1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số phương pháp dạy học tích cực nâng cao chất lượng giảng dạy phần ca dao – dân ca ở bậc trung học cơ sở

30 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số phương pháp dạy học tích cực nâng cao chất lượng giảng dạy phần ca dao – dân ca ở bậc trung học cơ sở
Trường học Trường Trung học cơ sở Buôn Hồ
Chuyên ngành Giáo dục và Đào tạo
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Buôn Hồ
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 850,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ BÀI I PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lí do chon đề tài Hoài Thanh đã từng viết “Từ bao đời đến bây giờ, từ Homerơ đến Kinh Thi, đến ca dao Việt Nam, thơ ca có một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại, nó ra đời[.]

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chon đề tài.

Hoài Thanh đã từng viết:

“Từ bao đời đến bây giờ, từ Homerơ đến Kinh Thi, đến ca dao Việt Nam, thơ

ca có một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại, nó ra đời từ những vui buồn của đời người và sẽ làm bạn với con người cho đến ngày tận thế”.

Kể từ khi con người vươn mình khỏi bóng tối nguyên thủy, mở rộng tâm hồn để đón nhận những vang vọng của đất trời, để trái tim mình cất lên những xúc cảm buồn vui, yêu ghét thì ca dao - dân ca, những câu thơ, khúc nhạc đầu tiên của nhân loại, đã nảy sinh bầu bạn với con người như tri âm, tri kỷ Ca dao - dân ca đã chiếm một phần quan trọng không thể thay thế trong đời sống sinh hoạt, cũng như đời sống tinh thần của người Việt, trở thành một mảnh ghép của hồn Việt, một mảnh ghép cổ xưa, chân thành, mộc mạc mà sâu sắc, dạt dào.

Chính vì tầm quan trọng của ca dao - dân ca (một thể loại của văn học dân gian) đối với cội nguồn văn hóa dân tộc nói chung và văn học Việt Nam nói riêng, mà việc đưa nó vào chương trình giảng dạy bậc Trung học cơ sở là một điều rất hợp lý Môn Văn trong trường bậc Trung học cơ sở chia làm 3 phần môn:

cả người dạy và người học chưa đi đến “cái đích cuối cùng”, chưa khơi được “tầng ngầm” giá trị ẩn chứa bên trong ca dao - dân ca Nguyên nhân chính là người dạy và cả người học chưa nắm kỹ đặc trưng thể loại “chính danh” của ca dao - dân ca Thể loại văn học dân gian này có đặc điểm thi pháp riêng Từ đó chưa đưa ra những phương pháp tích cực trong quá trình giảng dạy và học tập.

Trang 2

Bản thân tôi là một giáo viên còn rất trẻ, kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy và trao đổi ý kiến với nhiều đồng nghiệp khác Tôi nhận thấy rằng: Khi dạy phần ca dao - dân ca ở bậc Trung học cơ sở, cần tìm hiểu

kỹ về đặc trưng, thi pháp của nó, từ đó đưa ra những phương pháp dạy học tích cực, nhằm cá thể hóa học viên, đưa học sinh trở thành nhân tố cá nhân tích cực, chủ động tự giác tham gia vào việc tìm hiểu những văn bản ca dao - dân ca, khám phá chân lý và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

Nhận thức tầm quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học đối với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo lớp công dân Việt Nam trong xã hội hiện đại Thực hiện chủ trương đổi mới phương pháp dạy trong toàn quốc nói chung và phòng Giáo dục đào tạo Thị xã Buôn Hồ nói riêng, cộng với thực tế kinh nghiệm tám năm làm công tác giảng dạy, tôi mạnh dạn đưa ra đề tài: “Một số phương pháp dạy học tích cực nâng cao chất lượng giảng dạy phần ca dao – dân ca ở bậc Trung học cơ sở”.

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:

* Mục tiêu:

Khi đặt ra vấn đề: Làm thế nào nâng cao chất lượng giảng dạy phần ca dao dân ca ở bậc Trung học cơ sở? Tôi muốn các đồng nghiệp cùng chia sẻ với tôi những kinh nghiệm giảng dạy, trao đổi bàn luận để tìm ra những phương pháp dạy học tích cực, khả thi nhất cho phần ca dao - dân ca Để cho các em học sinh càng thêm yêu mến, hiểu sâu sắc tâm tình, ý nghĩa mà ông cha ta đã gửi gắm qua mỗi ca từ Đồng thời, với hành động nhỏ này như một sự tri ân lớp người đi trước, giáo dục thế hệ nối tiếp, bảo tồn văn hóa, văn học dân gian tốt đẹp từ ngàn đời của dân tộc, đặc biệt là ca dao - dân ca… Mục đích cuối cùng của tôi trong sáng kiến kinh nghiệm này là muốn góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp chung của giáo dục nhằm đào tạo cho đất nước những thế hệ học sinh, không chỉ thuần thục về kỹ năng mà còn giàu có về cảm xúc, có tâm hồn trong sáng, nhân ái, biết vươn tới Chân - Thiện – Mĩ.

-* Nhiệm vụ:

- Phân tích, đánh giá thực trạng dạy và học phần ca dao - dân ca ở bậc Trung học cơ cở

mà cụ thể ở chương trình Ngữ văn lớp 7.

- Đề xuất một số phương pháp dạy học tích cực, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

phần ca dao - dân ca ở bậc Trung học cơ sở.

Trang 3

3 Đối tượng nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng

cao chất lượng dạy và học phần ca dao - dân ca ở bậc Trung học cơ sở - Trường THCS Nguyễn Trường Tộ - Thị xã Buôn Hồ - Tỉnh Đăk Lăk.

4 Giới hạn của đề tài:

Phân phối chương trình Trung học cơ sở ban hành năm 2002, phần nội dung quy định phần văn bản ca dao - dân ca chỉ học 4 tiết ở lớp 7, còn một số câu ca dao - dân ca chỉ tích hợp ở các nhà thơ, nhà văn vận dụng trong tác phẩm văn học và phân phối rải rác ở các khối 6, 7, 8, 9 Do điều kiện và thời gian nên trong đề tài này, tôi chỉ

đề cập đến nội dung phần ca dao - dân ca trong sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập 1.

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để tiến hành nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng một số phương pháp sau:

- Kinh nghiệm thực tế của bản thân trong quá trình giảng dạy.

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu bổ trợ.

- Phương pháp quan sát, so sánh đối chiếu.

- Phương pháp tọa đàm, thao giảng, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy.

- Phương pháp tổng hợp những kinh nghiệm, phương pháp mới trên lớp học.

- Phương pháp đánh giá kết quả bước đầu và điều chỉnh bổ sung.

- Phương pháp kiểm tra, đánh giá.

- Phương pháp thống kê tài liệu, kết quả…

Trang 4

II PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận.

Có thể nói vấn đề dạy học tác phẩm văn học theo thể đặc trưng thể loại cho đến nay vẫn chưa hề cũ vì dạy tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại là một trong những yêu cầu cần thiết và quan trọng Nó khẳng định được cách đi đúng hướng trong việc cải tiến, đổi mới phương pháp nội dung dạy – học Ngữ Văn ở Trung học cơ sở theo chương trình sách giáo khoa hiện nay.

Như chúng ta đã biết sách giáo khoa Ngữ Văn hiện nay được biên soạn theo chương trình tích hợp, lấy các kiểu văn bản làm nơi gắn bó ba phân môn (Văn – Tiếng Việt – Tập Làm Văn), vì thế các văn bản được lựa chọn phải vừa tiêu biểu cho các thể loại ở các thời kỳ lịch sử văn học, vừa phải đáp ứng tốt cho việc dạy các kiểu văn bản trong Tiếng Việt và Tập Làm Văn Vì vậy sách giáo khoa Ngữ Văn 7 hiện nay có cấu trúc theo kiểu văn bản, lấy các kiểu văn bản làm trục đồng quy Ở chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở các em được học 6 kiểu văn bản: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết minh và điều hành Sáu kiểu văn bản trên được phân học thành hai vòng (Vòng 1: lớp 6-7; vòng 2: lớp 8-9) theo nguyên tắc đồng tâm có nâng cao Ở lớp 7 các

em học ba kiểu văn bản: Biểu cảm, lập luận và điều hành Trong đó học kỳ I chỉ tập trung một kiểu văn bản là biểu cảm Chính vì vậy mà SGK Ngữ Văn 7 đã đưa những tác phẩm trữ tình dân gian (Cụ thể là ca dao – dân ca) nhằm minh họa cụ thể, sinh động cho kiểu văn bản biểu cảm giúp các em dễ dàng tiếp nhận (đọc, hiểu, cảm thụ, bình giá về ca dao – dân ca một thể loại trữ tình dân gian).

Theo xu hướng tích cực hóa hoạt động dạy học của học sinh cấp Trung học sơ

sở thì mục tiêu của môn Ngữ văn là góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị nền tảng cho học sinh được tiếp tục lên bậc cao hơn, giúp người học có ý thức tu dưỡng, biết yêu thương, tôn trọng, quan tâm bạn bè,

có lòng yêu nước, yêu quê hương, luôn hướng tới tình cảm cao đẹp, lòng nhân ái, trân trọng cái đẹp và lẽ phải Đối với học sinh lớp 7, phần Ca dao – dân ca có phần quen thuộc với các em Bởi ca dao – dân ca đã thấm vào máu thịt con người Việt như mạch suối nguồn không bao giờ cạn Từ ngày ấu thơ, các em đã được tiếp xúc với nó trong lời ru của mẹ, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày Tuy nhiên để tìm hiểu nó một cách bài bản theo đặc trưng thể loại, thi pháp đặc thù thì là một vấn đề khá mới mẻ với các em

Trang 5

Một số học sinh khác vì lười học, chán học nên không chuẩn bị tốt tâm thế cho giờ học văn Văn là phải cảm thụ mới thấy được cái hay của văn chương nghệ thuật Thế nhưng nhiều em ngồi học mà tâm hồn cứ “treo ngược cành cây” Nhiều em đối với giờ văn tỏ ra chán nản, không muốn học, thậm chí buồn ngủ và…nằm ngủ trên bàn! Trong khi đó, văn học là một bộ môn nghệ thuật sáng tạo ngôn ngữ đầy giá trị.

Có thể coi một câu ca dao hay một bài dân ca là một viên ngọc mà ông cha đã để lại cho con cháu đời sau Nó bay bổng, tạo nên những khúc nhạc làm cho cuộc sống đời thường thêm chất thơ Vậy làm thế nào để cho học sinh mình cảm nhận được chất thơ của cuộc sống đời thường, tâm tình của ông cha thủa trước gửi gắm trong ca dao- dân ca? Tôi nghĩ đó là một việc làm mà mọi thầy cô giáo đang tìm cách đi nhẹ nhàng nhất

và có hiệu quả nhất cho riêng mình.

Nhìn nhận vấn đề một cách cụ thể hơn chúng ta thấy rằng, đối với học sinh lớp

7, tuy duy ở lứa tuổi của các em còn hạn chế, cảm nhận của các em còn đơn giản, vốn sống, vốn từ còn ít ỏi Mà ca dao – dân ca lại là tiếng nói vừa nhuần nhị vừa sâu sắc của nhân dân ta.

Từ những cơ sở trên, tôi thiết nghĩ: đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học phần ca dao – dân ca ở bậc Trung học cơ sở là một việc làm thiết thực Đồng thời cho ta thấy được vai trò, sự cần thiết của giáo viên trong việc định hướng, rèn luyện kĩ năng cảm thụ tác phẩm văn học cho học sinh.

2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu.

Về phía học sinh: Ca dao - dân ca là tiếng nói tâm tình của người dân lao động.

Nó sản sinh từ chính nhân dân cho nên khá gần gũi với mọi người Các em không chỉ được tiếp cận, tìm hiểu trong chương trình học mà còn thông qua gia đình (bố mẹ, ông

bà), thông qua cuộc sống giao tiếp, lời ăn tiếng nói hằng ngày Tuy nhiên qua giảng

dạy phần ca dao - dân ca ở chương trình văn bản lớp 7 nhiều năm, tôi nhận thấy kỹ năng cảm thụ, phân tích ca dao (một loại thơ dân gian với những đặc trưng riêng về thi pháp) còn hạn chế, hời hợt.

Mặt khác, các em còn chưa thực sự yêu thích, say mê ca dao - dân ca Bởi sự phát triển của xã hội, nhiều loại hình nghệ thuật mới ra đời lôi cuốn, hấp dẫn thị hiếu các em Hơn nữa vì chưa hiểu sâu sắc cái đẹp của ca dao - dân ca khiến các em có phần chưa quan tâm đúng mức.

Trang 6

Một số bộ phận học sinh còn lười học hay số khác lại có gia đình hoàn cảnh còn khó khăn Hầu hết thời gian ở nhà phải giúp bố mẹ lên nương rẫy nên không có thời gian tìm hiểu sâu sắc Đặc biệt khâu soạn bài trước ở nhà còn chưa chu đáo Nhiều học sinh còn nhầm lẫn chưa phân biệt được ca dao - dân ca Đặc biệt cứ thấy thể thơ lục bát là xếp vào ca dao.

Về phía thầy cô: Một số giáo viên chưa nghiên cứu kỹ đặc trưng thể loại của ca dao - dân ca Phương pháp dạy ca dao - dân ca còn chung chung, cũng giống như phương pháp giảng dạy thơ trữ tình.

Một mặt khác là có thể phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một

số bộ phận không nhỏ học sinh yếu kém dẫn đến chất lương chưa cao Bởi không phải học sinh nào cũng có trình độ nhận thức như nhau Nhiều em có năng lực cảm thụ tốt, nhưng có một số đối tượng không thể theo kịp nội dung bài học Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phân hóa đối tượng học sinh Tuy nhiên điều này cũng khó có thể làm được, do sĩ số lớp khá đông nên khó cho giáo viên có thể theo sát, kèm cặp từng học sinh một mà chỉ có thể san đều đối tượng, tạo mặt bằng chung để các em nắm được bài mà thôi.

Hiện nay, nhiều giáo viên (đặc biệt là những giáo viên vùng sâu, vùng xa) chưa hiểu hết ý nghĩa, hiệu quả thực tiễn của việc nâng cao chất lượng dạy và học phần ca dao – dân ca Học ca dao – dân ca không chỉ cung cấp kiến thức cơ sở mà còn trang bị cho các học sinh kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp hằng ngày Cho nên một số giáo viên còn chưa quan tâm đúng mức đến phương pháp dạy học phần ca dao – dân ca

Từ những yếu tố trên dẫn đến thực trạng chất lượng dạy và học phần ca dao – dân ca chưa cao, đặc biệt khả năng ứng dụng kiến thức ca dao – dân ca vào thực tiễn chưa được sâu rộng Mặc dù là một giáo viên trẻ, tuy nhiên nhiều năm được phân công giảng dạy môn Ngữ văn lớp 7 tôi rất trăn trở trước thực trạng trên Kết quả thống kê từ điểm kiểm tra miệng và điểm kiểm tra một tiết trong hai năm học 2014 – 2015, 2015 –

2016 về phần ca dao – dân ca chưa cao Cụ thể như sau:

Năm học 2014-2015

Lớp Sĩ số Điểm dưới TB Điểm TB Điểm khá Điểm giỏi

Trang 7

ca Góp phần thúc đẩy chất lượng chung của nền giáo dục nước nhà đi lên Đáp ứng nhu cầu bức thiết của toàn nghành Giáo dục là xây dựng nguồn tài nguyên giáo dục

mở

3 Nội dung và hình thức của giải pháp.

a Mục tiêu của giải pháp.

Hướng dẫn đầy đủ, chi tiết, rõ ràng, cụ thể theo trình tự, dễ hiểu theo nội dung thực hiện các giải pháp, biện pháp.

Các bước thực hiện giải pháp, biện pháp được minh họa cụ thể theo từng nội dung sát thực với đặc thù bộ môn Ngữ văn mà cụ thể là phần ca dao – dân ca ở bậc THCS.

Từ đó giáo viên bộ môn Ngữ văn THCS dễ dàng vận dụng, áp dụng thực hiện

có hiệu quả ở phần dạy và học phần ca dao – dân ca.

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp.

 Nội dung các giải pháp, biện pháp.

♦ Đối với giáo viên.

♦ Đối với học sinh.

Trong đề tài này, tôi lồng ghép, trình bày một cách cụ thể nội dung các giải pháp, biện pháp nhằm diễn giải đầy đủ các nội dung thông qua cách thức thực hiện

 Cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.

Từ những trạng của vấn đề trên cũng như những cơ sở lý luận và thực tiễn của

đề tài tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp thực hiện cho đề tài nghiên cứu Cố thủ Tướng Phạm Văn Đồng từng đánh giá rất cao lứa tuổi học sinh trong nhà trường như sau “Lứa tuổi 7 đến 17 là rất nhạy cảm, thông minh lạ lùng lắm” Từ thực tế giảng dạy, tôi mạnh dạn đưa ra một số phương pháp dạy học tích cực nâng cao chất lượng giảng

Trang 8

dạy phần ca dao – dân ca ở bậc Trung học cơ sở Để giải quyết vấn đề đã được đặt ra trên đây, tôi đã thực hiện bằng cách áp dụng các phương pháp tích cực trên không chỉ trong mỗi giờ lên lớp mà còn hướng dẫn các em nắm vững kiến thức ở những giờ hoạt động ngoại khóa hoặc thời gian các em học bài ở nhà Như đã nói ở trên để đạt được tính hiệu quả cao nhất thì phải có sự hợp tác từ hai phía: cả người dạy và người học Cho nên trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi chia ra làm hai phần: Đối với giáo viên và đối với học sinh.

1 Đối với giáo viên:

1.1: Để dạy tốt một bài dạy đối với mỗi thầy cô đứng lớp trước tiên phải trau

dồi kiến thức và kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ Ở phần ca dao – dân ca cũng không là ngoại lệ Điều đầu tiên giáo viên cần nắm vững khái niệm, đặc trưng thi pháp của ca dao – dân ca.

* Khái niệm ca dao – dân ca:

Theo SGK Ngữ Văn 7 tập 1 trang 35 đã nêu khái niệm về Ca dao – dân ca như sau: Ca dao – dân ca là tên gọi chung của các thể loại trữ tình dân gian kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người.

SGK cũng phân biệt hai khái niệm ca dao và dân ca

+ Dân ca là những sáng tác dân gian kết hợp lời và nhạc

+ Ca dao là lời thơ của dân ca Ca dao còn bao gồm cả những bài thơ dân gian mang phong cách nghệ thuật chung với lời thơ dân ca.

* Tổng quan về ca dao – dân ca:

Lịch sử hình thành, phát triển của ca dao – dân ca rất lâu dài, phong phú, phạm

vi các hiện tượng ca dao - dân ca của cộng đồng người Việt nói riêng, cũng như các dân tộc nói chung rất rộng lớn, đa dạng Việc phân loại, phân kỳ và vùng ca dao – dân

ca là biện pháp cần thiết không thể thiếu khi tìm hiểu về ca dao – dân ca.

Các thể loại văn học dân gian nói chung, cũng như các thể loại ca dao – dân ca nói riêng đều là sản phẩm của lịch sử, gắn bó với đời sống của con người trong những thời gian và không gian nhất định Do ca dao – dân ca có những đặc điểm tương đồng

và khác biệt với nhau, nên việc phân loại ca dao – dân ca cũng có những điểm chung, riêng tương ứng.

* Các loại ca dao – dân ca chủ yếu:

- Dân ca

Trang 9

Trong nhà trường THCS – THPT chủ yếu học sinh được học phần lời ca (tức là

ca dao) nên đề tài này tôi chủ yếu đề cập đến ca dao.

* Đặc trưng của ca dao – dân ca:

- Hệ đề tài

Vì là phần lời của những câu hát dân gian nên ca dao thiên về tình cảm và biểu hiện lòng người, phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của con người Thực tại khách quan được phản ánh thông qua tâm trạng con người, nó thể hiện vẻ đẹp trang trọng ngay trong đời sống đời thường con người.

- Chức năng

Ca dao – dân ca là “tấm gương của tâm hồn dân tộc” là “một trong những dòng chính của thơ ca trữ tình” (F Hê ghen).

- Đặc điểm thi pháp

Ngôn ngữ trong ca dao

Nói đến thi pháp ca dao, trước hết phải nói đến phương tiện chủ yếu của ca dao, tức là ngôn ngữ Bởi vì ca dao là phần lời của dân ca, cái yếu tố nhạc điệu, động tác,

có vai trò rất quan trọng trong dân ca, còn ở phần lời thơ thì vai trò chủ yếu thuộc về ngôn ngữ, các yếu tố khác đều trở thành thứ yếu Chính vì vậy mà ca dao có khả năng

Trang 10

sống độc lập ngoài ca hát (tức là ngoài sự diễn xướng tổng hợp của dân ca) và trở thành nguồn thơ trữ tình dân gian truyền thống lâu đời và phong phú nhất của dân tộc.

Ngôn ngữ trong ca dao đậm đà màu sắc địa phương, giản dị, chân thực, hồn nhiên, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân Ví dụ như bài ca dao:

Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông”.

Thân em như chẽn lúa đòng đòng Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai

Có nhiều bài ca dao được lan truyền nhanh chóng trở thành tiếng nói riêng của nhân dân nhiều địa phương khác nhau nhờ sự thay đổi địa danh là chủ yếu Ví dụ:

Đường vô xứ Huế quanh quang Non xanh nước biệc như tranh họa đồ

Ai vô xứ Huế thì vô

Thể thơ trong ca dao: Ca dao là phần lời của dân ca, dó đó các thể thơ trong ca dao cũng sinh ra từ dân ca Các thể thơ trong ca dao cũng được dùng trong các loại văn vần dân gian khác (như tục ngữ, câu đố, vè) Có thể chia các thể loại ca dao thành 4 loại chính là:

nên được gọi là “thượng lục hạ bát” ) Đây cũng là thể thơ sở trường nhất của ca dao.

Thể thơ này được phân thành hai loại là lục bát chính thể (hay chính thức) và lục bát biến thể (hay biến thức), ở lục bát chính thể, số âm tiết không thay đổi (6+8), vần gieo

ở tiếng thứ 6 (thanh bằng), nhịp thơ phổ biến là nhịp chẵn (2/2/2), cũng có thể nhịp thay đổi (3/3 và 4/4), ở lục bát biến thể, số tiếng (âm tiết) trong mỗi vế có thể tăng, giảm (thường dài hơn bình thường).

Ví dụ: Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát

Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông (12 âm tiết)

Trang 11

- Thể cách của ca dao

“Phú”, “tỉ” , “hứng” là ba thể cách của ca dao (cách phô diễn ý tình).

+ “Phú” ở đây có nghĩa là phô bày, diễn tả một cách trực tiếp, không qua sự so sánh.

Ví dụ:

Cậu cai nón dấu lông gà, Ngon tay đeo nhẫn gọi là cậu cai

Ba năm được một chuyến sai,

Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê.

+ “Tỉ” nghĩa là so sánh (bao gồm cả so sánh trực tiếp – tỉ dụ và so sánh gián

tiếp - ẩn dụ)

Ví dụ:

Thân em như trái bần trôi, Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?

+ “Hứng” là cảm hứng Người xưa có câu “Đối cảnh sinh tình” Những bài ca

dao trước nói đến “cảnh’ (bao gồm cả cảnh vật, sự việc) sau mới bộc lộ “tình” (tình cảm, ý nghĩa, tâm sự) đều được coi là làm theo thể “hứng”

Ví dụ:

Ngó lên nuộc lạt mái nhà,

* Thời gian và không gian trong ca dao

“Chiều chiều” có nghĩa là chiều nào cũng vậy, sự việc diễn ra lặp đi lặp lại.

Ngoài ra thời gian trong ca dao còn sử dụng hàng loạt những trạng ngữ (hay cụm từ) chỉ thời gian như: “bây giờ”, “tối qua’, “đêm đêm”, thì ai cũng hiểu là người nói đang

ở thời điểm hiện tại để nhớ lại và nhắc lại chuyện vừa xảy ra chưa lâu Nhìn chung thời gian trong ca dao trữ tình là thời gian nghệ thuật mang tính tượng trưng, phiếm

Trang 12

chỉ (hay phiếm định) Vì thế nó phù hợp với nhiều người, ở nhiều địa điểm và thời điểm khác nhau.

- Thủ pháp nghệ thuật chủ yếu

Những bài ca dao được đưa vào SGK Ngữ Văn 7 có nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau (mang nét đặc trưng của ca dao truyền thống) Ở đây tôi chỉ đề cập đến những thủ pháp chủ yếu.

- So sánh là thủ pháp nghệ thuật được dùng thường xuyên, phổ biến nhất, bao gồm so sánh trực tiếp (tỉ dụ), so sánh gián tiếp (ẩn dụ) Tỉ dụ là so sánh trực tiếp, thường có những từ chỉ quan hệ so sánh: như, như là, như thể… đặt giữa hai vế (đối tượng và phương tiện so sánh).

Trang 13

- Yêu nhau như thể chân tay Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy.

- Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông.

- Còn ẩn dụ (so sánh ngầm) thì không những không có quan hệ từ so sánh mà đối tượng so sánh cũng được ẩn đi, chỉ còn vế là phương tiện so sánh (ở đây đối tượng

và phương tiện so sánh hòa nhập làm một) Do vậy mà hình thức ẩn dụ hàm súc hơn.

Ví dụ bài ca dao sau là tập hợp bốn hình ảnh ẩn dụ, mỗi hình ảnh ám chỉ một cảnh ngộ đáng thương của người lao động:

Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ Thương thay lũ kiến tí ti Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi Thương thay hạc lánh đường mây Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi.

Thương thay con cuốc giữa trời, Dầu kêu ra máu có người nào nghe.

Đặc biệt ẩn dụ gắn rất chặt với nghệ thuật nhân hóa, dùng thế giới loài vật để nói thế giới loài người.

Ví dụ bài ca dao dưới đây mỗi con vật tượng trung cho một loại người, hạng người trong xã hội xưa:

Con cò chết rũ trên cây

Cò con mở lịch xem ngày làm ma,

Cà cuống uống rượu là đà, Chim ri ríu rít bò ra lấy phần.

Chào mào thì đánh trống quân, Chim chích cởi trần vác mỏ đi giao.

- Biện pháp nghệ thuật đối xứng (đối ý, đối từ):

Ví dụ:

Số cô chẳng giàu thì nghèo

Trang 14

Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà.

Số cô có mẹ có cha

Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông.

Số cô có vợ có chồng Sinh con đầu lòng, chẳng gái thì trai.

- Nghệ thuật trùng điệp (bao gồm cả điệp ý, điệp từ)

Ví dụ:

Cái cò lặn lội bờ ao Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng Chú tôi hay tửu hay tăm Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa.

Ngày thì ước những ngày mưa Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.

- Nghệ thuật phóng đại được sử dụng hầu hết ở những bài ca dao dùng để châm biếm:

Ví dụ:

Cậu cai nón dấu lông gà, Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.

Ba năm được một chuyến sai

Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê.

Ngoài ra còn có một số biện pháp khác nữa.

- Phương thức diễn xướng: Phương thức diễn xướng gắn liền với các hình thức

nghệ thuật của dân ca (hát ru, hát hò, đối đáp).

1.1.2: Sau khi nắm đặc trưng thể loại của Ca dao – dân ca, giáo viên cần nắm

bắt đối tượng học sinh, xem trình độ nhận thức, khả năng cảm thụ văn học của các em đến đâu để đưa ra phương pháp dạy học phù hợp.

1.1.3 Ca dao - dân ca cũng là một phương thức của văn bản trữ tình cho nên

khi dạy giáo viên cần định hướng các em nắm vững quy trình khi “chiếm lĩnh” trọn vẹn một văn bản văn học Quy trình đó bao gồm:

1.1.3.1 Giới thiệu bài mới:

Trang 15

Mặc dù chỉ chiếm vài ba phút nhưng đây là khâu quan trọng giáo viên không nên bỏ qua Trong giáo án giáo viên nên thể hiện cả dự kiến vào bài, khởi động tạo tình huống gây hứng thú học tập cho học sinh ngay từ phút đầu, có thể bằng câu hỏi tích hợp dọc

Ví dụ khi dạy văn bản: Những câu hát về tình cảm gia đình.

Là tiết đầu tiên học sinh tìm hiểu khái niệm ca dao – dân ca, nhưng những câu, những bài ca dao các em đã được làm quen, được nghe từ nhỏ, rồi những năm tiểu học

vì vậy tôi có thể vào bài như sau:

Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, được nằm trên chiếc nôi tre chúng ta đã được nghe tiếng ru ầu ơ của bà, của mẹ bằng những câu ca dao – dân ca, nó như dòng suối ngọt ngào, vỗ về, an ủi tâm hồn mỗi người, khúc hát tâm tình của quê hương đã thấm sâu vào trái tim mỗi người dân Việt Nam mà năm tháng có đi qua không thể phai mờ.

Hỏi: Vậy bây giờ em nào có thể đọc cho cả lớp nghe một vài câu ca dao mà em

thuộc hoặc đã được học ở tiểu học.

- Sau đó giáo viên có thể tiến hành hoạt động liên môn khi sử dụng các làn điệu dân ca để gây tình huống.

Hỏi: Trong môn Âm nhạc lớp 6 và lớp 7 các êm đã được học một số làn điệu

dân ca Vậy một em hãy nêu rõ tên làn điệu dân ca đó Nếu có thể em hát một vài câu cho các bạn nghe (Đó là bài “Đi cấy” dân ca Thanh Hóa – lớp 6 và bài “Lý cây đa” dân ca quan họ Bắc Ninh – lớp 7)

Chú ý: Hoạt động liên môn phải hết sức thận trọng, đúng thời điểm với một

liều lượng cho phép.

1.1.3.2 Phần dạy bài mới:

Đọc – chú thích:

* Đọc

Về phương pháp tác phẩm trữ tình nói chung và ca dao nói riêng việc đọc là khâu khá quan trọng Phải đọc cho “vang nhạc sáng hình” Tác phẩm “chỉ được bắt đầu mở ra cho bạn đọc khi nó vang lên trong tâm hồn như một sự độc thoại bên trong”

(Marantxman) Vì vậy ở thể loại trữ tình dân gian là ca dao phương pháp “đọc sáng tạo”, Đối với ca dao giáo viên nên cho học sinh đọc được từ mức thấp nhất cho đến

mức cao.

Ngày đăng: 11/05/2023, 16:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w