1 2 Mục Lục LỜI MỞ ĐẦU 4 CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VÀ TỔNG QUAN 6 1 Khái niệm Chính sách tiền tệ 6 1 1 Khái niệm 6 1 2 Phân loại chính sách tiền tệ 6 1 2 1 Chính sách tiền tệ mở rộng 6 1 2 2 Chính sách tiền.
Trang 2Mục Lục
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ TỔNG QUAN 6
1 Khái niệm Chính sách tiền tệ 6
1.1 Khái niệm 6
1.2 Phân loại chính sách tiền tệ 6
1.2.1 Chính sách tiền tệ mở rộng 6
1.2.2 Chính sách tiền tệ thu hẹp 6
1.3 Vai trò của chính sách tiền tệ với nền kinh tế 7
2 Khái niệm FED 7
2.1 FED là gì? 7
2.2 Cơ cấu hệ thống dự trữ liên bang Mỹ 8
2.3 Nhiệm vụ thực thi chính sách tiền tệ của Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 9
CHƯƠNG 2 CÔNG CỤ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA FED 9
1 Công cụ để vận hành chính sách tiền tệ của FED 9
2.Cách điều hành chính sách tiền tệ của FED 12
3.Tác động của chính sách tiền tệ trong ngắn hạn và dài hạn 12
4.Khủng hoảng tài chính Mỹ 14
4.1 Trước cuộc khủng hoảng tài chính 14
4.2 Các giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng và mức lãi suất giới hạn zero 14
4.3 Sự trợ giúp trực tiếp của FED trong suốt và sau cuộc khủng hoảng tài chính 14
4.4 Gói nới lỏng định lượng QE và các hướng dẫn kỳ hạn 15
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ VÀ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP CỦA FED ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ 16
1 Lãi suất FED hiện nay 16
2 Tác động của việc FED tăng lãi suất đối với nền kinh tế 16
2.1 Đối với kinh tế thế giới 17
2.2 Đối với kinh tế Việt Nam 18
3 FED tăng lãi suất ảnh hưởng gì đến TTCK Việt nam 19
KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3QE: là một trong những phương pháp nới lỏng tiền tệ
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTW: Ngân hàng Trung Ương
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ thời kỳ lạm phát cao vào những năm 1970, hầu hết các ngân hàng trung ương có xu hướng hình thành chính sách tiền tệ theo chi phí tiền tệ và tín dụng hơn là theo cung tiền và tín dụng Do đó, Fed thực hiện chính sách tiền tệ của mình bằng cách tập trung vào chi phí tiền tệ và tín dụng, biến đại diện là lãi suất Vì vậy, trên thực tế, mục tiêu của Fed là lãi suất rất ngắn hạn, được gọi là lãi suất liên ngân hàng Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC) họp sáu tuần một lần để quyết định mức lãi suất liên ngân hàng mục tiêu và đôi khi là các cuộc họp đặc biệt để sửa đổi mức mục tiêu này Lãi suất liên ngân hàng hiệu quả một mặt được xác định theo mức mục tiêu của Fed; mặt khác, dựa vào nguồn dự trữ hàng ngày của các tổ chức lưu ký Vào cuối một khoảng thời gian nhất định, ví dụ như cuối ngày, các tổ chức nhận tiền gửi phải tính toán lượng
dự trữ mà họ muốn hoặc phải giữ liên quan đến tổng số tiền gửi Một số tổ chức có thể hết tiền
dự trữ trong khi những tổ chức khác có nhiều hơn mức họ cần Các khoản dự trữ này có thể được mua và bán hàng ngày trên một thị trường tư nhân được gọi là thị trường liên ngân hàng Lãi suất trên thị trường này được gọi là lãi suất liên ngân hàng Đó là lãi suất mà Fed sử dụng làm mục tiêu cho việc thực hiện chính sách tiền tệ Nếu muốn tăng lượng tiền và tín dụng, Fed sẽ hạ lãi suất mục tiêu, do đó khuyến khích hoạt động cho vay nhiều hơn và do đó làm tăng nhu cầu trong nền kinh tế Để hỗ trợ các mức lãi suất thấp này, Fed phải sẵn sàng mua thêm trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ
Ngược lại, nếu muốn thắt chặt tiền tệ và tín dụng, Fed sẽ tăng lãi suất mục tiêu này và tăng dự trữ bắt buộc, đồng thời bán chứng khoán khỏi danh mục tài sản của mình Lãi suất liên ngân hàng có liên quan chặt chẽ với lãi suất mà các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác tính khi họ cho vay – hoặc gia hạn tín dụng Vì vậy, trong khi Fed chỉ có thể ảnh hưởng đến lãi suất rất ngắn hạn, thì nó lại ảnh hưởng đến nhiều loại lãi suất khác – lãi suất dài hạn Tuy nhiên, mối quan hệ này không chỉ đơn giản là mối quan hệ hành động một đối một, vì lãi suất thị trường dài hạn bị ảnh hưởng không chỉ bởi những gì Fed làm hôm nay, mà còn bởi những gì Fed làm hôm nay, mà còn bởi những gì Fed làm Hôm nay Fed dự kiến sẽ làm gì trong tương lai và theo những gì lạm phát dự kiến sẽ xảy ra trong các giai đoạn tương lai
Thực tế chính sự kiện này đánh dấu tầm quan trọng của những kỳ vọng góp phần giải thích các mức lãi suất thị trường Vì lý do này, ngày càng có nhiều giả thuyết cho rằng Fed cần minh bạch về các chính sách và cam kết thực hiện chúng Vấn đề là, Fed đã làm điều đó rất tốt
Trang 5Sử dụng lãi suất thị trường như một chỉ số của chính sách tiền tệ có thể gây hiểu nhầm vì lãi suất danh nghĩa khác với lãi suất thực Trên thực tế, các nhà kinh tế gọi tốc độ mà các hộ gia đình và doanh nghiệp chi tiêu tiền của họ là lãi suất thực (là lãi suất thị trường trừ đi tỷ lệ lạm phát thực tế hoặc dự kiến) Lãi suất liên ngân hàng là một trong những loại lãi suất danh nghĩa trong hệ thống tài chính So với các lãi suất danh nghĩa này, lãi suất thực tế độc lập hơn với dự trữ tiền tệ và tín dụng dài hạn vì nó được xác định trên cơ sở tác động qua lại giữa tiết kiệm (cung vốn) và đầu tư (cầu vốn) Việc quốc tế hóa thị trường vốn có nghĩa là đối với hầu hết các nước phát triển, sự tương tác giữa tiết kiệm và đầu tư quyết định lãi suất thực trên toàn thế giới
Như vậy, lãi suất thực không chỉ phụ thuộc vào tiết kiệm và đầu tư của Hoa Kỳ mà còn phụ thuộc vào tiết kiệm và đầu tư của nhiều quốc gia khác Vì lý do này, lãi suất của một quốc gia sẽ bị ảnh hưởng bởi các điều kiện tín dụng quốc tế và chu kỳ kinh tế Để hiểu rõ hơn vai trò, nhiệm vụ, FED ảnh hưởng thế nào tới tình trạng lạm phát và khủng hoảng kinh tế, thị trường lãi suất và thị trường tiền tệ ngoại hối…Tôi đã chọn đề tài “CÔNG CỤ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ” để tìm hiểu rõ hơn cách vận hành chính sách tiền tệ của Cục Dữ Trữ Liên Bang Mỹ
Trang 6CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VÀ TỔNG QUAN
1 Khái niệm Chính sách tiền tệ
1.1 Khái niệm
định giá trị đồng tiền, ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc sử dụng các công
cụ và biện pháp hoạt động tín dụng ngoại hối
hưởng đến tổng cầu và sản lượng trong nước, khiến chúng trở thành công cụ ổn định kinh tế hiệu quả cho các chính phủ ngày nay
1.2 Phân loại chính sách tiền tệ
Hiện nay, chính sách tiền tệ được phân ra thành hai loại với các mục tiêu, công cụ sử dụng và phương thức hoạt động khác nhau cụ thể là:
1.2.1 Chính sách tiền tệ mở rộng
Chính sách tiền tệ mở rộng (chính sách nới lỏng tiền tệ) là chính sách mở rộng cung tiền, làm cho lãi suất giảm để tăng tổng cầu Điều này sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động và thúc đẩy đầu tư mở rộng sản xuất và hoạt động
Để thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, ngân hàng trung ương sẽ thực hiện một trong ba cách tiếp cận:
- Mua chứng từ có giá trên thị trường chứng khoán
- Cắt giảm tỷ lệ dự trữ tiền gửi
- Hạ lãi suất chiết khấu thị trường
Chính sách tiền tệ mở rộng được thực hiện khi nền kinh tế một nước suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, còn được gọi là chính sách tăng việc làm
1.2.2 Chính sách tiền tệ thu hẹp
Chính sách tiền tệ thắt chặt (chính sách thắt chặt tiền tệ) là chính sách làm giảm cung tiền, khiến lãi suất tăng lên để thu hẹp tổng cầu và hạ thấp mức giá chung Để thực hiện chính sách tiền tệ này, ngân hàng trung ương sẽ làm như sau:
- Bán chứng từ có giá trên thị trường chứng khoán
Trang 7- Tăng mức dự trữ bắt buộc
- Tăng lãi suất chiết khấu và kiểm soát chặt chẽ hoạt động tín dụng
Trong trường hợp nền kinh tế của một quốc gia có lạm phát gia tăng, chính sách thắt chặt tiền tệ được thực hiện nhằm kiểm soát lạm phát một cách hợp lý hay còn gọi là kiểm soát lạm phát
1.3 Vai trò của chính sách tiền tệ với nền kinh tế
Với tầm quan trọng của nó, vai trò của chính sách tiền tệ trong nền kinh tế là gì? Bạn có thể tham khảo một số vai trò chính của chính sách tiền tệ dưới đây:
- Giúp cân đối tổng cầu và tổng cung trong nền kinh tế thông qua chỉ tiêu GDP nhằm kiểm soát lạm phát và thất nghiệp
- Giúp ổn định thị trường lãi suất và thị trường tiền tệ ngoại hối của nền kinh tế trong nước
- Ổn định sức mua của đồng tiền, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trong nước
- Tạo thêm nhiều việc làm cho nền kinh tế và giảm tỷ lệ thất nghiệp cho nhiều người lao động
- Sự tác động trực tiếp từ mối liên hệ, quan hệ chặt chẽ của các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhau như chính sách tài khóa, chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách thu ngoại tệ đối với hệ thống lưu thông tiền tệ của đất nước
2 Khái niệm FED
2.1 FED là gì?
Hệ thống Dự trữ Liên bang (FED) còn được gọi là Cục Dự trữ Liên bang, là ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ và được thành lập vào ngày 23 tháng 12 năm 1913 Cục Dự trữ Liên bang được Tổng thống Woodrow Wilson ký ban hành theo Đạo luật Dự trữ Liên bang nhằm duy trì chính sách tiền tệ linh hoạt, ổn định và an toàn cho nước Mỹ Cục Dự trữ Liên bang hoàn toàn độc lập và không phụ thuộc hoặc chịu ảnh hưởng của chính phủ Hoa Kỳ Đây là tổ chức duy nhất trên thế giới được phép in USD (đô la Mỹ)
Vì vậy, Cục Dự trữ Liên bang đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định và điều chỉnh chính sách tiền tệ Những thay đổi về lãi suất và cung tiền của Fed sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường và các nhà đầu tư
Trang 82.2 Cơ cấu hệ thống dự trữ liên bang Mỹ
Fed bao gồm một số tổ chức tài chính công cộng và tư nhân lớn Cục Dự trữ Liên bang có
cơ cấu tổ chức bao gồm các thành phần chính sau:
- Hội đồng gồm 7 thành viên do Tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm với nhiệm kỳ 14 năm
- Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC)
- Các ngân hàng của Fed bao gồm 12 ngân hàng dự trữ liên bang khu vực tại các thành phố lớn
- Các ngân hàng thành viên tham gia
Hình 1.1 Bản đồ các khu vực quản lý của các ngân hàng Fed khu vực (Nguồn: Wikipedia)
Các Ngân hàng Dự trữ Liên bang Khu vực do Quốc hội thành lập là các chi nhánh của hệ thống ngân hàng trung ương, được tổ chức như một tổ chức tư nhân Ví dụ, cổ phần của Ngân
Trang 9hàng Dự trữ Liên bang khu vực được nắm giữ bởi các ngân hàng thành viên Việc sở hữu những
cổ phiếu này khác với việc sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty Các Ngân hàng Dự trữ Liên bang Khu vực hoạt động phi lợi nhuận và quyền sở hữu cổ phần là yêu cầu để trở thành thành viên Cổ phiếu không thể được giao dịch hoặc thế chấp Cổ tức cố định là 6%/năm Theo tài sản, Fed New York là ngân hàng lớn nhất hoạt động tại Quận 2 của Bang New York, New York, Puerto Rico và Quần đảo Virgin thuộc Hoa Kỳ Cổ tức được trả dưới dạng bù lãi suất cho các khoản dự trữ thâm hụt được giữ tại Fed Theo luật, mọi ngân hàng đều phải duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ này phần lớn nằm ở Fed Cục Dự trữ Liên bang không trả lãi cho các khoản dự trữ này
Mười hai Ngân hàng Dự trữ Liên bang khu vực đặt tại Boston, New York, Philadelphia, Chicago, St Louis, Richmond, Cleveland, Atlanta, Minneapolis, Kansas City, Dallas và San Francisco đảm nhận các nhiệm vụ còn lại
2.3 Nhiệm vụ thực thi chính sách tiền tệ của Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED)
Theo thời gian, cấu trúc của Fed đã thay đổi và nhiệm vụ của nó đã được mở rộng Cục
Dự trữ Liên bang đã làm rõ vai trò của chính sách tiền tệ trong Đạo luật Dự trữ Liên bang năm
1977 và trách nhiệm chính của nó như sau:
- Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia bằng cách tạo công ăn việc làm cho người Mỹ, ổn định giá cả, điều chỉnh lãi suất dài hạn một cách hợp lý
- Duy trì ổn định kinh tế và kiểm soát rủi ro hệ thống có thể phát sinh trên thị trường tài chính
Ổn định giá cả sản phẩm và dịch vụ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Đảm bảo sự ổn định của hệ thống an ninh tài chính, quyền và lợi ích tín dụng nhân dân, giám sát các tổ chức tài chính ngân hàng
- Cung cấp dịch vụ tài chính cho các tổ chức chính thức nước ngoài, các nhà quản lý tài sản giá trị và chính phủ Hoa Kỳ Fed cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý hệ thống thanh toán của quốc gia
CHƯƠNG 2 CÔNG CỤ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA FED
1 Công cụ để vận hành chính sách tiền tệ của FED
Trang 10Chính sách tiền tệ là lĩnh vực của Hệ thống Dự trữ Liên bang, một cơ quan độc lập của chính phủ Hoa Kỳ Hệ thống Dự trữ Liên bang, còn được gọi là "Fed", bao gồm 12 Ngân hàng
Dự trữ Liên bang khu vực và 25 chi nhánh Ngân hàng Dự trữ Liên bang Theo truyền thống, Fed
đã sử dụng ba công cụ để thực thi chính sách tiền tệ của mình: (1) nghiệp vụ thị trường mở; (2)
dự trữ bắt buộc; (3) tỷ lệ chiết khấu
- Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ điều tiết quan trọng đầu tiên Điều này được thực hiện
bằng cách mua và bán trái phiếu kho bạc Mỹ (phát hành và bán cho các nhà đầu tư tư nhân) trên thị trường thứ cấp Fed mua các chứng khoán này bằng tiền mới phát hành (Fed Notes), do đó mở rộng cơ sở dự trữ, tăng khả năng cho vay, nhận tiền gửi của các tổ chức, tăng tiền và tín dụng Cơ chế hoạt động ngược lại nếu Fed bán chứng khoán ra công chúng để gây quỹ Từ năm 2009 đến
2014, Cục Dự trữ Liên bang đã mua chứng khoán cho chương trình QE, nhưng lần này giao dịch chúng thông qua repo (thỏa thuận mua lại trái phiếu có thể bán được) để bơm thêm thanh khoản vào hệ thống ngân hàng; bây giờ Fed đã quyết định sử dụng mua lại đảo ngược để rút thanh khoản và bình thường hóa chính sách tiền tệ
Khi Fed mua trái phiếu chính phủ từ các ngân hàng thương mại, cung tiền của các ngân hàng đó tăng lên; Khi cung tiền dồi dào, lãi suất giảm và việc vay mượn trở nên dễ dàng hơn Biện pháp này được thực hiện để kích thích phát triển kinh tế Ngược lại, khi Fed bán trái phiếu chính phủ cho các ngân hàng thành viên, số tiền đó sẽ bị loại bỏ một phần khỏi nền kinh tế; Thiếu vốn làm tăng lãi suất và người dân thắt chặt chi tiêu Biện pháp này được thực hiện để ngăn chặn một nền kinh tế siêu lạm phát
- Dự trữ bắt buộc là công cụ thứ hai Fed có thể yêu cầu thay đổi dự trữ, là tỷ lệ phần trăm tiền
gửi của khách hàng mà các ngân hàng phải giữ bằng tiền mặt hoặc tiền gửi tại Fed Do đó, dự trữ bắt buộc sẽ có tác động đến khả năng thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng Tỷ lệ này thường nằm trong khoảng từ 0 đến 10% tổng số tiền gửi để đáp ứng các tài khoản giao dịch trừ
dự trữ tùy thuộc vào quy mô và loại tiền gửi ngân hàng Tuy nhiên, loại công cụ này ít được sử dụng và có nhiều tranh luận về sự cần thiết phải thay đổi Cục Dự trữ Liên bang sẽ thiết lập mức
dự trữ an ninh của các ngân hàng thành viên
Như vậy, Fed có thể kiểm soát lượng cung tiền trên thị trường Khi FED quy định mức dự trữ cao
có nghĩa là FED đang muốn thắt chặt cung tiền trong nền kinh tế, các ngân hàng thành viên buộc phải tăng lãi suất để đảm bảo kế hoạch lợi nhuận Ngược lại, khi Fed yêu cầu mức dự trữ thấp, cơ
Trang 11quan này muốn tăng lượng tiền trong lưu thông, lúc đó lãi suất sẽ giảm để kích thích nhu cầu đi vay
- Công cụ thứ ba của Fed là lãi suất chiết khấu, hay tỷ lệ chiết khấu mà các ngân hàng
thương mại phải trả khi họ vay tiền từ quỹ ngân hàng dự trữ Bằng cách tăng hoặc giảm Lãi suất Ngân hàng, Fed có thể khuyến khích hoặc không khuyến khích vay và do đó thay đổi thu nhập
mà các ngân hàng kiếm được từ việc cho vay Những công cụ này cho phép Fed tăng hoặc giảm lượng tiền và tín dụng trong nền kinh tế Mỹ Nếu cung tiền tăng, tín dụng được cho là nới lỏng: trong bối cảnh này, lãi suất có xu hướng giảm, chi tiêu của doanh nghiệp và tiêu dùng có xu hướng tăng, và việc làm cũng tăng; Nếu nền kinh tế đang hoạt động gần hết tiềm năng của nó, thì quá nhiều tiền có thể dẫn đến lạm phát hoặc giảm giá trị của đồng đô la Ngược lại, khi cung tiền
co lại, tín dụng thắt chặt Trong bối cảnh đó, lãi suất có xu hướng tăng lên, mức chi tiêu dừng lại hoặc giảm xuống và lạm phát giảm xuống; Nếu nền kinh tế hoạt động dưới mức tiềm năng, một đồng tiền thắt chặt có thể khiến tỷ lệ thất nghiệp gia tăng
Khi các ngân hàng thương mại cần các khoản vay ngắn hạn, họ vay với lãi suất liên ngân hàng hoặc vay từ Fed (thường thấp hơn lãi suất liên ngân hàng) Khi Fed tăng lãi suất chiết khấu, các ngân hàng thành viên sẽ “ngại” đi vay; Ngoài ra, họ cũng hạn chế cho vay bên ngoài Đây là biện pháp được áp dụng khi Fed muốn thắt chặt cung tiền Ngược lại, khi Cục Dự trữ Liên bang hạ lãi suất chiết khấu, nó sẽ kích thích nhu cầu vay từ các ngân hàng thành viên Các ngân hàng giờ đây
sẽ tích cực cho vay ra bên ngoài nền kinh tế hoặc đầu tư; bởi vì nếu họ cần các khoản vay ngắn hạn, họ có thể vay từ Fed Là biện pháp được áp dụng khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ muốn tăng cung tiền trên thị trường
Cuối cùng, Fed có thể thay đổi hai loại lãi suất - lãi suất tính cho người đi vay và lãi suất trả cho người gửi tiền, thông qua lãi suất chiết khấu Fed cho phép các tổ chức lưu ký vay trực tiếp từ Fed trên cơ sở tạm thời thông qua cửa sổ chiết khấu Điều này có nghĩa là các tổ chức này
có thể chiết khấu một số tài sản của chính họ với Fed để tạm thời giữ dự trữ Giảm giá nói chung
là trên cơ sở ngắn hạn qua đêm Các ngân hàng có đặc quyền này sẽ được tính lãi suất được gọi là lãi suất chiết khấu Fed tính lãi suất này dựa trên lãi suất thị trường liên ngân hàng cộng với một khoản phí nhỏ Fed hoạt động như một "người cho vay cuối cùng" bởi vì cho vay trực tiếp, từ cửa
sổ chiết khấu và các phương tiện cho vay khác được tạo ra theo thời gian, chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong các điều kiện tài chính thông thường ngày nay, nhưng là một nguồn quan trọng của thanh
Trang 12khoản trong thời kỳ khủng hoảng tài chính Vào tháng 10 năm 2008, Fed bắt đầu trả lãi cho các khoản dự trữ bắt buộc và vượt mức được gửi vào Fed Điều này làm giảm chi phí cơ hội cho các ngân hàng khi nắm giữ các khoản tiền này (vì thay vì giữ chúng, các ngân hàng có thể cho vay,
do đó ảnh hưởng đến lãi suất mà họ tính) các ngân hàng sẵn sàng cho nhau vay dự trữ, chẳng hạn như lãi suất liên ngân hàng) Mỗi công cụ trên hoạt động bằng cách ảnh hưởng đến tính thanh khoản tổng thể của hệ thống ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến lượng tài sản mà các tổ chức này có thể có Những tài sản này thường được gọi là các khoản vay vì chúng đại diện cho các khoản vay
mà các tổ chức này cung cấp cho các doanh nghiệp và hộ gia đình… Chính sách tiền tệ của Fed được định nghĩa là các hoạt động mà Fed thực hiện để tác động đến sự sẵn có và chi phí của tiền
và tín dụng Như vậy, định nghĩa này đã góp phần hình thành hai cách đo lường vị thế của CSTT Đầu tiên, nếu chúng ta xem xét chi phí tiền tệ và tín dụng, thì chính sách tiền tệ được đo lường bằng mức lãi suất so với lạm phát (hoặc kỳ vọng lạm phát) Thứ hai, nếu chúng ta nhìn vào sự sẵn có, chính sách tiền tệ đo lường sự tăng trưởng của tiền tệ và tín dụng Do đó, trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét lãi suất hoặc tốc độ tăng trưởng cung tiền và tín dụng để đưa ra kết luận
về lập trường chính sách tiền tệ hiện tại; Cụ thể, chính sách tiền tệ hoặc là mở rộng (kích thích nền kinh tế), hoặc thắt chặt (làm chậm hoạt động kinh tế) hoặc trung lập
2.Cách điều hành chính sách tiền tệ của FED
Giống như các ngân hàng trung ương khác, Fed thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách sửa đổi các điều kiện cung ứng tiền và tín dụng ở cấp độ nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu mà Quốc hội đề ra, chủ yếu là ổn định giá cả và tối đa hóa bền vững việc làm Như ở nhiều nền kinh
tế thị trường khác, kỳ vọng của các hộ gia đình với tư cách là người tiêu dùng và doanh nghiệp với tư cách là nhà đầu tư vào tư liệu sản xuất chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng chi tiêu trong nền kinh tế Hoa Kỳ, và bởi vì những kỳ vọng này có tác động đáng kể đến hành vi của Fed, bản thân định nghĩa rộng về chính sách tiền tệ bao gồm nhiều hoạt động hơn, chẳng hạn như các chỉ thị hướng dẫn các chính sách, tuyên bố, dự báo kinh tế của Fed
3.Tác động của chính sách tiền tệ trong ngắn hạn và dài hạn
Trong ngắn hạn, chính sách tiền tệ mở rộng làm giảm lãi suất dẫn đến tăng chi tiêu nhạy cảm với lãi suất, nếu các yếu tố khác không đổi Các loại chi tiêu nhạy cảm với lãi suất bao gồm đầu tư vào vốn vật chất (chẳng hạn như nhà máy và thiết bị) của các doanh nghiệp, đầu tư vào