một số lý luận về môi trường kinh doanh tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả c...
Trang 1CHƯƠNG I MÉT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
QUỐC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP
I XUẤT KHẨU _ LOẠI HÌNH KINH DOANH CHỦ YẾU TRONG KINHDOANH QUỐC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP
1.KHÁI NIỆM VÀ CÁC HÌNH THỨC KINH DOANH QUỐC TẾ.
1.1 Khái niệm kinh doanh quốc tế
K
inh doanh quốc tế đã xuất hiện rất sớm cùng với quá trình trao đổi, mua bánhàng hoá giữa hai hay nhiều quốc gia Cùng với sự ra đời và phát triển của chủnghĩa tư bản, kinh doanh quốc tế và các hình thức kinh doanh doanh quốc tế ngàycàng được mở rộng và phát triển Với những lợi thế của mình về vốn, công nghệ,trình độ quản lý Các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia trên thế giới đã vàđang nâng cao vị thế và tăng thị phần của mình trong khu vực và trên thế giới nóichung
Ngày nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của các xu hướng vận động của nềnkinh tế thế giới, đặc biệt là sự tác động ngày càng tăng của xu thế khu vực hoá vàtoàn cầu hoá đối với nền kinh tế từng quốc gia và thế giới, hoạt động kinh doanhquốc tế và các hình thức kinh doanh quốc tế ngày càng đa dạng, phong phú vàđang trở thành một trong những nội dung cực kỳ quan trọng trong quan hệ kinh tếquốc tế
Kinh doanh quốc tế là một hoạt động rất hấp đẫn Nó thể hiện sự kết hợpchặt chẽ và tối ưu các khoa học quản lý kinh tế với các hoạt động kinh doanh, giữanghệ thuật kinh doanh với các yếu tố khác của từng quốc gia, quốc tế như yếu tốluật pháp, kinh tế, văn hoá, chính trị Hơn nữa, hoạt động kinh doanh quốc tếnhằm từng bước khắc phục sự suy thoái nền kinh tế của mỗi quốc gia, khai thác lợithế so sánh của từng quốc gia về các nguồn lực cho sự phát triển, góp phần cải
Trang 2thiện đời sống nhân dân, gia tăng tiến bộ xã hội và góp phần thúc đẩy các quốc giatiến tới xã hội công bằng, văn minh.
Trong những điều kiện lịch sử mới, vấn đề mở cửa nền kinh tế đang trở nêncấp bách và đang tạo cho nhiều quốc gia những cơ hội thuận lợi trong quá trìnhđẩy mạnh sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Tuy nhiên, trong điều kiện này mỗiquốc gia đang phải đứng trước những thử thách mới như phải đương đầu với cuộccạnh tranh gay gắt, khốc liệt hơn diễn ra trên khu vực và toàn cầu, những rủi rotrong nền kinh tế đang là sức Ðp rất lớn đối với từng quốc gia và các doanh nghiệpsản xuất kinh doanh
Kinh doanh quốc tế là toàn bộ các giao dịch, kinh doanh được thực hiện giữacác quốc gia nhằm thoả mãn các mục tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổchức kinh tế xã hội Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa hai hay nhiều quốcgia và trong môi trường kinh doanh mới và xa lạ Vì vậy, các doanh nghiệp kinhdoanh không nên lấy kinh nghiệm kinh doanh nội địa để áp đặt hoàn toàn cho kinhdoanh với nước ngoài Muốn kinh doanh ở nước ngoài một cách hiệu quả, trướchết phải nghiên cứu môi trường kinh doanh nơi mà doanh nghiệp muốn thâm nhậphoạt động
Kinh doanh quốc tế được tiến hành bởi các nhà kinh doanh tư nhân và cácdoanh nghiệp Nhà nước nhằm đáp ứng các mục tiêu và mục đích của họ Mục đíchkinh doanh của tư nhân chủ yếu là nhằm tối đa hoá lợi nhuận hoặc ổn dịnh lợinhuận Vì vậy sự thành công hay thất bại của các nhà kinh doanh tư nhân tronghoạt động kinh doanh quốc tế phụ thuộc cơ bản vào nguồn lực ở nước ngoài, vàomức tiêu thụ hàng hoá, vào giá cả hàng hoá và khả năng cạnh tranh với các đối tácquốc tế Còn kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước, chính phủ có nhiều mụctiêu khác nhau như mục tiêu kinh tế, chính trị, văn hoá, ngoại giao Do đó, kinhdoanh của các doanh nghiệp Nhà nước, chính phủ có thể hoặc không hoàn toànhướng tới lợi nhuận Trên góc độ một doanh nghiệp (xí nghiệp, công ty , hãng ) mà
Trang 3xét, để đạt được bất kì mục đích nào của mình, doanh nghiệp cần phải cân nhắc,lùa chọn những hình thức kinh doanh quốc tế cho phù hợp Sự lùa chọn hình thứckinh doanh phù hợp phụ thuộc vào mục đích hoạt động của doanh nghiệp, vào môitrường và thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt động hoặc muốn thâm nhập Cácđiều kiện môi trường kinh doanh quốc tế không chỉ ảnh hưởng đến việc lùa chọncác hình thức kinh doanh, mà còn ảnh hưởng đến các chức năng hoạt động củadoanh nghiệp như chức năng sản xuất, marketing, tài chính, kế toán Ngược lại,
sự hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh quốc tế cũng có những tác động nhấtđịnh đối với môi trường nhằm hoà nhập với những thay đổi của môi trường
1.2 Các hình thức kinh doanh quốc tế
K
hi tiến hành kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp phải lùa chọn các hình thứckinh doanh phù hợp với môi trường và khả năng của mình, doanh nghiệp phải xemxét, cân nhắc tính đến các mục đích kinh doanh, các nguồn và khả năng của mình.Đồng thời, doanh nghiệp phải nghiên cứu đánh giá các nhân tố thuộc về môitrường kinh doanh (môi trường bên trong, môi trường bên ngoài)
Các hình thức kinh doanh quốc tế chủ yếu gồm :
1.2.1 Xuất nhập khẩu hàng hoá.
Đây là một trong những hình thức kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất, nóphản ánh quan hệ thương mại, buôn bán giữa các quốc gia trong phạm vi khu vực
và thế giới Hình thức kinh doanh xuất nhầp khẩu thường là hoạt động kinh doanhquốc tế cơ bản của một quốc gia, nó là chiếc chìa khoá mở ra những giao dịch kinh
tế quốc tế cho một quốc gia, tạo ra nguồn thu chi ngoại tệ chủ yếu của một nướckhi tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế
Trang 4 Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là một hoạt động kinh doanh quốc tếđầu tiên của một doanh nghiệp Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanhnghiệp đã đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của mình.
Kinh doanh xuất nhập khẩu thường diễn ra các hình thức sau : xuất nhậpkhẩu hàng hoá hữu hình, hàng hoá vô hình (dịch vô) ; xuất nhập khẩu trực tiếp dochính các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu đảm nhiệm ; xuấtnhập khẩu gián tiếp (hay uỷ thác) do các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tổchức kinh doanh trung gian đảm nhận Gắn liền với xuất nhập khẩu hàng hoá hữuhình ngày nay xuất nhập khẩu dịch vụ rất phát triển
1.2.2 Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Cấp giấy phép : là hợp đồng thông qua đó một công ty (người cấp giấyphép) trao quyền sử dụng những tài sản vô hình cho một công ty khác (người đượccấp giấy phép) trong một khoảng thời gian nhất định và người được cấp giấy phépthường phải trả tiền bản quyền cho người cấp giấy phép
Đại lý đặc quyền : là hình thức hoạt động kinh doanh mà qua đó một công
ty cho một đối tác độc lập quyền sử dụng nhãn hiệu mẫu mã và nó là một tài sảncần thiết cho việc kinh doanh của phía đối tác và công ty vẫn tiếp tục thực hiện sựgiúp đỡ hoạt động kinh doanh của các đối tác Êy và công ty cũng nhận được mộtkhoản tiền từ đối tác Êy
Hợp đồng quản lý : là những hợp đồng thông qua đó một công ty thực hiệnviệc giúp đỡ một công ty khác bằng việc cung cấp những nhân viên quản lý nhằm
hỗ trợ thực hiện những chức năng quản lý tổng quát hoặc chuyên môn sâu trongmột khoảng thời gian đặc biệt để thu được một khoản tiền thù lao nhất định từ sựgiúp đỡ đó
Trang 5 Hợp đồng theo đơn đặt hàng : Đây là hợp đồng thường diễn ra đối với các
dự án lớn và các sản phẩm gồm nhiều chi tiết, bộ phận phức tạp đến mức mà mộtcông ty (hay doanh nghiệp) duy nhất khó có thể thực hiện được
Hợp đồng xây dựng và chuyển giao : Hợp đồng này thường áp dụng đốivới các doanh nghiệp xây dựng Dự án xây dựng và chuyển giao liên quan với mộthợp đồng nhằm xây dựng những tiện nghi hoạt động, sau đó chuyển giao chongười chủ để thu được một khoản tiền thù lao khi những công trình này sẵn sàng đivào hoạt động Các doanh nghiệp thực hiện các hợp đồng xây dựng và chuyển giaothường là những nhà sản xuất các thiết bị công nghiệp và họ sẽ cung cấp một thiết
bị của mình cho dù án Những doanh nghiệp này chủ yếu là những doanh nghiệpxây dựng, ngoài ra cũng có thể là những doanh nghiệp tư vấn, nhà sản xuất Kháchhàng của những dự án xây dựng và chuyển giao này thường là một cơ quan Nhànước họ ra sắc lệnh buộc một sản phẩm nhất định nào đó phải được sản xuất ở địaphương và dưới sự bảo trợ của họ
Đầu tư nước ngoài :
Đầu tư nước ngoài là một quá trình trong đó hai hay nhiều bên có quốc tịchkhác nhau cùng nhau góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư nào đónhằm mang lại lợi Ých cho tất cả các bên Nói cách khác, đầu tư nước ngoài là quátrình di chuyển vốn giữa các quốc gia nhằm tìm kiếm lợi Ých thông qua các hoạtđộng sử dụng vốn ở nước ngoài
Đầu tư trực tiếp là một bộ phận của đầu tư nước ngoài, nó được thực hiệnkhi sự điều khiển, quản lý gắn liền với quá trình đầu tư, tức gắn quyền sở hữu vàquyền sử dụng vốn của người đầu tư với nhau
Đây là hình thức cao nhất của kinh doanh quốc tế Đầu tư trực tiếp có nhữngđặc điểm chủ yếu sau
Chủ đầu tư có quyền điều khiển, quản lý đối với tài sản đầu tư
Trang 6Là hình thức chuyển giao lớn về vốn, công nghệ, nhân lực và trình độ quản
lý, vì chủ yếu do các doanh nghiệp và cá nhân thực hiện
Đưa các doanh nghiệp vươn tới thị trường nước ngoài
Tiêu thụ sản phẩm trực tiếp ở nước ngoài lớn hơn xuất khẩu
Chủ đầu tư có thế sở hữu toàn bộ hay một bộ phận tài sản đầu tư
Hoạt động kinh doanh quốc tế thông qua đầu tư trực tiếp chính là việc thànhlập các công ty liên doanh (liên doanh công ty với công ty hoặc chính phủ với côngty) hoặc thành lập ra các chi nhánh sở hữu hoàn toàn theo luật đầu tư nước ngoàitại Việt Nam gọi là xí nghiệp 100% vốn nước ngoài
Cùng với đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp có vai trò cực kỳ quan trọng đốivới các quốc gia và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có yếu tố quốc tế Đầu
tư gián tiếp cũng là một loại hình đầu tư nước ngoài mà quyền sở hữu tách rờiquyền sử dụng vốn (hay tài sản) đầu tư Người có vốn không trực tiếp tham gia vàoviệc tổ chức, quản lý điều hành dự án đầu tư, họ thu lợi dưới hình thức lợi tức chovay hoặc lợi tức cổ phần
Các doanh nghiệp và tư nhân tiến hành đầu tư gián tiếp thông qua hình thứcmua cổ phiếu, trái phiếu ở thị trường chứng khoán Đầu tư gián tiếp đóng vai tròquan trọng và không thể thiếu được đối với các hoạt động của doanh nghiệp, nhằm
mở rộng và phát triển các hình thức và hoạt động kinh doanh quốc tế
Tuỳ thuộc vào môi trường kinh doanh cụ thể, căn cứ vào mục đích và khảnăng sẵn có của mình mà doanh nghiệp đưa ra các quyết định lùa chọn đúng đắncác hình thức kinh doanh và khẳng định hình thức kinh doanh nào là thích hợp và
là chủ yếu nhằm đạt được hiệu quả cao trong hoạt động của họ
2 XUẤT KHẨU - VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
2.1 Khái niệm về xuất khẩu
Trang 7uất khẩu là quá trình tổ chức đưa hàng hoá và dịch vụ ra nước ngoài Hoạt độngxuất khẩu là nguồn chính tăng thu ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩu và sản xuất kinhdoanh, ngoài ra còn phục vụ cho mục đích chi tiêu khác mang tính chất quốc tế
Hoạt động xuất khẩu là hoạt dộng giao dịch buôn bán giữa các bên có quốctịch khác nhau Thị trường của nó vô cùng lớn, phương thức thanh toán rất đadạng, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mà chủ yếu là ngoại tệ mạnh Mỗi quốc giakhác nhau lại có những tập quán buôn bán khác nhau và có luật xuất nhập khẩukhông giống nhau
Hoạt động xuất khẩu là hình thức quan trọng của kinh doanh quốc tế đã xuấthiện từ lâu và ngày càng phát triển Tuy hình thức cơ bản là trao đổi hàng hoá, dịch
vụ giữa các nước nhưng hiện nay nó đã biểu hiện dưới các hình thức khác nhau.Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi loại hình kinh tế và hàng hoáthì rất da dạng từ hàng hoá tiêu dùng đến những hàng hoá có kỹ thuật cao
2.2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu
L
à mét trong những nội dung cơ bản của hoạt động kinh doanh đối ngoại, xuấtkhẩu trở thành phương tiện thúc đẩy phát triển kinh tế Sự tăng trưởng kinh tế đòihỏi rất nhiều điều kiện, những điều kiện chủ yếu có thể là : nhân lực, tài nguyên,vốn, kỹ thuật Song hầu hết các nước đang phát triển đều thiếu vốn, kỹ thuật vàthừa lao động Những yếu tố cơ bản này chưa đáp ứng được thì buộc phải nhập từbên ngoài, nhưng điều quan trọng là phải có ngoại tệ
Trong điều kiện nền kinh tế nhỏ, công nghệ lạc hậu thì xuất khẩu chỉ trôngchờ vào những sản phẩm sẵn có trong nước, chủ yếu là những mặt hàng nông lâmhải sản, những mặt hàng thủ công mỹ nghệ, các đặc sản và các khoáng sản Vớiđiều kiện như vậy xuất khẩu những mặt hàng sẵn có trong nước là điều kiện cầnthiết để có thể thu ngoại tệ
Trang 8Thực tiễn đã cho thấy xuất khẩu là một trong những mòi nhọn có ý nghĩaquyết định tới quá trình phát triển kinh tế của một nước, điều đó được thể hiện;
Xuất khẩu tạo ra vốn chủ yếu cho nhập khẩu để phục vụ công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước Công nghiệp hoá với những bước đi phù hợp là con đườngtất yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn lạc hậu Tuy nhiên công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải có tiềm lực lớn, vốn lớn để nhập khẩu nhữngmáy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật tiên tiến
Nguồn vốn nhập khẩu có thể huy động từ các hình thức như :
Đầu tư nước ngoài
Vay nợ, viện trợ
Thu từ xuất khẩu
Các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ tuy quan trọng nhưngcũng phải trả dù bằng cách này hay cách khác Nguồn vốn quan trọng nhất và cơbản nhất chỉ có thể trông chờ vào xuất khẩu Ở các nước kém phát triển một trongnhững nguyên nhân chủ yếu là thiếu tiềm lực về vốn Trong khi đó nguồn vay nướcngoài thường không ổn định, chỉ tăng lên khi nước chủ nhà có những chính sách
ưu đãi khác hoặc có mối quan hệ chặt chẽ
Xuất khẩu đóng góp vào quá trình chuyển dịch kinh tế, thúc đẩy sản xuấtphát triển Cơ cấu kinh tế trên thế giới đã và đang có những thay đổi mạnh mẽ, đó
là thành quả của cuộc cách mạng khoa học hiện đại Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếtrong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá phù hợp với xu hướng phát triển củanền kinh tế thế giới là tất yếu của các quốc gia đang phát triển và kém phát triển
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyểndịch cơ cấu kinh tế :
Trang 9 Mét làMét Mét làlà : Xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ các sản phẩm thừa do sản xuất vượt
quá nhu cầu nội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển,sản xuất về cơ bản vẫn chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự thừa ra củasản xuất thì xuất khẩu chỉ ở quy mô nhỏ và tăng trưởng chậm
Mét là Hai Mét làlà : Coi thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất.
Quan điểm này tác động tích cực đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sảnxuất phát triển, nó được thể hiện ở :
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành cùng có cơ hội phát triển Chẳnghạn khi phát triển ngành dệt xuất khẩu thì các ngành như chế biến nguyên liệubông, ngành may mặc còng có cơ hội phát triển
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, góp phần ổnđịnh sản xuất
Xuất khẩu là phương tiện cơ bản để tạo vốn, thu hót kỹ thuật, công nghệmới từ nước phát triển nhằm hiện đại hoá nền kinh tế nội địa, tạo năng lực sản xuấtmới
Với đặc điểm của đồng tiền thanh toán là ngoại tệ với một hoặc cả hai bên,xuất khẩu làm tăng dự trữ ngoại tệ cho quốc gia Đặc biệt đối với nước nghèo đồngtiền có giá trị thấp thì đó là nhân tố có tác động rất tích cực tới cung cầu ngoại tệtạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển Đồng thời nó cũng là nhân tốquyết định tới sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Thực tế cho thấy nhữngnước phát triển là những nước có nền ngoại thương mạnh và năng động
Xuất khẩu tác động trực tiếp tới việc giải quyết công ăn việc làm và cảithiện đời sống nhân dân :
Tác động của xuất khẩu ảnh hưởng rất nhiều đến lĩnh vực của cuộc sống Sảnxuất hàng xuất khẩu sẽ thu hót được hàng triệu lao động, tạo ra thu nhập ổn định
Trang 10Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu đểphục vụ đời sống, đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú hơn trong tiêu dùng củanhân dân.
Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế của mỗiquốc gia Đồng thời nó cũng là yếu tố quan trọng thúc đẩy hội nhập vào nền kinh
tế khu vực và trên thế giới
II MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP VÀNHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦADOANH NGHIỆP
1 MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP.
ôi trường kinh doanh quốc tế là tổng thể các môi trường thành phần trong
và ngoài nước như môi trường kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá, địa
lý, lịch sử, cạnh tranh, tài chính chóng tác động và chi phối mạnh mẽ đến nhữnghoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải tự điều chỉnhcác mục đích, các hình thức hoạt động, các hoạt động chức năng của mình chothích ứng nhằm nắm bắt được cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong kinhdoanh
Trang 11ở đó doanh nghiệp đang hoạt động để tăng cơ hội, giảm thách thức, đạt hiệu quảcao trong kinh doanh Khi xem xét, phân tích môi trường kinh doanh các nhà kinhdoanh cần phải thống nhất một số quan điểm sau:
Thứ nhất, môi trường kinh doanh không phải là cố định mà luôn biến đổi.
Vì vậy, khi phân tích đáng giá môi trường kinh doanh đòi hỏi phải đứng trên quanđiểm động, phải tìm hiểu và nắm bắt những thông tin thường xuyên và kịp thời để
có những hoạt động thích ứng, phù hợp Một nhà kinh doanh cần phải dự đoánđược những sự thay đổi của môi trường kinh doanh trong tương lai
Thứ hai, môi trường kinh doanh là sự đan xen của các môi trường thành
phần, các môi trường thành phần có tác động ảnh hưởng lẫn nhau Phân tích đánhgiá môi trường phải xem xét đánh giá một cách tổng thể trong mối tương quan giữacác môi trường thành phần
Thứ ba, ngày nay các doanh nghiệp không chỉ kinh doanh trong nước hoặc
một số nước mà kinh doanh ở rất nhiều nước Và cùng với xu thế hội nhập hoá thìcác doanh nghiệp cần phải đánh giá phân tích môi trường kinh doanh cả môitrường trong nước và môi trường kinh doanh quốc tế nói chung Khác với hoạtđộng kinh doanh trong nước, hoạt động kinh doanh quốc tế buộc các nhà quản lý,các doanh nghiệp phải làm việc trong môi trường kinh doanh mới và phức tạp hơn
Sự khác nhau giữa các nước về địa lý, lịch sử, văn hoá, kinh tế, chính trị, luật pháp
là những nhân tố chủ yếu làm cho môi trường kinh doanh giữa các nước khácnhau
Quan hệ giữa mục đích kinh doanh, hình thức kinh doanh, hoạt động chứcnăng và các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp được thểhiện qua sơ đồ sau
Trang 12Sơ đồ 01:KDQT- Hoạt động và ảnh hưởng KDQT- Hoạt động và
- Đầu t gián tiếp
môi trờng cạnh tranh
- Tốc độ thay đổi sản phẩm
- Qui mô sản xuất tối u
- Số lợng ngời tiêu dùng
- Số lợng hàng hoá đợc mua bởi mỗi khách hàng
- Tính đồng nhất giữa các khách hàng
- Sự cạnh tranh giữa ngời trong nớc và ngời ngoài nớc
- Chi phí vận chuyển sản phẩm
- Những khả năng đơn nhất của ngời cạnh tranh
Trang 13chia môi trường kinh doanh quốc tế thành hai môi trường chủ yếu : Môi trường bênngoài va môi trường cạnh tranh.
a Mét làMôi Mét làtrường Mét làbên Mét làngoài Mét là: Mét là
M
ôi trường bên ngoài là tổng thể các điều kiện bên ngoài của doanh nghiệp mà nóảnh hưởng đến sự thành công trong doanh nghiệp của họ Vì lý do đó những hoạtđộng kinh doanh quốc tế diễn ra trong khung cảnh lớn của môi trường quốc tế,những nhà quản lý của họ phải có những kiến thức thực tế về những khoa học xãhội cơ bản bao gồm : Địa lý, lịch sử, chính trị, kinh tế, pháp lý, văn hoá
Kiến thức về địa lý là rất quan trọng vì nó giúp cho các nhà quản lý xácđịnh vị trí, số lượng, chất lượng nguồn tài nguyên của thế giới và khả năng khaithác của doanh nghiệp Do sự mất cân đối trong việc phân phối các nguồn tàinguyên nên việc sản xuất các sản phẩm và dịch vụ khác nhau phải được thực hiện
ở các nơi khác nhau trên thế giới
Hiểu biết tốt về kiến thức lịch sử cho phép các nhà quản lý có được nhữngghi phép hệ thống và các việc đánh giá các ý tưởng, các thể chế Xem lại quá khứcác nhà kinh doanh quốc tế sẽ hiểu rõ hơn các chức năng của hoạt động kinh doanh
ở nước ngoài trong hiện tại Như vậy lịch sử chính là sự tích luỹ những kinhnghiệm của con người, nó xác định cách sống hôm nay của chúng ta Quá trìnhphát triển của kỹ thuật và tục lệ đã mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh
Kiến thức chính trị đang và sẽ đóng một vai trò quan trọng đối với việcđịnh hướng kinh doanh toàn cầu Khoa học chính trị mô tả mối quan hệ giữa các tổchức kinh doanh và chính trị quốc gia Nó cũng giúp giải thích những mẫu hình vềcách cư xử của Chính phủ với các công ty kinh doanh trong những lĩnh vực mà lợiÝch có thể mâu thuẫn Sự lãnh đạo chính trị ở mọi quốc gia xem xét đến việc chophép các doanh nghiệp quốc tế hoạt động hay không ? và nếu có thì hoạt động thếnào ?
Trang 14 Luật pháp trong nước và quốc tế xác định cái mà nhà quản lý công ty đượchay không được làm :
Ảnh hưởng của các công ty quốc tế đối với nền kinh tế của nước mà công
ty hoạt động và nước mình
Hệ quả của chính sách kinh tế của một nước đối với công ty kinh doanhquốc tế Lý thuyết kinh tế cũng giải thích lý do một nước lại trao đổi sản phẩm vàdịch vụ đối với nước khác Lý do sự chuyển vốn và nhân lực từ nước này sangnước khác trong lúc hoạt động kinh doanh đang diễn ra Tại sao đồng tiền của mộtnước lại có mức giá nào đó so với đồng tiền của nước khác Kinh tế học cung cấpcho chóng ta một cái nền tảng để hiểu tại sao, ở đâu và khi nào một quốc gia có thểsản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ rẻ hơn một nước khác
Qua nghiên cứu về văn hoá, các nhà quản lý hiểu rõ hơn giá trị, thái độ vàniềm tin của con người liên hệ đến họ và mục tiêu của họ Như vậy sẽ cải thiệnđược khả năng của các nhà quản lý trong khi hoạt động ở các xã hội khác nhau, amhiểu về truyền thống văn hoá của các quốc gia khác nhau để có những chính sáchsản phẩm cho phù hợp
b Môi trường cạnh tranh
M
ỗi doanh nghiệp và mỗi ngành công nghiệp đều có môi trường cạnh tranh khácnhau, nó có thể biến động rất nhiều từ nước này sang nước khác Hệ qủa là một sốdoanh nghiệp có thể tận dụng những cơ hội ở nước ngoài tốt hơn những doanhnghiệp khác và một vài doanh nghiệp gặp phải vấn đề cạnh tranh quốc tế lớn hơnrất nhiều so với những doanh nghiệp chỉ hoạt động ở thị trường nội địa Nhữngdạng thích hợp nhất cho cơ hội kinh doanh quốc tế như hoạt động xuất khẩu nó cóthể rất khác nhau giữa các doanh nghiệp và sản phẩm, cũng như giữa các quốc giadiễn ra việc kinh doanh ở nước ngoài
Trang 152 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP.
2.1 Các nhân tố bên ngoài
2.1.1 Nhân tố luật pháp.
M
ét trong những bộ phận của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt độngkinh doanh quốc tế của doanh nghiệp đó là hệ thống luật pháp Vì vậy, hoạt độngkinh doanh quốc tế đòi hỏi nhà quản lý phải quan tâm và nắm vững luật pháp :Luật quốc tế và luật của từng quốc gia mà doanh nghiệp đang và sẽ hoạt động,cũng như mối quan hệ luật pháp tồn tại giữa các nước này cũng như giữa các nướctrong khu vực khác nhau Luật quốc tế và luật của từng quốc gia cũng ảnh hưởngtrực tiếp đến tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Nói cách khác, luậtpháp qui định và cho phép các lĩnh vực, những hoạt động và những hình thức kinhdoanh nào mà doanh nghiệp có thể thực hiện kinh doanh và những lĩnh vực nào,những hoạt động nào, những hình thức nào, những mặt hàng nào doanh nghiệpkhông được phép tiến hành hoặc được phép tiến hành nhưng có hạn chế ở quốc gia
đó hay cũng như khu vực đó nói chung
Mỗi một quốc gia có một hệ thống luật pháp riêng để điều chỉnh các hoạtđộng kinh doanh quốc tế, nó gồm luật thương mại (luật xuất nhập khẩu hàng hoá,dịch vô ), luật đầu tư nước ngoài, luật thuế, pháp luật ngân hàng Giữa cácnước thường tiến hành kí kết các hiệp định, hiệp ước và dần hình thành nên luậtkhu vực và luật quốc tế Thực tế thế giới trong những năm qua đã chỉ ra rằng sựxuất hiện của các liên minh kinh tế, liên minh chính trị, liên minh thuế quan đãxuất hiện những thoả thuận mới, có tính chất song phương hoặc đa phương, tạođiều kiện thuận lợi hơn cho kinh doanh buôn bán trong khu vực và trên thế giới Vìvậy, có thể khẳng định rằng chỉ trên cơ sở nắm chắc hệ thống luật pháp của từngquốc gia và các hiệp định giữa các nước mới cho phép doanh nghiệp đưa ra những
Trang 16quyết định đúng đắn trong việc lùa chọn quốc gia, khu vực kinh doanh, hình thứckinh doanh, mặt hàng kinh doanh chủ yếu nhằm tăng lợi nhuận và hạn chế rủiro.
Pháp luật của một quốc gia cũng có liên hệ và ảnh hưởng đến tình hình kinhdoanh giữa các nước với nhau Trong điều kiện này buộc các quốc gia phải điềuchỉnh hoạt động của mình cho thích ứng, các doanh nghiệp phải phản ứng linh hoạt
để đáp ứng nhanh với những qui định mới về luật ở các quốc gia mà mình đanghoạt động ở đó
2.1.2 Nhân tố chính trị.
N
hân tố chính trị đã và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh, đặcbiệt đối với hoạt động kinh doanh quốc tế Tính ổn định về chính trị của các quốcgia sẽ là một trong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trongmôi trường nước ngoài Không có sự ổn định về chính trị thì sẽ không có điều kiện
để ổn định để phát triển kinh tế, lành mạnh hoá xã hội Chính vì vậy, khi tham giakinh doanh trên thị trường thế giới, doanh nghiệp phải am hiểu môi trường chính trị
ở các quốc gia, ở các nước trong khu vực mà doanh nghiệp muốn hoạt động Sự ổnđịnh chính trị được biểu hiện ở chỗ : thể chế, quan điểm chính trị có được đa sốnhân dân đồng tình hay không, hệ thống chính trị, đặc biệt là đảng cầm quyền có
đủ uy tín và độ tin cậy đối với nhân dân và các doanh nghiệp, công ty ở trong vàngoài nước hay không
2.1.3 Nhân tố kinh tế
Hoạt động trong môi trường kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp buộc phải cónhững kiến thức nhất định về kinh tế Các kiến thức về kinh tế sẽ giúp các nhàquản lý, kinh doanh xác định được : mét mặt, những ảnh hưởng của doanh nghiệpđổi với nền kinh tế nước chủ nhà và nước sở tại ; mặt khác, cũng thấy được ảnh
Trang 17hưởng của những chính sách kinh tế của một quốc gia đối với hoạt động của doanhnghiệp.
Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của một quốcgia nói riêng, của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nói chung có tác độngtrực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường nước ngoài.Tính ổn định về kinh tế trước hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốc gia, ổnđịnh tiền tệ, khống chế lạm phát Đây là các vấn đề mà các doanh nghiệp rất quantâm và ái ngại vì nó liên quan trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp ở nước ngoài
Nhân tố cơ bản tác động đến sự hoạt động của kinh tế thị trường là quyền tốicao của khách hàng Theo P Samuelson đấy là một “ông vua”, quyền tối cao củakhách hàng là quyền tự do của người tiêu dùng, nó tác động đến sản xuất thôngqua sự lùa chọn của họ
2.1.4 Nhân tố văn hoá.
V
iệc buôn bán, kinh doanh của doanh nghiệp đều được điều chỉnh bởi con người
Vì vậy, doanh nghiệp phải cân nhắc sự khác nhau giữa những nhóm dân téc và xãhội để dự đoán, điều hành các mối quan hệ và hoạt động của mình Sự khác nhau
về con người đã làm gia tăng những hoạt động kinh doanh khác nhau ở nhiều quốcgia trên thế giới Điều đó buộc các nhà quản lý, các nhà kinh doanh phải có sự amhiểu về văn hoá của nước sở tại, văn hoá của từng khu vực trên thế giới
Văn hoá được hiểu như một tổng thể phức tạp, bao gồm ngôn ngữ, niềm tin,nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và tất cả các khả năng khác mà conngười có được Văn hoá qui định hành vi của mỗi con người, thông qua mối quan
hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Do có sự khác nhau về nền văn hoá đang tồn tại giữa các quốc gia, cho nêncác nhà kinh doanh phải sớm có những quyết định có hay không tham gia kinh
Trang 18doanh ở môi trường đó Điều này trong một chõng mực nào đó tuỳ thuộc vào sựchấp nhận của doanh nghiệp đối với môi trường văn hoá nước ngoài Nhân tố vănhoá nổi bật nhất là tập quán, lối sống, tôn giáo và ngôn ngữ Các nhân tố này đượccoi là “hàng rào chắn” các hoạt động giao dịch kinh doanh Mỗi quốc gia, thậm chítrong từng vùng quốc gia, các dân téc khác nhau có tập quán (sản xuất, tiêu dùng,kinh doanh, giao tiếp ), lối sống và ngôn ngữ riêng, do đó các nhà kinh doanh cầnphải biết rõ và hành động cho phù hợp với từng hoàn cảnh của môi trường mới
Thị hiếu tập quán của người tiêu dùng còn ảnh hưởng đến nhu cầu, vì mặc
dù hàng hoá có chất lượng tốt nhưng nếu không được người tiêu dùng ưa chuộngthì cũng khó được họ chấp nhận Vì vậy, nếu nắm bắt được thị hiếu, tập quán củangười tiêu dùng thì doanh nghiệp kinh doanh có thể mở rộng khối lượng cầu mộtcách nhanh chóng Chính thị hiếu và tập quán của người tiêu dùng mang đặc điểmriêng của từng vùng, từng châu lục, từng dân téc và chịu ảnh hưởng của các yếu tốvăn hoá, lịch sử, tôn giáo
Ngôn ngữ cũng là một yếu tố quan trọng trong nền văn hoá của từng quốcgia Nã cung cấp cho các nhà quản lý kinh doanh một phương tiện quan trọng đểgiao tiếp trong quá trình kinh doanh quốc tế Đối với một công ty kinh doanh quốc
tế, hoạt động kinh doanh muốn mở rộng, trước hết đòi hỏi phải hiểu được ngônngữ
Tôn giáo cũng có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động hàng ngàycủa các cá nhân và các tổ chức trong xã hội Bởi vậy, các doanh nghiệp kinh doanhquốc tế cần phải hiểu biết các loại tôn giáo và vai trò của chúng trong xã hội, nơi
mà doanh nghiệp tổ chức các hoạt động kinh doanh Tôn giáo có thể ảnh hưởngđến hoạt động hàng ngày của con người và do đó ảnh hưởng đến hoạt động kinhdoanh Chẳng hạn : ngày nghỉ, kỳ nghỉ, lễ kỷ niệm
2.1.5 Nhân tố địa lý.
Trang 19Mỗi một nước khác nhau có vị trí địa lý khác nhau, mỗi nước hay mỗi khu vực có
vị trí địa lý thuận lợi về mặt này hay mặt khác Tuy nhiên cũng có nước có vị tríđặc biệt thuận lợi, chẳng hạn như Singapore Song hầu như mỗi nước chỉ có một sốmặt lợi thế nào đó Chính vì vị trí địa lý khác nhau cho nên dẫn đến có lợi thế tuyệtđối, lợi thế tương đối giữa các quốc gia, các khu vực trên toàn thế giới Lợi thế về
vị trí địa lý có thể là địa tô chênh lệch, sự giàu có hay nghèo nàn về tài nguyênthiên nhiên, điều kiện khí hậu, sự ảnh hưởng của thiên tai Bởi vậy, khi tham giahoạt động kinh doanh quốc tế các nhà quản lý phải nắm chắc được vị trí địa lý củatừng nước, từng khu vực mà mình đang và sẽ hoạt động, phải phân tích đượcnguồn tài nguyên, sự khai thác cùng với khả năng khai thác của từng nước và từngkhu vực Từ đó có những chính sách sản phẩm, hình thức kinh doanh phù hợp vớitừng khu vực địa lý
2.1.6 Nhân tố lịch sử.
Lịch sử là quá khứ, nhưng “ nếu ai vội quên đi quá khứ thì người đó sẽ phải chấpnhận quá khứ một lần nữa” Lịch sử của mỗi quốc gia khác nhau là không giốngnhau, lịch sử là sự tích luỹ những kinh nghiệm của con người, xem xét lịch sử sẽbiết được các ý tưởng kinh doanh, triết lý kinh doanh, thãi quen, tục lệ, sự trungthực hay không trung thực trong kinh doanh để từ đó lùa chọn được các quốc gia
mà doanh nghiệp có thể kinh doanh, đặt mối quan hệ lâu dài hay tạm thời
2.2 Các nhân tố thuộc về môi trường cạnh tranh
S
ự khác nhau truyền thống giữa kinh doanh nội địa và kinh doanh quốc tế là ởchỗ kinh doanh quốc tế thường có khoảng cách địa lý lớn hơn, xa hơn Điều đó làmcho công ty kinh doanh quốc tế luôn gặp phải khó khăn hơn, vì họ phải chi phínhiều hơn cho hoạt động, khó khăn trong việc mở rộng các hình thức kinh doanhcủa công ty Tuy nhiên, ngày nay do sự phát triển nhanh chóng và hiện đại của
Trang 20thông tin và giao thông vận tải đã làm cho những khó khăn về khoảng cách và địa
lý bị giảm dần
Sù phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã góp phần làm tăng khảnăng cạnh tranh của một công ty Sù can thiệp và giúp đỡ nhiều hay Ýt của chínhphủ trong chõng mực nhất định đã thúc đẩy hay cản trở hoạt động kinh doanh,đồng thời cũng thúc đẩy hay kìm hãm việc áp dụng những thành tựu của cáchmạng khoa học và công nghệ ở doanh nghiệp Việc áp dụng có hiệu quả nhữngthành tựu của khoa học, công nghệ tiên tiến sẽ góp phần giúp doanh nghiệp giảmbớt những rủi ro trong các hoạt động kinh doanh quốc tế Ngày nay, với bối cảnhcủa nền kinh tế thế giới, cạnh tranh quốc tế đang tiếp tục mở rộng và phát triển.Trong điều kiện này, nhiều công ty có khả năng nắm bắt nhanh được những cơ hộikinh doanh ở nước ngoài hơn trước đây Sự tác động mạnh mẽ của những xuhưởng vận động chủ yếu của nền kinh tế thế giới đã và đang thúc đẩy hầu hết cáccông ty lớn của nhiều quốc gia tham gia mạnh mẽ vào hoạt động kinh doanh quốc
tế Điều đó được giải thích bởi các lý do sau đây :
Các sản phẩm mới đang được quốc tế hoá một cách nhanh chóng
Các công ty kinh doanh trong nước cũng buộc phải đối đầu với các nhàkinh doanh quốc tế
Các công ty có thể tiến hành sản xuất kinh doanh các sản phẩm của họ ởnhiều nước khác nhau
Trong nền kinh tế thị trường, công cụ được các công ty và các nhà kinhdoanh sử dụng rộng rãi trong phân tích môi trường cạnh tranh là mô hình củaMicheal Porter Theo ông môi trường cạnh tranh được hình thành bởi những nhân
tố chủ yếu mà ông gọi là 5 lực lượng cạnh tranh trên thị trường cạnh tranh Bất kỳdoanh nghiệp công nghiệp nào cũng phải tính toán cân nhắc tới trước khi có những
Trang 21quyết định lùa chọn phương hướng, nhiệm vụ phát triển của mình 5 lực lượngcạnh tranh cơ bản đó là:
Sơ đồ 02 : Mô hình 5 sức mạnh của Micheal Porter
Sức Ðp của doanh nghiệp mới
Sức Ðp của
nhà cung ứng Sức Ðp của các doanhnghiệp hiện tại người tiêu dùngSức Ðp của
Sức Ðp của các sản phẩm thay thế
Năm lực lượng cạnh này tồn tại trong một thể thống nhất tạo thành môi trườngcạnh tranh, quyết định tính chất, qui mô của cạnh tranh và khả năng thu lợi nhuậncủa các doanh nghiệp
Mét là Mét làSức Mét làÐp Mét làcủa Mét làcác Mét làđối Mét làthủ Mét làcạnh Mét làtranh Mét làhiện Mét làtại.
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trên thị trường là một trong nhữngyếu tố phản ánh bản chất của môi trường này Sự có mặt của các đối thủ cạnh tranhchính trên thị trường và tình hình hoạt động của chúng là lực lượng tác động trựctiếp mạnh mẽ, tức thì tới quá trình hoạt động của các doanh nghiệp Mỗi thị trườngbao gồm rất nhiều các doanh nghiệp khác nhau, nhưng thường trong đó chỉ một sốđóng vai trò chủ chốt như những đối thủ cạnh tranh chính có khả năng chi phối,khống chế thị trường Nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân
Trang 22tích đánh giá chính xác khả năng của những đối thủ cạnh tranh thích hợp với hoàncảnh môi trường chung Mức độ, qui mô cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đanghoạt động phụ thuộc vào:
Trình độ tập trung hoá sản xuất kinh doanh
Sè lượng đối thủ cạnh tranh
Dung lượng thị trường và năng lực sản xuất
Mét làSù Mét làđe Mét làdoạ Mét làcủa Mét làcác Mét làđối Mét làthủ Mét làcanh Mét làtranh Mét làtiềm Mét làÈn Mét làsẽ Mét lànhảy Mét làvào Mét làthị Mét làtrường.
Những doanh nghiệp mới tham gia thị trường trực tiếp làm tăng tính chất vàqui mô cạnh tranh trên thị trường do tăng năng lực sản xuất và khối lượng sản xuất.Trong quá trình vận động của lực lượng thị trường, trong từng giai đoạn thường cónhững đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường và những đối thủ yếu hơn rót rakhỏi thị trường Cạnh tranh sẽ loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém không thíchnghi với môi trường đồng thời làm tăng khả năng của một số doanh nghiệp khác
Đó là qui luật khách quan Điều này buộc các doanh nghiệp phải tính toán cân nhắcđánh giá khả năng sản xuất của các đối thủ tiềm Èn và có những quyết định chiếnlược phù hợp trong sản xuất kinh doanh của mình Để chống lại các đối thủ cạnhtranh tiềm Èn, các doanh nghiệp thường thực hiện các chiến lược như phân biệt sảnphẩm, nâng cao chất lượng, bổ sung những đặc điểm mới của sản phẩm và khôngngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm nhằm làm sản phẩm của mình có những đặcđiểm khác biệt hoặc nổi trội hơn trên thị trường, hoặc phấn đấu giảm chi phí sảnxuất, tiêu thụ, phát huy lợi thế qui mô, hoàn thiện hệ thống phân phối sản phẩm Sức Ðp cạnh tranh của các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường phụ thuộc chặtchẽ vào những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật và mức độ hấp dẫn của thị trường đó.Mỗi doanh nghiệp đều có mức độ trở ngại khác nhau đối với các đối thủ tiềm Ènmuốn tham gia vào thị trường
Mét làSức Mét làÐp Mét làcủa Mét lànhững Mét lànhà Mét làcung Mét làứng
Trang 23Những người cung ứng cũng có sức mạnh thoả thuật rất lớn có rất nhiều cáchkhác nhau mà những người cung ứng có thể tác động vào khả năng thu lợi nhuậncủa doanh nghiệp Họ có thể nâng giá hoặc giảm chất lượng những vật tư kỹ thuật
mà họ cung ứng hoặc đồng thời thực hiện cả hai Khi những nhà cung ứng thuộc vềmột vài doanh nghiệp lớn, nắm trong tay đại đa số nguồn vật tư thiết bị chủ yếu thìkhả năng tác động của họ lớn lơn rất nhiều Điều này có thể xảy ra nếu mức độ tậptrung hoá trong nghành cung ứng cao hơn nghành sản xuất chế biến, hoặc là sựkhan hiếm của các nguồn vật tư thay thế, tính chất và tầm quan trọng của nguồnvật tư
Mét là Mét làSức Mét làÐp Mét làcủa Mét làkhách Mét làhàng.
Sức mạnh của khách hàng thể hiện ở chỗ họ có thể buộc các nhà sản xuất phảigiảm giá bán sản phẩm thông qua việc tiêu dùng Ýt sản phẩm hơn hoặc đòi hỏichất lượng sản phẩm cao hơn Nếu khách hàng mua với khối lượng lớn, tính tậptrung của khách hàng cao hơn so với các doanh nghiệp trên thị trường, sản xuất sẽtăng lên
Mét là Mét làSù Mét làxuất Mét làhiện Mét làcủa Mét làcác Mét làsản Mét làphẩm Mét làthay Mét làthế.
Những sản phẩm thay thế cũng là một trong những lực lượng tạo nên sức Ðpcủa cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp trên thị trường mức độ sẵn có củanhững sản phẩm thay thế cho biết giới hạn trên của giá cả sản phẩm trên thị trường.Khi giá của một sản phẩm tăng quá cao khách hàng sẽ chuyển sang sử dụng nhữngsản phẩm thay thế Đối sách cơ bản của các doanh nghiệp và thực hiện chiến lượcphân biệt sản phẩm nhằm tạo cho sản phẩm có chất lượng khác biệt hẳn sản phẩmthay thế hoặc làm tăng chi phí của khách hàng khi họ chuyển sang sử dụng sảnphẩm thay thế Sự sẵn có của những sản phẩm thay thế trên thị trường là một mối
đe doạ trực tiếp đến khả năng phát triển, khả năng cạnh tranh và mức độ lợi nhuậncủa các doanh nghiệp
Trang 24Ngoài những nhân tố trên tác động ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh cóthể còn là : tốc độ thay đổi sản phẩm ; qui mô sản xuất tối ưu ; số lượng người tiêudùng ; chi phí vận chuyển sản phẩm
III SỰ CẦN THIẾT PHẢI TẠO DỰNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH THUẬNLỢI CHO CÁC DOANH NGHIỆP ĐỂ THÚC ĐẨY CÁC HOẠT ĐỘNG KINHDOANH QUỐC TẾ
1 NHỮNG XU THẾ BIẾN ĐỔI CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH TOÀN CẦU HIỆN NAY.
1.1 Biến đổi trong tư duy và triết lý kinh doanh toàn cầu
Thị trường toàn cầu là mảnh đất tốt cho sự hoạt động của các chủ thể kinh doanhquốc tế có tính cá thể, liên kết đa dạng, nhiều chiều và khác biệt về mức độ Nềntảng của kiểu loại tư duy mới là kỹ thuật phân tích kinh doanh, tạo khả năng dựđoán các sự kiện kinh doanh tương lai khác một cách cơ bản với loại kỹ thuật mô
tả trước đây, chỉ cho phép doanh gia hướng vào quá khứ Con người với tiềm lựcchất xám được coi là nguồn lực cơ bản để phát triển Doanh nhân là líp người được
đề cao trong xã hội do họ có vai trò to lớn trong việc thay đổi cơ bản môi trườngkinh doanh Những chuẩn mực của các doanh nhân hiện đại như họ là những ngườicao vọng, dám chấp nhận rủi ro, có lòng tự tin và có đầu óc nhậy bén được coi lànhững cá tính quý hiếm - mét loại tài sản vô hình quan trọng quyết định bản chấtcủa cách ứng xử trong kinh doanh và sự sống còn của công ty trong dài hạn Khaithác các mối liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc lẫn nhau hoàn toàn giữa cácquốc gia đang trở thành “chất đốt trong” cho sự vận hành của guồng máy kinh tếcủa các nước Các nền kinh tế của các quốc gia hiện nay được “lớn lên” trong sựphụ thuộc lẫn nhau cao độ Triết lý Phương Đông được dùa vào kinh doanh toàncầu như là “kim chỉ Nam” có hiệu quả trong hoạt động của các công ty, các tậpđoàn kinh doanh hiện nay
1.2 Công nghệ và nghệ thuật kinh doanh là yếu tố thống trị thị trường
Trang 25Thị trường thế giới là một tập hợp các mối quan hệ đa dạng, đan xen lẫn nhaugiữa người bán và người mua Trong một thị trường dày đặc những mối quan hệ.Như vậy, công nghệ là hình mẫu và nghệ thuật kinh doanh là Èn dụ Nếu một công
ty hay một tập đoàn có công nghệ cao nhưng nghệ thuật kinh doanh không tinh xảothì vẫn chưa phải là hình mẫu trong kỷ nguyên kinh doanh hiện đại Doanh số, lợinhuận - những tham số cơ bản đánh giá hiệu qủa kinh doanh, trong những trườnghợp đó hiển nhiên không thể có những con số “đẹp” Ngược lại, có nghệ thuật kinhdoanh “sắc nét” nhưng công nghệ còn lạc hậu thì kinh doanh thiếu đi “cốt vật chất”quyết định sự tồn tại lâu bền của công ty trên thị trường
1.3 Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra có tính chất “gia tốc” và xuất hiện sựđột biến trong tăng trưởng kinh tế
“ Trước mắt chúng ta đang diễn ra một cuộc cách tân công nghệ kỳ diệu và
những biến đổi xã hội lớn lao”- trong cuốn sách Mười xu hướng vận động mới củanền kinh tế thế giới của tác giả John Naisbitt và Pitrica Aburdenne Đây là nét mớicủa bộ mặt xã hội hiện đại
Nhật Bản sau thế chiến thứ hai, từ một nước bị tàn phá nặng nề trở thành mộtsiêu cường trên thế giới Mấy năm qua nền kinh tế Nhật Bản đã lặng lẽ đặt nhữngbước chân khổng lồ lên toàn bộ nền kinh tế thế giới Các nước Nics đang trở thànhđối trọng quan trọng trong nền kinh tế thế giới với tham vọng lớn sánh vai với cáctrung tâm thế giới : Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhận Bản Châu Âu đang tìm thấy chínhmình với tỷ lệ hàng hoá chế biến xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới Trung Quốc -người khổng lồ với 1/5 dân số thế giới đã đạt tốc độ tăng trưởng bình quân củatổng sản phẩm quốc nội những năm gần đây ở mức hai con số Việt Nam - với mộtthành công lớn lao của công cuộc đổi mới, tốc độ tăng trưởng trong những nămgần đây đạt trên dưới 9%/năm
Trang 26Tất cả các hoạt động kinh doanh diễn ra sôi động, khẩn trương chưa từng thấytrên qui mô toàn cầu mà có thể diễn ra dưới đáy của đại dương hoặc cả trên khoảngkhông vũ trụ
1.4 Mức độ nhận biết và khả năng phản ứng với cơ hội trên thị trường
Hầu hết các công ty muốn tồn tại trên thị trường phải tìm mọi cách để phát hiện racác cơ hội kinh doanh và tìm cách phản ứng với cơ hội đó Mức độ nhận biết cơhội tuỳ thuộc vào kỹ năng, kỹ xảo phân tích và dự đoán thị trường Các thế lựccạnh tranh, các mối đe doạ, thế mạnh, điểm yếu và cơ hội của từng công ty phảiđược thường xuyên khảo sát cẩn thận và đầy đủ Nhưng nếu chỉ nhận biết cơ hộithì có nghĩa là mới dừng lại quan niệm : các doanh gia đều bình đẳng trước cơ hội
mà việc phản ứng với cơ hội là nhân tố quyết định sự tồn tại của công ty trên thịtrường
1.5 Đạo đức kinh doanh đang được đề cập đến như một chuẩn mực của kinhdoanh hiên đại
Khắp nơi trên thế giới đang vang lên tiếng kêu gọi quốc tế về bảo vệ giá trị củacon người, đề cao các giá trị văn hoá dân téc và nhân văn quốc gia, bảo vệ thuầnphong mỹ tục của giống nòi, hướng con người đến cái “thánh thiện” cao cả Mọihoạt động kinh doanh, một mặt, phải tuôn theo tính khắt khe của “luật chơi” thịtrường ; mặt khác, phải bảo vệ giá trị của con người, giữ gìn bản sắc dân téc vàtruyền thống văn hoá của cộng đồng Đạo đức kinh doanh còn thể hiện trong việctôn trọng và chấp hành đúng nguyên tắc cùng có lợi Đạo đức được đề cao trong xãhội kinh doanh hiện đại gắn liền với việc đề cao “chữ tín” trong kinh doanh
1.6 Tình hình khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam Á
TÝnh đến tháng 01/1998 khủng hoảng tiền tệ ở Đông Nam Á khiến cho giá trịđồng tiền của các nước này bị mất giá nhiều so với đồng đôla Mỹ : Đồng bạt bị
Trang 27mất giá 112%, đồng ringit 84%, đồng Rupiah 248%, đồng Pêsô 70%, đồng đôlaSingapore và đồng Yên Nhật khoảng 20%, đồng Won 100% Điều này làm cho cácnhà đầu tư Mỹ và Châu Âu là những người thường có cái nhìn toàn cục sẽ rút vốncủa họ để chuyển sang các vùng khác ngoài Châu Á, chẳng hạn sang Mỹ, Đông Âuhoặc Mỹ LaTinh Còn các nhà đầu tư Châu Á sẽ chuyển vốn của mình sang các thịtrường khác ngoài Đông Nam Á là nơi Ýt bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tàichính tiền tệ hơn, chẳng hạn HôngKông, Trung Quốc, Ên Độ Theo một số chuyêngia đánh giá thì cuộc khủng hoảng không đáng lo ngại mấy, vì đây sẽ là điều kiệntốt cho các nước này xuất khẩu, sản xuất sẽ tăng làm tiền đề cho nền kinh tế tăngtrưởng.
Do các đồng tiền bị mất giá nên giá thành các hàng ngoại nhập dùng làm yếu
tố đầu vào cho sản xuất công nghiệp và nông nghiệp ở Đông Nam Á trở nên đắt đỏhơn Điều đó dẫn đến mức giá của các hàng hoá nhu yếu phẩm sẽ tăng lên và lạmphát có thể xảy ra ở mức cao hơn bình thường ở tất cả các nước Đông Nam Á.Lạm phát ở Thái Lan từ 5,8% lên 6,5% (tăng 0,7%), ở Singapore tăng 1,1%, ởPhilipines tăng từ 5% lên 7,5%, ở Indonesia tăng từ 10% đến 12%, Trung Quốc vàHàn Quốc tăng 2%, Nhật Bản tăng từ 0,2% lên 0,8% Với sự mất giá hơn 100%của các đồng tiền Đông Á, khu vực tư nhân nói chung đã có nguy cơ lỗ nặng ở cáckhoản nợ nước ngoài và dẫn đến phải tuyên bố phá sản hàng loạt
Mọi người đều nhận thấy rằng, tất cả các nền kinh tế Đông Á hiện đang lâmvào cuộc khủng hoảng tiền tệ đều có tăng trưởng kinh tế trong năm 1997 và 1998thấp hơn so với 1996 Trung bình tốc độ tăng trưởng các nền kinh tế Đông Á trongnăm 1997 là 5% so với 8,2% của năm 1996 Mức tăng trưởng của Thái Lan làxuống mức thấp nhất 0% của năm 1997 so với mức 8,3% của năm 1996 dự tínhnăm 1998 là 1%, Indonesia có mức tăng trưởng vào khoảng 5,9%, năm 1997 so vớimức 7,8% của năm 1996 và đến năm 1998 chỉ số này sẽ chỉ còn 0,4%, cònMalaysia mức tăng trưởng có tụt chút Ýt, đạt 7% của năm 1997 so với mức 8,2%
Trang 28của năm 1996 và sẽ tụt xuống còn 2,5% năm 1998 Trong khu vực Đông nam Áchỉ có Philipines là mức tăng trưởng của năm 1997 Ýt thay đổi so với năm 1996(5% của năm 1997 so với 5,5% của năm 1996 và đến năm 1998 là 4% chỉ sụt đichút Ýt nếu so với các nước khác), Singapore cũng là nước Ýt chịu sự khủnghoảng nên mức tăng trưởng của năm 1997 là 7,3% so với 8% của năm 1996 Tuynhiên đến năm 1998 mức tăng trưởng này sẽ giảm nhiều và chỉ đạt 4,2% Nhật bản,một nước có nền kinh tế mạnh nhất Châu Á có mức tăng trưởng 0% so với 2,5%của năm 1996 và sẽ nhích lên 1% trong năm 1998 Hàn quốc có mức tăng trưởng là6% của năm 1997 so với 6,9% trong năm 1996, nhưng sang năm 1998 nền kinh tếnày dự kiến chỉ tăng 2,5%.
Hiện tại trong khu vực Đông bắc Á có Trung quốc, Hồng kông, Đài loan lànhững nước Ýt có những biến động về tăng trưởng, Trung quốc hạ từ 9,8% trongnăm 1996 xuống 8,8% trong năm 1997, Hồng kông sau khi chuyển về Trung quốcđạt mức 5,3% trong năm 1997 so với 4,9% năm 1996
Khi tăng trưởng kinh tế có nguy cơ chậm lại do các vụ phá giá đồng tiến và
sự sụp đổ của các thị trường chứng khoán, và khi các nước cắt giảm chi tiêu, nạnthất nghiệp tăng lên thì tất cả các yếu tố này sẽ khiến cho nhiệm vụ điều hànhchính trị trở nên khó khăn hơn nhiều Nếu như tình hình kinh tế không được cảithiện thì tình hình chính trị của các nước trong khu vực sẽ rất khó khăn, dân chúng
tỏ ra không khoan nhường đối với các hoạt động điều hành kém hiệu quả của chínhphủ và nạn tham nhòng Điều đó buộc chính phủ phải cải tổ cơ cấu chính trị đểlãnh đạo tốt hơn và củng cố nền tảng kinh tế dẫn đến môi trường kinh doanh ởkhu vực này bị thay đổi rất lớn
2 THỰC TRẠNG HÀNG CÔNG NGHIỆP XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI.
rong một thế giới vận động với tốc độ cao như vậy, nhìn lại việc xuất khẩuhàng hoá của Việt Nam, chóng ta không khỏi “chạnh lòng”
T
Trang 29 Cho đến nay trên thị trường thế giới bước đầu xuất hiện một số mặt hàngcông nghiệp xuất khẩu của Việt Nam được coi là chủ lực như dầu mỏ, than đá, dệtmay, giầy dép và một số mặt hàng của các xí nghiệp liên doanh Hàng côngnghiệp của Việt Nam đã có mặt trên hầu hết các châu lục, tuy nhiên tỷ trọng cònrất nhỏ, song đó cũng là điểm mạnh đáng tự hào Bởi vì Việt Nam đang chậpchững bước đầu tiên hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Bên cạnh những điểm mạnh, thị trường hàng công nghiệp Việt Nam cũngbiểu hiện những hạn chế sau đây :
Thị trường hàng công nghiệp xuất khẩu còn quá nhỏ bé, manh mún, rời rạc
và chưa ổn định Hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam khó có thể duy trìđược thị phần nếu có sự cạnh tranh gay gắt về tất cả các loại hàng công nghiệp từcác nước khác, đặc biệt là hàng công nghiệp dệt từ Thái Lan,Trung Quốc Sự yếukém trong khả năng cạnh tranh của hàng hoá công nghiệp xuất khẩu Việt Nam thểhiện : hàng công nghiệp Việt Nam vẫn chưa dược coi là ngang hàng, bằng vai vớihàng hoá các nước khác, đặc biệt là các nước trong khu vực
Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam mặc dù có sự cải thiện đáng kể song
tỷ lệ hàng nguyên liệu thô vẫn là chủ yếu, một phần quan trọng là hàng dệt may,giầy dép và hàng công nghiệp thực phẩm dành để trả nợ nước ngoài Cơ cấu xuấtkhẩu chưa được ổn định, có thể thay đổi khi có sự tác động của các loại nhân tố vềthị trường, cạnh tranh hay có sự thay đổi trong thị hiếu người tiêu dùng ở các Châulục khác nhau
Chất lượng hàng hoá công nghiệp nói chung vẫn chưa cao so với mặt hàngtương tự xuất khẩu từ các nước khác, đặc biệt là từ các nước trong khu vực châu Á.Giá cả hàng hoá còn khá cao vì chịu ảnh hưởng của các loại chi phí ; cả chi phí sảnxuất và chi phí lưu thông Chưa có mặt hàng công nghiệp xuất khẩu nào của ViệtNam có “danh tiếng” trên thị trường thế giới
Trang 30 Hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chịu sự cạnh tranh ráo riết củacác loại hàng hoá tương tự từ các nước khác và về thực chất thì khả năng cạnhtranh về chất lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, thanh toán, vận tải hàng côngnghiệp xuất khẩu của Việt Nam chưa ngang bằng với các nước xuất khẩu các mặthàng tương tự.
Chưa có những hợp đồng lớn và dài hạn về hàng công nghiệp xuất khẩu.Các hợp đồng xuất khẩu nhỏ, rời rạc và có tính chất “vụ việc” vẫn là phổ biến.Kiểu làm ăn “chộp giật” vẫn còn tồn tại
3 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY.
ôi trường kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam hơn 10 năm đổi mới
đã có những thay đổi quan trọng theo hướng ngày càng mở rộng tính chủđộng sáng tạo của doanh nghiệp, của các thành phần kinh tế khác nhau trong kinhdoanh Nhờ đó đã thúc đẩy quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp đang pháttriển có hiệu quả hơn, cho đến nay đã có hàng nghìn doanh nghiệp trong đó cókhoảng hơn 50% các doanh nghiệp làm ăn có lãi so với hơn 30% doanh nghiệp làm
ăn có lãi trong những năm đầu mới mở cửa Tuy tỷ lệ và mức lãi còn thấp Nhưng
đó cũng là một tiến bộ đáng ghi nhận, đã tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta đạttốc độ tăng trưởng khá, kìm chế được lạm phát, đưa nước ta ra khỏi cuộc khủnghoảng kinh tế - xã hội Chuẩn bị bước sang giai đoạn đưa nước ta ra khỏi nướcnghèo, kém phát triển
M
Việc chủ động tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi ở các doanh nghiệp
đã quyết định tối ưu 3 vấn đề kinh tế cơ bản : sản xuất cái gì?, sản xuất như thếnào?, sản xuất cho ai? Nhờ đó mà hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệpphát triển nhanh, có hiệu quả kinh tế cao
Bên cạnh những tiến bộ trong việc tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi
ở các doanh nghiệp hơn 10 năm đổi mới Chúng ta thấy còn nhiều doanh nghiệp
Trang 31còn gặp nhiều khó khăn trở ngại, còn gần 50% doanh nghiệp kinh doanh chưa cólãi, thậm chí còn nhiều doanh nghiệp bị lỗ, phá sản và có nguy cơ phá sản Nguyênnhân của tình hình này do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động,trong đó có nguyên nhân môi trường kinh doanh chưa tốt.
Trang 32CHƯƠNG IIPHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU ĐÁ ỐP LÁT Ở CÔNG TY
MIDECO
I GIỚI THIỆU MỘT SỐ NÉT VỀ CÔNG TY MIDECO
1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY MIDECO
Công ty phát triển khoáng sản (MIDECO ) được thành lập vào tháng 2/1989,trực thuộc tổng cục mỏ địa chất, sau đó được đăng ký lại theo thông báo số 131-TBngày 29/08/1993 của Thủ tướng Chính phủ, quyết định số 255/CNNg-TCNSĐT-
QĐ ngày 20/05/1993 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp nặng
Công ty có trách nhiệm thăm dò, khai thác, chế biến và kinh doanh các loạikhoáng sản như thiếc, nikel, đồng, vàng và các loại đá ốp lát như đá granit, đámarble
Công ty phát triển khoáng sản bao gồm các đơn vị thành viên là các xínghiệp thăm dò địa chất, khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản, phạm vi hoạtđộng ở miền Bắc và Trung Việt Nam Công ty có trụ sở đặt tại số 6- Phạm NgòLão- Hà Nội Tên giao dịch quốc tế của công ty là Mineral Development Company
Trang 33chế biến kim loại và phi kim loại Hiện nay công ty là một đối tác của Việt Namvới các công ty của Australia trong các liên doanh về đồng, vàng và nikel.
2 CÁC ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - KỸ THUẬT CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY.
2.1 Đặc điểm về chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động và quyền hạn của côngty
a, Nhiệm vụ
C
ăn cứ vào chủ trương phát triển kinh tế của Nhà nước, vào kết quả điều tra,nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ các loại khoáng sản trên thế giới, xácđịnh đúng đắn khả năng, tiềm năng, nhu cầu của các tổ chức, đơn vị sản xuất kinhdoanh khoáng sản ở trong nước để xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm Dùavào kết quả nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước về các sản phẩm khoángsản và tư liệu sản xuất, tư liêu tiêu dùng phục vụ cho sản xuất kinh doanh khoángsản để xây dựng kế hoạch xuất nhập khẩu theo chương trình hàng năm đạt hiệu quảkinh tế Công ty có nhiệm vụ chính sau :
Xây dựng và thực hiện các chính sách về tài chính, tín dụng, giá cả và đầu
tư phát triển nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng hàng xuất khẩu
Nghiên cứu luật pháp quốc tế, các thông lệ kinh doanh, nắm vững nhu cầu,thị hiếu, giá cả các loại sản phẩm khoáng sản, tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùngphục vụ sản xuất kinh doanh khoáng sản
Nghiên cứu các đối tượng cạnh tranh để đưa ra các phương án xuất nhậpkhẩu dữ vững các thị trường có lợi nhất
Thực hiện tốt nhất các chính sách cán bộ, chế độ quản lý tài sản, tài chính,lao động, tiền lương, quản lý và thực hiện phân phối theo lao động, không ngừngđào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, trình độ văn hoá, tay nghề cho cán bộ côngnhân viên của công ty
Trang 34b Chức năng.
C
ăn cứ vào phương hướng, mục tiêu, chiến lược kinh tế - xã hội của Nhà nước,căn cứ vào nhu cầu, thị hiếu của khách hàng và khả năng, tiềm năng của các tổchức kinh doanh khoáng sản Công ty MIDECO có các chức năng cơ bản sau :
Tiến hành việc sản xuất kinh doanh mặt hàng đá ốp lát, thực hiện việc thăm
dò, tìm kiếm các mỏ đá mới và đưa vào chế biến
Thực hiện việc xuất khẩu khoáng sản ra thị trường nước ngoài, đặc biệt làmặt hàng đá ốp lát
Thực hiện kinh doanh hàng nhập khẩu: Nhằm thoả mãn tốt nhu cầu về sảnxuất, công ty đã tiến hành việc nhập khẩu vật tư hàng hoá thiết bị, chuyển giaocông nghệ, kinh nghiệm quản lý cho các đơn vị thành viên, thúc đấy hoạt động sảnxuất, tạo điều kiện thuận lợi trong vấn đề kinh doanh
Hoạt động trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, công tytrực tiếp ký kết các chương trình hợp tác quốc tế và sản xuất kinh doanh khoángsản, cung ứng và tiêu thụ hàng tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng phục vụ cho sảnxuất kinh doanh khoáng sản Công ty đại diện cho phía Việt Nam thực hiện cácphương án đầu tư của nước ngoài tại Việt Nam trong lĩnh vực thăm dò, khai tháckhoáng sản
Trang 35 Tìm nguồn tài chính và kỹ thuật đầu tư vào thăm dò, khai thác chế biếnkhoáng sản dưới các hình thức hợp tác liên doanh khác nhau phù hợp với luật công
ty và luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chịu trách nhiệm về việc thực hiện cácchính sách kinh tế, xã hội trong toàn công ty trước Bộ và Tổng công ty
Được huy động vốn trong và ngoài nước phục vụ mục đích sản xuất kinhdoanh của công ty khi được phép của cơ quan cấp trên Công ty có thể huy độngmột phần vốn cổ phần tư nhân và tập thể đóng góp vào các đề án sản xuất kinhdoanh của công ty
Tiếp xúc, đàm phán và ký kết hợp đồng với các tổ chức kinh tế trong vàngoài nước, được cử người đi thăm quan, khảo sát, tham gia hội chợ, triển lãm ởnước ngoài và được mời các chuyên gia, cố vấn nước ngoài vào tham gia trong lĩnhvực đầu tư phát triển khai má
Công ty được phép lùa chọn ngân hàng thuận lợi để giao dịch, được mở cácchi nhánh, cơ quan đại diện, cửa hàng, đại lý ở trong và ngoài nước
Tham gia hội chợ, triển lãm, quảng cáo các mặt hàng kinh doanh của công
ty Đề xuất với cấp trên các ý kiến sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các qui chế, chínhsách trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh khoáng sản
Công ty phát triển khoáng sản được phép tổ chức khai thác và kinh doanh đá
ốp lát, đá khối, đá nguyên vật liệu xây dựng, thiếc, vonfran, vàng và các khoángsản khác cùng các mặt hàng chuyên dùng trong khai thác và chế biến khoáng sản
d Phạm vi hoạt động
M
ặt hàng chủ yếu mà công ty MIDECO tiến hành khai chế biến và kinh doanhnhững năm qua là thiếc, vonfram, đá granite, đá marble Nhưng trong năm gầnđây công ty đã xác định mặt hàng đá ốp lát có một thị trường phong phú nhiều tiềmnăng Hơn nữa công ty đang được phép quản lý một số mỏ từ Miền Bắc đến Miền
Trang 36Nam Trung Bộ nên công ty đã tập trung đầu tư, nâng cấp nhà xưởng, máy móc đểtập trung phát triển mặt hàng đá ốp lát.
Các mặt hàng mà công ty đang nhập khẩu chủ yếu là các thiết bị phục vụkhai thác mỏ như máy ủi, máy xúc, máy khoan, các máy móc phục vụ gia công chếbiến đá như máy xẻ, máy đánh bóng, máy mài cùng với các vật tư đi kèm
Các mặt hàng mà công ty xuất khẩu là các mặt hàng đá ốp lát, đá khối xâydùng và một số khoáng sản khác
Công ty trực tiếp quan hệ, giao dịch với các cơ quan, tổ chức trong và ngoàinước để ký các hợp đồng kinh tế, chuyển giao công nghệ, liên doanh liên kết, đầu
tư phát triển các hợp đồng dịch vụ vận tải, giao nhận bảo hiểm Kết hợp chặt chẽvới các đơn vị thành viên, các xí nghiệp trực thuộc để cùng xây dựng và thực hiệnchiến lược thị trường, chiến lược sản xuất kinh doanh của công ty
Trong quá trình hoạt động của mình, công ty có thể mở rộng phạm vi hoạtđộng không giới hạn địa bàn cũng như thành phần kinh tế
2.2 Đặc điểm về bộ máy quản lý
a Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty theo kiểu phân cấp quản lý Đứng đầu
công ty là Giám đốc, Giám đốc công ty do Bộ trưởng Bộ công nghiệp nặng bổnhiệm Giám đốc công ty tổ chức điều hành mọi hoạt động của công ty theo chế độthủ trưởng và chịu trách nhiệm toàn bộ trước Tổng công ty và Bộ công nghiệpnặng cũng như tập thể CBCNV của công ty Giúp việc cho Giám đốc có các PhóGiám đốc và trưởng các phòng ban do Giám đốc đề nghị và được cấp trên bổnhiệm theo sự phân cấp của Bộ trưởng Bộ công nghiệp nặng
Cơ cấu tổ chức của công ty gồm có:
Bé máy quản lý:
Trang 37 Chi nhánh 1 của công ty tại số 3 Lê Lai - Đà Nẵng.
Chi nhánh 2 tại Quy Nhơn - Bình Định
Chi nhánh 3 tại thị trấn Hát Lót - Sơn La
Chi nhánh 4 tại huyện Võ Nhai - Bắc Thái
Các xí nghiệp trực thuộc có:
Xí nghiệp MIDECO Thanh Hoá
Xưởng đá ốp lát tại 76 Trường Chinh - Hà Nội
Xí nghiệp MIDECO granite Tựu Liệt - Thanh Trì - Hà Nội
Các xí nghiệp và các công ty liên doanh khai thác chế biến khoáng sản trongnước
Trang 38Sơ đồ 03: Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty.
b Nhiệm vụ, chức năng của các phòng ban
Phòng kỹ thuật
Điều tra nghiên cứu địa chất các mỏ phục vụ cho sản xuất kinh doanh củaCông ty
Làm luận án khả thi các mỏ
Chuẩn bị thiết kế khai thác mỏ, giải quyết các thủ tục liên quan
Phô trách an toàn vệ sinh môi trường các mỏ
Lưu dữ các tài liệu về kỹ thuật mỏ địa chất
phßng hµnh chÝnh
phßng kü thuËt
c¸c xÝ nghiÖp s¶n xuÊt
c¸c chi nh¸nh
Trang 39 Làm công tác tiếp thị, chuẩn bị các hợp đồng xuất khẩu sản phẩm, các hợpđồng tiêu thụ trong nước, các hợp đồng nhập các loại máy móc, vật tư cho sản xuấtkinh doanh của công ty.
Nghiệm thu chất lượng hàng xuất khẩu
Lập thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá vật tư
Làm các đề án đầu tư mở rộng, nâng cấp, đổi mới thiết bị nhà xưởng
Nghiên cứu áp dụng và cải tiến quy trình công nghệ sản xuất
Soạn thảo các văn bản về hành chính, các loại văn bản báo cáo của công ty
Tiếp đón các đoàn khách hội nghị do công ty tổ chức
Xây dựng cơ cấu tổ chức nhân sự cho công ty
Lập kế hoạch dài hạn và ngắn hạn của công ty về sản xuất kinh doanh
Dùa trên cơ sở các hợp đồng đã ký, lập kế hoạch sản xuất kinh doanh chocác cơ sở
Trang 40 Theo dõi số lượng, tình trạng, khả năng sử dụng các loại vật tư, máy móc,thiết bị.
Lập định mức sản lượng cho các loại sản phẩm chính và mức tiêu hao vật
tư cho các sản phẩm
Về xây dựng cơ bản, phòng hành chính còn có chức năng lập kế hoạch xâydựng cơ bản, cải tạo, mở rộng, sửa chữa, xây dựng mới các xí nghiệp, văn phòngcủa công ty Tham gia ban quản lý các công trình xây dựng, giải quyết thủ tục vềxây dựng
2.3 Đặc điểm về đội ngò lao động
Đội ngò lao động gián tiếp của công ty đều được đào tạo từ các trường đại học như: Đại học mỏ địa chất, Đại học kinh tế, Đại học bách khoa, Đại học ngoạithương một số đã qua đào tạo chuyên ngành Yêu cầu đối với đội ngò lao độnggián tiếp là phải có đủ năng lực, có trình độ chuyên môn vững vàng, năng động,đồng thời hiểu rõ thị trường nội địa cũng như thị trường thế giới và có khả năngđàm phán với nước ngoài
Riêng đội ngò lãnh đạo là những cán bộ có kinh nghiệm, năng lực từ Tổngcông ty khoáng sản, Tổng cục mỏ địa chất đưa sang, đồng thời các cán bộ trẻ đủnăng lực mới ra trường cũng được sử dụng hợp lý
Đội ngò lao động trực tiếp là những người đã được đào tạo qua các trườngtrung học dạy nghề về mỏ địa chất Công ty cũng có đội ngò thợ xây dựng, ốp lát
có kinh nghiệm và trình độ nghề nghiệp Đội ngò này đã được thực nghiệm vàkhẳng định qua thời gian hoạt động của công ty vừa qua
Bảng 1: Cơ cấu lao động của công ty qua các năm.