1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài tập luyện tập Luật thương mại quốc tế

5 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập luyện tập Luật thương mại quốc tế
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Thương Mại Quốc Tế
Thể loại Bài tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 20,08 KB
File đính kèm Luyện thi Luật thương mại quốc tế.rar (18 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập luyện tập Luật thương mại quốc tế , Ôn thi luật thương mại quốc tế, các dạng bài luyện tập luật thương mại quốc tế , các dạng đề luật tập ôn thi Luật thương mại quốc tế, CISG, Luật thương mại quốc tế không khó, NEU

Trang 1

1 Người mua gửi một đơn chào mua các linh kiện điện tử đến người bán Trong đơn chào mua có quy định, giá mua do người mua đưa ra có thể được xem xét theo sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng Nhận được đơn chào mua, người bán trả lời là giá cần được xem xét theo cả sự tăng lên và sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng Người mua đã đồng ý về việc này Hàng hóa được người bán gửi cho người mua theo đúng đơn chào mua, nhưng người mua lại đơn phương hủy đơn chào mua của mình và không nhận hàng Người mua cho rằng điều khoản giá quy định như vậy là chưa đủ rõ ràng để hình thành hợp đồng giữa hai bên

Căn cứ vào CISG để khẳng định xem người mua có được hủy chào hàng không ?

Bài làm

- Đầu tiên, về hình thức theo quy định tại điều 11 CISG có quy định như sau “Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng.” Như vậy có thể hiểu rằng đơn chào hàng mặc nhiên được hiểu là một hợp đồng giao kết giữa bên bán và bên mua,

mà đã là hợp đồng mua bán hàng quốc tế thì sẽ thuộc đối tượng điều chỉnh của CISG

 Do đó, hợp đồng chào hàng này phải đáp ứng được các điều kiện về mặt chủ thể, thời gian, giá….thì sẽ có hiệu lực, nhưng khi đã vi phạm một trong các điều kiện được quy định thì hợp đồng đó được coi là vô hiệu

Trong đó có điều kiện nội dung về mức giá cả hai bên thỏa thuận như sau “sự tăng lên

và sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng” => Có hai tình huống

Trường hợp 1: Áp dụng quy định tại điều 14

“Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu có đủ chính xác và nếu nó chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó Một đề nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng về giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc quy định thể thức xác định những yếu tố này.”

 Yếu tố về giá trong trường hợp được coi là không rõ ràng và không đáp ứng được đủ các điều kiện về hợp đồng thương mại quốc tế theo CISG

 Do đó, người mua hoàn toàn có quyền hủy

Trường hợp 2: Áp dụng quy định tại điều 55

“Trong những trường hợp, nếu hợp đồng đã được ký kết một cách hợp pháp, nhưng trong hợp đồng không quy định giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc không quy định cách xác định giá thì được phép suy đoán rằng, các bên, trừ phi có quy định

Trang 2

trái ngược, đã có ngụ ý dựa vào giá đã được ấn định cho loại hàng hóa như vậy khi hàng hóa này được đem bán trong những điều kiện tương tự của ngành buôn bán hữu quan.”

 Yếu tố về giá trong trường hợp này được coi là đáp ứng đủ điều kiện

 Hợp đồng có hiệu lực và người không có quyền hủy

2 Người bán và người mua ký một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với luật áp dụng là

CISG, theo đó người bán có nghĩa vụ giao máy vi tính cho người mua trước 01/01 Người bán

đã chậm giao hàng cho người mua, người mua đã đánh một bức điện cho người bán vào ngày 02/01 với nội dung:” Chúng tôi đang rất mong nhận được lô máy tính từ quý ngài Chúng tôi

hy vọng rằng lô hàng đó sẽ được giao cho chúng tôi trước ngày 01/02” Người bán giao hàng vào ngày 05/02 nhưng người mua từ chối nhận hàng và tuyên bố hủy hợp đồng vì người bán

đã vi phạm việc giao hàng trước ngày 01/02 đã được chi rõ trong bức điện này 02/01 Người mua có thể hủy hợp đồng trong tình huống trên không? Giải thích

Bài làm

Việc có thể hủy hợp đồng hay không sẽ phụ thuộc vào khoảng thời gian được cho là hợp lý

Trường hợp 1: Bên mua cho rằng khoảng thời gian giao chậm là hợp lí

 Không thể xảy ra, vì nếu họ cho rằng là hợp lý thì đã không tuyên bố hủy đơn hàng

Trường hợp 2: Bên mua cho rằng khoảng thời gian giao chậm là hợp lí

Trong trường hợp này xét căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 49 có quy định như sau:

“2 Tuy nhiên trong trường hợp nếu người bán đã giao hàng thì người mua sẽ mất quyền hủy hợp đồng nếu người mua đã không tuyên bố hủy hợp đồng

a Khi người mua giao hàng chậm trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã biết rằng việc giao hàng đã được thực hiện ”

Như vậy, nếu căn cứ vào tình hình thực tế về thời gian và khoảng cách mà bên mua cho rằng khoảng thời gian đó là không hợp lí thì vẫn có quyền hủy hơp đồng

NOTE : Điểm b khoản 2 điều 49 là đối với vi phạm khác không phải trường hợp giao hàng muộn => k áp dụng được trong trường hợp này

3 Cuối năm 2012 một DN ở Hà Nội  nhập  lô hàng thức ăn chăn nuôi trị giá 1.400.000 USD,

từ một Cty  ở Singapore theo điều kiện CFR-Incoterms 2010,  cảng TP HCM và Hải Phòng Người bán đã mua hàng này của nhà sản xuất ở Ấn Độ Hai bên đã nhanh chóng giao kết hợp đồng mua bán Trong các điều khoản về vận tải, không có điều nào đề cập về tình trạng pháp

lý của con tàu cũng như chủ tàu Theo điều kiện CFR, người bán  đã thuê tàu PLJ của chủ tàu

Trang 3

BJS ở Hong Kong chở lô hàng về VN Sau khi tàu PLJ rời cảng xếp hàng, người bán nhanh chóng chuyển vận đơn cùng bộ chứng từ cho người mua và nhận đủ tiền hàng theo phương thức thanh toán bằng L/C Nhưng 4 ngày trước khi tàu PLJ cập cảng VN, khi đang đi qua eo biển Malaysia, tàu bị cảnh sát Malaysia bắt giữ vì có bằng chứng đây là con tàu của một chủ tàu Indonesia bị hải tặc cưỡng đoạt 4 năm trước

Bên bán hay bên mua phải chịu trách nhiệm trong trường hợp này, biết rằng loại trừ trách nhiệm của bên vận tải và bên bảo hiểm?

Bài làm

Trong trường hợp này, bên mua sẽ phải chịu trách nhiệm cho rủi ro khi vận chuyển hàng hóa,vì:

Căn cứ theo quy định B5 dẫn chiếu tới A4 trong CFR có quy định như sau :

B5 “Người mua chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hỏỉi£ của hàng hóa kể từ khi hàng hóa đã

được giao theo mục A4, Neu người mua không thòng báo như quy dịnh tại mục B7, người mua phải chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hởng của hàng hóa kế từ ngày giao hàng thỏa thuận hoặc kế từ n«ày cuối cùng của thời hạn giao hàng thoa thuận, với điều kiện hàng đã được phân biệt rồ ràng là hàng của họp đồng ”

A4 “Người bán phải giao hàng bằng cách, hoặc đặt hàng lên tàu hoặc mua hàng đà giao như

vậy Trong cà hai trường hợp, người bán phải giao hàng vào ngày hoặc trong khoảng thời gian

đã thỏa thuận, theo cách thức thông thường tại cảng.”

Như vậy, có thể hiểu rằng rủi ro vầ mất mát hay hư hỏng của hàng hóa di chuyển khi hàng được giao lên tàu Tức là khi sử dụng phương thức giao CFR, người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi người bán giao cho người chuyên chở theo cách thức được quy định cụ thể trong mỗi điều kiện, chứ không phải khi hàng tới nơi

 Với điều kiện này, thì người bán không có nghĩa vụ gì với người mua về việc ký kết hợp đồng bảo hiểm, vậy nên nếu cần người mua nên tự mua bảo hiểm cho hàng hóa để tránh rủi ro

4 Ngày 24/9/2016 người mua Công ty X (có trụ sở tại Kharkov, Ucraina) và người bán Công

ty Y (có trụ sở tại Hà Nội, Việt Nam) đã cùng ký một hợp đồng tại Hà Nội, theo đó Bên bán

sẽ phải cung cấp cho Bên mua 30.000 MT gạo loại 15%, 25% tấm theo điều kiện CIF cảng Odessa Ucraina, Incoterms 2010, thời gian giao hàng từ 1/10/2016 đến 31/12/2016 được thanh toán bằng L/C không hủy ngang Hai bên thỏa thuận hàng sẽ giao làm hai đợt, đợt 1 giao gạo 15% tấm vào thời gian từ 1/10/2016 đến 1/11/2016, đợt 2 giao gạo 25% tấm vào thời gian từ 2/11/2016 đến 31/12/2016 Ngày 15/10/2016 Bên bán đã giao toàn bộ số hàng đợt 1 lên tàu nhưng tới ngày 31/01/2017 Bên mua mới nhận được hàng (hàng đến cảng dỡ hàng)

Trang 4

Bên mua cho rằng Bên bán đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng với lập luận rằng việc cho tới ngày 31/01//2017 hàng đợt 1 mới tới cảng đến thỏa thuận trong hợp đồng chậm so với quy định thời hạn giao hàng chậm nhất đến ngày 01/11/2017 Bên mua khởi kiện Bên bán ra Trung tâm trọng tài quốc tế HONG KONG với địa điểm trọng tài tại Việt Nam

a) Bên bán có vi phạm nghĩa vụ giao hàng đúng thời hạn không? Giải thích tại sao?

b) Giả sử Trọng tài xử bên mua thắng, Phán Quyết có cần được công nhận và cho thi hành ở Việt Nam không?

Bài làm

a)

Bên bán không vi phạm nghĩa vụ giao hàng đúng hạn, vì:

- Theo A4, CIF, Incoterms 2010: “ Người bán phải giao hàng bằng cách, hoặc đặt hàng lên tàu hoặc mua hàng đã giao như vậy Trong cả hai trường hợp, người bán phải giao hàng vào ngày hoặc trong khoảng thời gian đã thoả thuận, theo cách thông thường tại cảng” Thời gian giao hàng đợt 1 được thoả thuận là từ ngày 1/10/2016 đến ngày 1/11/2016, thời gian giao hàng của bên bán là ngày 15/10/2016, nằm trong khoảng thời gian đã thoả thuận nên đã chấp hành đúng nghĩa vụ của bên bán theo Incoterms

Khi áp dụng phương thức giao hàng CIF thì người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi người bán giao hàng cho người chuyên chở theo cách thức được quy định cụ thể trong mỗi điều kiện, chứ không phải khi hàng tới nơi đên CIF bản chất là sự phân chia trách nhiệm và rủi ro giữa người mua và người bán trong TMQT Người bán chịu phí vận chuyển bao gồm phí thuê tàu, bảo hiểm khi đến cảng dỡ hàng, người mua sẽ phải chịu chi phí liên quan cũng như rủi ro từ lúc hàng hoá được lên tàu tại cảng đi

 Bên bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của mình vào ngày 15/10/2016 còn hàng đến vào ngày 31/01/2017 hàng mới tới là do lỗi của bên vận chuyển mà lúc này đã thuộc nghĩa vụ của bên mua

b)

Trong trường hợp bên mua khởi kiện Bên bán ra Trung tâm trọng tài quốc tế HONG KONG với địa điểm trọng tài tại Việt Nam mà giả sử rằng Trọng tài xử bên mua thắng, Phán Quyết cần được công nhận và cho thi hành ở Việt Nam:

Xcăn cứ theo điều 424 BLTTDS 2014 có quy định về phán quyết của trọng tài nước ngoài có thể được áp dụng tại Việt Nam như sau:

“1 Phán quyết của Trọng tài nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:

Trang 5

a) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;

b) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại

2 Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành

3 Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định của Luật trọng tài thương mại của Việt Nam.”

Như vậy, nếu thuộc vào các trường hơp nêu trên thì hoàn toàn đủ căn cứ để có thể áp dụng thi hành ở Việt Nam Hơn nữa, một trong ngành hàng xuất khẩu chủ đạo ở Việt Nam là gạo, chính vì thế đây cũng có thể trở thành án lệ được áp dụng trong các vụ tranh chấp sau này

Ngày đăng: 11/05/2023, 14:27

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w