II 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài Hiện nay công nghệ thông tin nói chung và Tin học nói riêng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công việc quản lý và giảng dạy trong các cơ sở giáo dục, trong hầu hết[.]
Trang 11 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay công nghệ thông tin nói chung và Tin học nói riêng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công việc quản lý và giảng dạy trong các cơ sở giáo dục, trong hầu hết mọi lĩnh vực CNTT đã được ứng dụng, với những tính năng ưu việt, sự tiện dụng, tin học đã là một phần không thể thiếu được trong nhiều ngành cũng như sự phát triển Trong nhiều năm gần đây ngành GD-ĐT đã trở thành điểm sáng về ứng dụng CNTT vào quản lý và trong công tác giảng dạy của giáo viên
Tin học là một môn học mới và có những đặc thù riêng là liên quan chặt chẽ với sử dụng máy tính Đây là một chương trình đào tạo mang tính ứng dụng, do đó yêu cầu người học phải nắm bắt chính xác, nhanh, sử dụng máy tính tốt và kỹ năng thực hành trên máy tính phải ở mức độ tốt nhất
Không như những môn học khác, đặc trưng của môn Tin học là lí thuyết đi đôi với thực hành Thời lượng thực hành thông thường ít nhất là 50%, mức thời gian tốt nhất là khoảng 75%, học sinh có thể học lý thuyết ngay trên phòng máy tính để nhận biết các thao tác cũng như các lệnh và nút lệnh một cách trực quan và
rõ ràng hơn
Qua thực tế những năm giảng dạy môn Tin học 6, bản thân tôi nhận thấy rằng nhiều học sinh còn yếu về kĩ năng thực hành trên máy Thậm chí còn có một
số học sinh còn ngại thực hiện các thao tác trên máy mà chủ yếu là quan sát các học sinh khác trong nhóm thực hành (HS khá-giỏi) Do vậy kiến thức, kỷ năng cần nắm của học sinh trong các tiết thực hành chất lượng chưa cao
Từ những băn khoăn trăn trở làm thế nào nâng cao chất lượng trong mỗi giờ thực hành nên trong quá trình giảng dạy tôi luôn chú trọng đến việc hướng dẫn, chia nhóm thực hành sao cho các đối tượng học sinh đều có thời gian tiếp xúc, sử dụng máy nhiều giúp các em có thể tự khám phá, tự học và giúp đỡ lẫn nhau
Với những suy nghĩ, những băn khoăn trăn trở đó, bản thân tôi đã mạnh dạn
lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp để giúp học sinh nắm chắc kiến thức và kỷ năng trong các tiết thực hành Tin học lớp 6” giúp các em có thể thực hiện thành
thạo các thao tác trên máy tính để các em có thể tự khám phá, tự học
Trang 21.2 Điểm mới của đề tài
Nhằm giúp các em có những phương pháp tốt nhất để giải quyết những bài thực hành từ cơ bản đến nâng cao bằng những thao tác thực hành trực tiếp trên máy tính, yêu cầu giáo viên phải tìm tòi những giải pháp phù hợp để giúp học sinh thực hành làm các bài tập trên máy tính bằng phần mềm soạn thảo văn bản Word trong chương trình Tin học 6 đó là:
Hệ thống lại những kiến thức cơ bản của từng bài học, bằng những thao tác thực hành trực tiếp trên máy tính, để học sinh tiếp thu các kiến thức cơ bản về phần mềm soạn thảo văn bản một cách thuận lợi nhất và dễ hiểu nhất
Hướng dẫn cho học sinh cách giải quyết các bài thực hành trên máy tính khi
áp dụng các thao tác này vào các bài thực hành được tốt hơn
1.3 Phạm vi áp dụng
Phạm vi áp dụng trong các tiết thực hành môn Tin học các lớp 6A,B,C Trường THCS đơn vị tôi đang công tác
Đối tượng học sinh lớp 6 trường THCS đơn vị tôi đang công tác năm học
2019 - 2020
Trang 32 PHẦN NỘI DUNG 2.1 Thực trang của nội dung cần nghiên cứu
Tin học là bộ môn khoa học gắn liền với công nghệ thông tin, thực tế đã chứng minh được rằng, trong tất cả mọi lĩnh vực khác có ứng dụng công nghệ thông tin, hiệu quả của công việc tăng lên rõ rệt Còn trong lĩnh vực nghiên cứu, học tập, dạy học để tạo ra những con người làm chủ những công nghệ cao đó thì sao?
Với tốc độ phát triển đến chóng mặt của công nghệ và kỹ thuật cao, lượng kiến thức của nhân loại thì vô hạn, mà thời gian của con người thì có hạn, bởi vậy với việc ứng dụng tốt công nghệ thông tin sẽ giúp con người nhanh chóng bổ sung thêm kiến thức và giải quyết được vấn đề của chính bản thân
Công nghệ thông tin giúp cho người học có thể nâng cao kiến thức Có thể tìm kiếm thông tin trên mạng internet để làm phong phú nguồn kiến thức của mình
Trang bị kiến thức về Tin học cho học sinh giúp các em phát triển tư duy thuật toán, rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề, mặt khác phải chú trọng đến rèn luyện kĩ năng thực hành, ứng dụng, tạo mọi điều kiện để học sinh được thực hành, nắm bắt và tiếp cận những công nghệ mới của Tin học phục vụ học tập và đời sống Nội dung chương trình của môn Tin học tự chọn hiện hành ở các trường phổ thông đã đáp ứng được những yêu cầu trên
Nhưng thực tế với nhiều năm giảng dạy Tin học bậc THCS tôi nhận thấy học sinh trên địa bàn chủ yếu là con em các gia đình làm nghề nông, sự quan tâm của phụ huynh đến việc học tập của con em còn nhiều hạn chế, điều kiện để các
em có máy vi tính ở nhà là rất khó, hầu hết các em chỉ được tiếp xúc, làm quen với máy tính trong giờ học dẫn đến việc sử dụng máy của học sinh còn lúng túng, chất lượng giờ thực hành chưa cao Một bộ phận học sinh chưa coi trọng môn học, xem đây là một môn phụ nên chưa có sự đầu tư thời gian cho việc học
Trong giời học Tin học học sinh chủ yếu thích thực hành nhưng khi thực hành nếu giáo viên không có phương pháp quản lý học sinh, không theo dõi kèm cặp các em thì các em ngồi vào máy chủ yếu là chơi games, nội dung các bài thực
Trang 4hành thì làm qua loa, việc nắm kiến thức và kỷ năng trong các tiết thực hành không cao
Trước khi thực hiện đề tài tôi đã tiến hành kiểm tra và khảo sát qua một số giờ thực hành đối với học sinh ở các lớp kết quả như sau:
Đánh giá về kiến thức của học sinh trong giờ thực hành khi chưa áp dụng đề tài trong học kỳ I năm học 2019 - 2020
số
Kết quả kiểm tra
2.2: Các giải pháp
Từ thực trạng trên tôi xin đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trong giờ học thực hành môn Tin hoc 6:
Giải pháp 1: Thiết kế bài dạy thực hành phải phù hợp với nhiều đối tượng học sinh.
Công việc thiết kế chu đáo trước một bài dạy và phù hợp với nhiều đối tượng là khâu quan trọng không thể thiếu của một tiết dạy học mà bất kì một giáo viên nào cũng phải biết “Thiết kế trước bài dạy giúp giáo viên chuẩn bị chu đáo hơn về kiến thức, kĩ năng, phương pháp, tiến trình và tâm thế để đi vào một tiết dạy”
Để thiết kế một bài dạy phù hợp cho nhiều đối tượng học sinh thì tối thiểu nhất phải làm được những việc sau:
- Xác định được mục tiêu trọng tâm của bài học bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng Tìm ra được những kĩ năng cơ bản dành cho học sinh yếu kém và kiến thức,
kĩ năng nâng cao cho học sinh khá giỏi
Trang 5- Tham khảo thêm tài liệu để mở rộng và đi sâu hơn vào bản chất của đơn vị kiến thức, giúp giáo viên nắm một cách tổng thể, để giải thích cho học sinh khi cần thiết
- Nắm được ý đồ của sách giáo khoa để xây dựng và thiết kế các hoạt động học tập phù hợp với tình hình thực tế của đối tượng và trình độ học sinh, điều kiện dạy học
- Chuẩn bị tốt phòng thực hành, các thiết bị dạy học
- Cuối cùng làm hoàn chỉnh tiến trình của một giờ dạy học với đầy đủ các hoạt động cụ thể
Nếu thực hiện tốt những việc này xem như giáo viên đã chuẩn bị tốt tâm thế
để bước vào giờ dạy và đã thành công bước đầu
Giải pháp 2: Điều hành tổ chức hoạt động của học sinh trên lớp.
Việc thiết kế tốt một bài dạy và phù hợp với từng đối tượng học sinh xem như đã thành công một nửa nhưng đó chỉ được xem như bước khởi đầu cho một tiết dạy còn khâu quyết định thành công chính là ở khâu tổ chức điều khiển các đối tượng học sinh trên lớp
Trong điều kiện CSVC của trường, với một giờ thực hành, việc quan trọng đầu tiên là chia nhóm thực hành Với việc cho học sinh thực hành theo nhóm, học sinh có thể trao đổi hỗ trợ lẫn nhau - bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên
Tuy nhiên để việc thực hành theo nhóm có hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn nội dung đưa vào thực hành phù hợp với nhiều đối tượng học sinh.Cách chia nhóm: Chia nhóm 1-2 học sinh/máy (nhóm ngẫu nhiên với nhiều đối tượng học sinh để hỗ trợ cho đối tượng học sinh yếu trong quá trình thực hành) Các nhóm có thể tự cử nhóm trưởng của nhóm mình
Giải pháp 3: Các bước tiến hành trong giờ học thực hành
- Giáo viên nêu vấn đề, yêu cầu và nội dung thực hành
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh các kĩ năng thao tác trong bài thực hành, thao tác mẫu cho học sinh quan sát
Trang 6- Tổ chức hướng dẫn các nhóm thực hành, gợi mở, khuyến khích học sinh tích cực hoạt động
- Giáo viên quản lí, giám sát học sinh thực hành theo nhóm :
+ Trong quá trình học sinh thực hành, giáo viên theo dõi quan sát và bổ trợ khi cần
+ Chỉ rõ những kĩ năng, thao tác nào được dành cho đối tượng học sinh yếu trong các nhóm, những kĩ năng, thao tác nào được dành cho đối tượng học sinh khá giỏi trong nhóm
+ Phát hiện các nhóm thực hành không có hiệu quả để uốn nắn điều chỉnh + Luôn có ý thức trách nhiệm trợ giúp tránh can thiệp sâu làm hạn chế khả năng độc lập, sáng tạo của học sinh
+ Trong quá trình tổ chức thực hành, giáo viên có thể đưa ra nhiều cách để thực hiện thao tác giúp các em rèn luyện và nâng cao kĩ năng
+ Xây dựng mối quan hệ thân thiện, hợp tác giữa thầy - trò, trò - trò trong môi trường học tập an toàn
- Giáo viên có thể kiểm tra hiệu quả làm việc của các nhóm bằng cách chỉ định một học sinh trong nhóm thực hiện lại các thao tác đã thực hành Nếu học sinh được chỉ định không hoàn thành nhiệm vụ, trách nhiệm gắn cho các thành viên trong nhóm, đặc biệt là nhóm trưởng Làm được như vậy các em sẽ tự giác và
có ý thức hơn trong học tập
Giải pháp 4: Nhận xét, đánh giá kết quả học tập cuối giờ học thực hành
+ Tổ chức cho các nhóm tự nhận xét kết quả thực hành, nhóm trưởng điều hành - nhận xét về kĩ năng, thái độ học tập của các bạn trong nhóm
+ Giáo viên tổng kết, nhận xét, bổ sung kiến thức
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh hệ thống lại nội dung kiến thức bài học thông qua việc sử dụng bản đồ tư duy
+ Giáo viên cũng nên có nhận xét ngắn gọn về tình hình làm việc của các nhóm đối với các nhóm chưa thực hành tốt
* Ví dụ minh hoạ về thiết kế và điều hành tổ chức các hoạt động của
tiết thực hành:
Trang 7Bài thực hành 6:
EM TẬP TRÌNH BÀY VĂN BẢN
I MỤC TIÊU
1 Kiến thức
- Luyện các thao tác mở văn bản mới hoặc văn bản đã lưu, nhập nội dung văn bản
- Thực hiện thao tác cơ bản để chỉnh sửa nội dung văn bản, thay đổi trật tự nội dung văn bản bằng các chức năng sao chép, di chuyển
2 Kỹ năng
- Luyện kĩ năng gõ văn bản tiếng Việt
3 Thái Độ
- Hình thành phong cách học tập nghiêm túc, tập trung cao độ trong thực hành
4 Năng lực hướng tới: Hình thành năng lực sử dụng công nghệ thông tin và
truyền thông, năng lực giải quyết vấn đề dựa trên tin học, năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực sáng tạo, năng lực tự trình bày văn bản trên phần mềm Word
II CHUẨN BỊ
- Giáo viên: Giáo án, SGK, phòng máy tính, máy chiếu
- Học sinh: Dụng cụ học tập, sách, vở
III TIẾN TRÌNH LÊN LỚP
1 Ổn định tổ chức (1’):
2 Kiểm tra bài cũ: (4’) ? Nêu các bước để thực hiện thao tác sao chép, di
chuyển văn bản
3.Bài mới:
A Khởi động (2’)
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ
+ GV: Yêu cầu HS khởi động máy, ngồi theo nhóm như đã phân công
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ.
HS: Kiểm tra lại thiết bị của máy tính nhóm mình và khởi động máy, ngồi theo nhóm như đã phân công
Bước 3: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
HS: Đại diện HS báo cáo kết quả
Trang 8GV: Nêu tóm tắt những kiến thức đã học và phổ biến nội dung yêu cầu của bài thực hành để chuyển sang nội dung thực hành cụ thể
B Nội dung bài thực hành (33’)
Hoạt động của thầy và trò Nội dung thực hành
Hoạt động 1:(15’)Thực hành các thao tác sao chép chỉnh sửa nội dung văn bản
* Hoạt động toàn lớp:
- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ:
+ GV: Chiếu nội dung bài Biển đẹp lên
màn hình yêu cầu HS đọc
Yêu cầu học sinh mở bài Biển đẹp trong
bài thực hành 5 thực hiện các yêu cầu
sau:
? Nhắc lại các thao tác sao chép văn bản
?Nhắc lại các thao tác di chuyển văn bản
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:
+ HS: Cá nhân HS nhớ lại các kiến thức
đã học trả lời câu hỏi
+ GV: Hướng dẫn và thực hiện thao tác
mẫu HS quan sát làm theo
- Bước 3: Báo cáo kết quả thực hiện
nhiệm vụ:
+ HS: Đại diện các nhóm (máy) lần lượt
trả lời và nhận xét kết quả, các HS khác
nhận xét bổ sung
+ GV: Nhận xét đánh giá kết quả của HS
và bổ sung
+ GV: Bổ sung và lưu ý thêm với HS
những lỗi trong soạn thảo văn bản
* Hoạt động nhóm/máy:
- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ:
B) Mở văn bản đã có và sao chép, chỉnh sửa nội dung văn bản.
BIỂN ĐẸP Buổi sớm nắng sáng Những cánh buồm nâu trên biển được nắng chiếu vào hồng rực lên như đàn bướm múa lượn giữa trời xanh
Lại đến một buổi chiều gió mùa đông bắc vừa dừng Biển lặng đỏ đục, đầy như mâm bánh đúc, loáng thoáng những con thuyền như những hạt lạc ai ai đem rắc lên trên
Rồi ngày mưa rào Mưa giăng giăng bốn phía Có quãng nắng xuyên xuống biển óng ánh đủ màu: xanh lá mạ, tím phớt, hồng, xanh biếc,… Có quãng biển thâm
xì, nặng trịch Những cánh buồm ra khỏi cơn mưa, ướt đẫm, thẫm lại, khỏe nhẹ, bồi hồi, như ngực áo bác nông dân cày xong ruộng về bị ướt
Trang 9+ GV: Yêu cầu các nhóm thực hành trên
máy tính của nhóm mình theo các yêu
cầu sau:
?Sao chép toàn bộ nội dụng của đoạn
đầu vào cuối bài.
?Chỉnh sửa lại những lỗi còn sai trên văn
bản.
?Lưu văn bản Biển đẹp
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:
+ HS: Các nhóm thực hiện theo máy tính
của các nhóm
GV: Quan sát hổ trợ các HS yếu, các
nhóm làm chưa tốt
- Bước 3: Báo cáo kết quả thực hiện
nhiệm vụ:
+ HS: Đại diện 1 vài nhóm lần lượt báo
cáo kết quả của mình trước lớp, các HS
khác nhận xét bổ sung
+ GV: Nhận xét đánh giá kết quả của HS
và bổ sung những vấn đề còn thiếu
* Đối với câu d GV hướng dẫn HS về nhà
tìm hiểu thêm chỉ lưu ý khi sao chép một
ô hoặc khối vào khối khác thì trước khi
chọn lệnh Paste ta phải chọn khối đích
Hoạt động 2:(18’)Thực hành các thao tác gõ chữ Việt kết hợp với sao chép nội dung
* Hoạt động toàn lớp:
- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ:
+ GV: Chiếu nội dung câu c lên màn hình
c)Thực hành gõ chữ Việt kết hợp với sao chép nội dung
Trang 10? Nêu yêu cầu chính của câu c?
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:
+ HS: Cá nhân HS dựa vào thông tin sgk
lần lượt trả lời các câu hỏi
+ GV: Hướng dẫn và gọi HS tìm hiểu kỷ
yêu cầu của câu c
- Bước 3: Báo cáo kết quả thực hiện
nhiệm vụ:
+ HS: Đại diện các nhóm (máy) lần lượt
trả lời và nhận xét kết quả, các HS khác
nhận xét bổ sung
+ GV: Nhận xét đánh giá kết quả của HS
và bổ sung
* Hoạt động nhóm/máy:
- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ:
+ GV: Yêu cầu các nhóm vừa thực hành
theo nhóm hoàn thành nội dung câu c
đúng theo yêu cầu
- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:
HS: Các nhóm thực hành, nhóm trưởng
quan sát hướng dẫn thêm cho các thành
viên nhóm mình
GV: Quan sát hướng dẫn thêm cho các
nhóm thực hành chưa tốt
- Bước 3: Báo cáo kết quả thực hiện
nhiệm vụ:
GV: Yêu cầu 1 vài nhóm lên trình bày kết
quả của nhóm mình
HS: Đại diện nhóm lên trình bày
GV: Đánh giá cho điểm những nhóm
Trăng ơi
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ cánh rừng xa Trăng hồng như quả chín Lửng lơ lên trước nhà
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay biển xanh diệu kỳ Trăng tròn như mắt cá Chẳng bao giờ chớp mi
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ một sân chơi Trăng bay như quả bóng Bạn nào đá lên trời
(Theo Trần Đăng Khoa)