số liệu
Để trả lời cho các vấn đề nghiên cứu, phương pháp phân tích
số liệu được áp dụng dưạ trên các số liệu đã được thu thập
Xác định được hoạt động giảng dạy của người giảng viên, giá trị tính trung bình được sử dụng với công thức như sau:
N
f f f f
Trong đó: WM = giá trị tính trung bình
N = số lượng đối tượng nghiên cứu
f = tần xuất
Chi-square test được sử dụng để xác định mối quan hệ của hoạt động giảng dạy của giáo viên xét theo các đặc điểm cá nhân và hoạt động giảng dạy với công thức như sau:
E E O X
2 2
trong đó: X2 = giá trị chi-square
O = tần xuất được quan sát
E = tần xuất được mong đợi
Trang 13Tác giả nghiên cứu sử dụng thang đo dưới đây cho bảng câu hỏi điều tra:
Thang đo Mức thang Mô tả mức thang
4 3,26 – 4,00 Rất đồng ý (RĐY)
3 2,51 – 3,25 Đồng ý (ĐY)
2 1,76 – 2,50 Không đồng ý (KĐY)
1 1,00 – 1,75 Rất không đồng ý (RKĐY) Tương tự, phân tích mô tả được sử dụng để đánh giá hoạt động giảng dạy của người giảng viên
Thang đo Đánh giá Mô tả định tính
5 Xuất sắc
Hoạt động giảng dạy luôn luôn vượt quá yêu cầu công việc Đơn vị đạt danh hiệu xuất sắc
2 Tương đối Hoạt động giảng dạy cần cải tiến để đáp
ứng yêu cầu công việc
1 Kém Đơn vị không đạt yêu cầu công việc Theo tác giả Lê (2007), giá trị hệ số tương quan được phân tích như sau:
Hệ số tương quan R được sử dụng để đo mối quan hệ giữa hai biến Giá trị R bình phương chỉ ra mối tương quan giữa biến độc lập
Trang 14và biến phụ thuộc, giá trị này được sử dụng để chỉ ra biến phụ thuộc được giải thích bởi biến độc lập như thế nào
R < 0,3 & R2 < 0,1 Tương quan nhỏ
Đối tượng nghiên cứu là sinh viên gồm có, 146 hay 20,1% sinh viên 18 tuổi, 24% đối tượng sinh viên 19 tuổi và số lượng tương tự 24% ở độ tuổi 22; 17 sinh viên trong độ tuổi 20 trong khi 151 sinh viên trong độ tuổi 21 Bên cạnh đó, có 43 sinh viên trong độ tuổi 23 tuổi, 19 sinh viên 24 tuổivaf chỉ có 2 sinh viên trong độ tuổi 25 Trong số 728 sinh viên, có 363 sinh viên, chiếm 49,9% là nam và
365 sinh viên, chiếm 50,1% là nữ 100% sinh viên đều độc thân Trong tổng số sinh viên, có 242 sinh viên năm thứ nhất; 202 sinh viên năm thứ 4; 166 sinh viên năm thứ 3; 98 sinh viên năm thứ 2 và chỉ có 20 sinh viên năm thứ 5
Trong số 145 đối tượng nghiên cứu là giảng viên, 32,3% đối tượng nghiên cứu từ 26 đến 28 tuổi, và một số lượng ít hơn là từ 33 đến 35 tuổi 14,5% 29 tới 32 tuổi và một số lượng tương tự ở độ tuổi
Trang 1536 đến 38 tuổi Có 9% số lượng đối tượng nghiên cứu ở độ tuổi 23 đến 25; 0,7% ở độ tuổi từ 29 đến 41; 2,1% từ 42 đến 44 tuổi; 1,4% ở
độ tuổi từ 41 đến 53 và không có đối tượng nghiên cứu nào ở độ tuổi
từ 48 đến 50 tuổi Bảng 4 chỉ ra 61 giảng viên trong số 145, chiếm 42,1% giảng viên là nam và 84 đối tượng nghiên cứu hay 57,9% là
nữ, 24 đối tượng nghiên cứu hay16,6% là độc thân; 121 hay 83,4%
đã kết hôn 59,3% đối tượng nghiên cứu đạt trình độ thạc sỹ; 30 đối tượng nghiên cứu hay 20,7% đạt trình độ tiến sỹ; 18% là phó giáo sư;
6% là cử nhân và 5% số lượng còn lại đang học thạc sỹ
Phần II: Đặc điểm cá nhân và đặc điểm nghề nghiệp của giảng viên
Giá trị tính trung bình 3,47 and 3,36 chỉ ra rằng cả giảng viên
và sinh viên đều rất đồng ý và đồng ý với các đặc điểm của người giảng viên xét về khía cạnh thể chất
Giá trị trung bình 3,44 and 3,35 chỉ ra rằng cả giảng viên và sinh viên đều rất đồng ý và đồng ý với các đặc điểm của người giảng viên xét về khía cạnh trí tuệ
Giá trị trung bình từ đối tượng nghiên cứu 3,51 và 3,40 giải thích rằng cả sinh viên và giảng viên đều rất đồng ý các đặc điểm của người giảng viên xét về khía cạnh tình cảm
Giá trị trung bình 3,30 và 3,36 chỉ ra rằng cả sinh viên và giảng viên đều đồng ý các đặc điểm của người giảng viên xét về khía cạnh
Trang 16Giá trị trung bình 3,26 và 3,34 giải thích rằng cả hai đối tượng nghiên cứu giảng viên và sinh viên đều đồng ý với các đặc điểm của người giảng viên xét về các kỹ năng quản lý
Giá trị trung bình, 3,19 và 3,31, xác định rằng giảng viên và sinh viên đều đồng ý với các đặc điểm của người giảng viên xét về các kỹ năng đánh giá
Giá trị trung bình 3,16 và 3,26 thể hiện rằng giảng viên và sinh viên đều đồng ý với các đặc điểm của người giảng viên xét về các kỹ năng hướng dẫn
Phần III: Hoạt động giảng dạy của giảng viên
Giá trị trung bình 3,90 & 3,69 từ đối tượng nghiên cứu giảng viên và sinh viên xác định rằng hoạt động giảng dạy của giảng viên xét về sự tận tụy đáp ứng và vượt yêu cầu công việc
Hoạt động giảng dạy của giảng viên xét về kiến thức chuyên môn được đánh giá là đáp ứng và vượt yêu cầu công việc bởi giá trị trung bình là 4,13 và 3,75
Giá trị trung bình 3,80 và 3,67 chỉ ra rằng hoạt động giảng dạy của giảng viên giảng dạy cho sinh viên học tập độc lập đáp ứng và vượt yêu cầu công việc tại ĐHTN
Giá trị trung bình 3,79 và 3,56 chỉ ra rằng hoạt động giảng dạy của giảng viên xét về việc quản lý việc học tập của sinh viên đáp ứng
và vượt yêu cầu công việc tại ĐHTN
Phần IV: Những tương quan trong hoạt động giảng dạy của giảng viên