1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo Cáo Thuyết Trình Dự Án Asean – Một Tầm Nhìn, Một Bản Sắc, Một Cộng Đồng.docx

14 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề ASEAN – Một Tầm Nhìn, Một Bản Sắc, Một Cộng Đồng
Tác giả Nhóm Thực Hiện: Nhóm Dự Án 1 Trường: THPT Đức Thọ
Trường học Trường THPT Đức Thọ
Chuyên ngành Giáo dục công dân
Thể loại Báo cáo dự án
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Tĩnh
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 394,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phụ lục 1 Phiếu khảo sát học sinh trước dự án SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH TRƯỜNG THPT ĐỨC THỌ  BÁO CÁO DỰ ÁN ASEAN ONE VISION, ONE IDENTITY, ONE COMMUNITY NHÓM THỰC HIỆN NHÓM DỰ ÁN 1 TRƯỜNG TH[.]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH

TRƯỜNG THPT ĐỨC THỌ

- -BÁO CÁO DỰ ÁN

ASEAN - ONE VISION, ONE IDENTITY, ONE COMMUNITY

NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM DỰ ÁN 1 TRƯỜNG: THPT ĐỨC THỌ

Hà Tĩnh, tháng 04/2016

"ASEAN – MỘT TẦM

NHÌN, MỘT BẢN SẮC,

MỘT CỘNG ĐỒNG"

Trang 2

NỘI DUNG DỰ ÁN

A TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG ASEAN

Khẩu hiệu

“Một tầm nhìn, một bản sắc, một cộng đồng” Vị trí trên bản đồ thế giới

 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations, viết tắt là ASEAN) là tổ chức liên chính phủ được thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng-cốc, Thái Lan trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc với 5 thành viên ban đầu, với mục tiêu tăng cường hợp tác chính trị, an ninh, kinh tế và

Dân số: Khoảng 601 triệu người (năm 2010)

Trang 3

văn hoá - xã hội giữa các nước thành viên, tạo điều kiện hội nhập sâu hơn với khu vực và thế giới

Hiện nay ASEAN có 10 thành viên là:

- Cộng hòa Indonesia

- Liên bang Malaysia

- Cộng hòa Philippines

- Cộng hòa Singapore

- Vương quốc Thái Lan

- Vương quốc Brunei

- Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

- Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

- Liên bang Myanmar

- Vương quốc Campuchia (Cambodia)

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ra đời vào nửa sau những năm 60 của thế kỷ XX- là 1 liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Tiền thân của ASEAN là tổ chức có tên Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) được thành lập năm 1961 gồm ba nước Philippines, Malaysia và Thái Lan Ngày 8 tháng 8 năm 1967, khi các bộ trưởng ngoại giao của năm quốc gia – Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và Thái Lan – gặp gỡ tại Bộ ngoại giao Thái Lan ở Bangkok đã ra Tuyên bố ASEAN, thường được gọi là Tuyên bố Bangkok để nhập ASA cùng với Indonesia và Singapore thành ASEAN

Ngày 22/11/2015, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 27 ở  thủ đô Kuala Lumpur (Malaysia), lãnh đạo 10 quốc gia thành viên ASEAN đã ký văn

Trang 4

kiện lịch sử Tuyên bố hình thành Cộng đồng ASEAN 2015 Ngày 31/12/2015, Cộng đồng ASEAN (ASEAN COMMUNITY) của 625 triệu dân chính thức ra đời

Mục tiêu tổng quát của Cộng đồng ASEAN là xây dựng Hiệp hội thành một tổ chức hợp tác liên Chính phủ liên kết sâu rộng hơn và ràng buộc hơn trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; nhưng không phải là một tổ chức siêu quốc gia và không khép kín mà vẫn mở rộng hợp tác với bên ngoài

Cộng đồng ASEAN sẽ được hình thành dựa trên 3 trụ cột là Cộng đồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội Quan

hệ đối ngoại của ASEAN cũng như mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN (nhất là IAI) được lồng ghép vào nội dung của từng trụ cột Cộng đồng ASEAN

B SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN

I Sự ra đời

1 Nền tảng liên kết khu vực ở Đông Nam Á:

Sau chiến tranh thế giới II, các nước Đông Nam Á đều có sự phân hóa về mặt chính trị nhất định Bên cạnh những ảnh hưởng của hệ thống lưỡng cực thế giới lúc bấy giờ kèm theo sức ép từ các cường quốc ngoài khu vực thì trong hệ tư tưởng của Đông Nam Á lúc đó, chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa thực dân đều là nỗi lo cho toàn khu vực

Bởi lẽ, sau chiến tranh thế giới II, những gì còn lại với các quốc gia này

là tàn tích của hệ thống cơ sở vật chất cũng như tinh thần gần như đã biến mất Điều này khiến cho các quốc gia Đông Nam Á đều e dè trước những động thái của hệ thống lưỡng cực bên ngoài Trước những khó khăn đó thì nhu cầu liên kết khu vực, thành lập nên một tổ chức thống nhất giữa các nước Đông Nam

Á ngày càng được xem xét một cách chuẩn mực hơn

Tình hình các quốc gia Đông Nam Á sau khi Chiến tranh thế giới II kết thúc:

- Kết thúc chiến tranh thế giới II, Đông Nam Á nổi lên như một thực thể khu vực đáng chú ý Điều này khiến cho chủ nghĩa thực dân vô cùng bức bối Chúng quay lại đàn áp, dập tắt ý nghĩ liên khu vực ở Đông Nam Á bằng các hình thức chiến tranh “mãnh liệt” hơn Điều này tạo nên một làn sóng đấu tranh quyết liệt hơn từ trong nội tại các nước Đông Nam Á sau năm 1945

- Đến giữa những năm 50 của thế kỷ XIX, các quốc gia Đông Nam Á lần lượt tuyên bố độc lập Philippines (4/7/1946), Miến Điện (4/1/1948), Indonesia (27/12/1949), Malaysia (31/8/1957), Singapore (1963), riêng Bruney mãi đến năm 1984 mới giành được độc lập Từ đó, các nước này bắt

Trang 5

đầu bước vào một thời kỳ phát triển mới: xây dựng đất nước, phát triển kinh

tế, đồng thời trong quá trình xây dựng, thiết lập nên mối quan hệ với các nước trong khu vực nhằm đẩy mạnh vị thế của quốc gia Do quá trình giành độc lập diễn ra khác nhau, nên các quốc gia này xây dựng con đường phát triển của mình theo hướng tương đối khác nhau Tuy nhiên, nội dung chính của công cuộc phát triển trong thời kỳ này diễn ra đan xen với sự phát triển của Đông Nam Á

- Kết thúc chiến tranh thế giới II, Đông Nam Á phải đối mặt với hậu quả nặng nề của chế độ thực dân Bộ máy nhà nước được xây dựng theo mô hình Phương Tây bị bỏ ngõ Cộng thêm việc trải qua hàng nghìn năm bị thống trị nên mối quan hệ giữa các quốc gia Đông Nam Á gần như tắt nghẽn Từ đó, nhiều quốc gia dân tộc cảm thấy “không điểm tựa” dần hình thành xu hướng nhắm đến tình trạng độc lập về chính trị, tự cường, không liên kết

- Thêm vào đó, các quốc gia Đông Nam Á lại chịu sự ảnh hưởng sâu sắc

từ hệ thống lưỡng cực của thế giới kể từ sau Chiến tranh Lạnh, bị các cường quốc ngoài khu vực tác động mạnh mẽ đến hệ tư tưởng khiến cho các quốc gia này hình thành nên những con đường phát triển có phần đối lập nhau Malaysia, Indonesia, Myanmar sau khi giành được độc lập đã tiến tới xây dựng đường lối đối ngoại độc lập tự chủ không liên kết Riêng Philippines và Thái Lan có xu hướng thân Mỹ Việt Nam, Lào, Campuchia có xu hướng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Như vậy, thực chất trong nội bộ của các quốc gia Đông Nam Á đã có sự phân hóa về mặt chính trị, kể từ sau chiến tranh thế giới II, điều làm tác động đến các yếu tố khác giữa các quốc gia với nhau về sau này

* Các tổ chức tiền thân:

- ECAFE (Ủy ban châu Á và Viễn Đông)

- Kế hoạch Colombo (Colombo Plan)

- SEATO - “Tổ chức hiệp ước Đông Nam Á” (Southest Asia Treaty Organization)

- Dự án phát triển tiểu vùng sông Mekong

- Hiệp ước hữu nghị và hợp tác kinh tế ở Đông Nam Á (Southeast Asia Friendship and Economy Treaty – SEAFET)

- Hiệp hội Đông Nam Á (Association of Southeast Asia – ASA)

- MAPHILINDO

Như vậy, do không phù hợp với xu thế mà các tổ chức tiền thân trên đã không thành công cho tới khi ASEAN được thành lập Đó là xu thế “hướng

Trang 6

tâm” với yêu cầu về một tổ chức khu vực rộng lớn hơn để cùng hợp tác, đối thoại và giải quyết những vấn đề nêu trên

2 Hoàn cảnh ra đời

Trong bối cảnh phát triển phức tạp của quan hệ quốc tế vào những năm 60-70 của thế kỷ trước, chủ nghĩa khu vực đã hình thành và nhanh chóng phát

triển Trong thời kỳ hòa hoãn của Chiến tranh Lạnh (1962-1978), nhiều tổ chức khu vực đã xuất hiện như Liên đoàn Ả Rập (1950), Tổ chức các nước Trung Mỹ OCAS (1951), Cộng đồng kinh tế châu Âu EEC(1957), Tổ chức thống nhất Châu Phi – OAU (1963) Ở khu vực Đông Nam Á (ĐNA) cũng xuất hiện Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) vào năm 1961 bao gồm Malaysia, Philippine, Thái Lan, Nam Việt Nam, rồi Maphilindo (1963) với Malaysia, Philippine, Indonesia, nhưng các tổ chức này đều không tồn tại lâu dài

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 phản ánh nguyện vọng của 5 nước Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia, Singapore, Thailand và Philippines) với mong muốn hình thành một

tổ chức khu vực vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển Mặt khác, đây cũng chính là kết quả của thời kỳ Chiến tranh Lạnh Khi trật tự hai cực được hình thành, cả Liên Xô và Mỹ đều muốn ảnh hưởng của mình ở khu vực ĐNA hiện diện một cách mạnh mẽ Khu vực này trở thành khu vực hết sức nhạy cảm bởi sự can thiệp từ bên ngoài, sự lôi kéo của các nước lớn vì lợi ích và an ninh của họ và cuộc đấu tranh giữa các tư tưởng dân tộc chủ nghĩa Mỗi quốc gia đều muốn tạo một khoảng cách an toàn cho mình để không bị kéo sâu vào cuộc chiến tranh hai cực cũng như tránh không để cho phong trào giải phóng dân tộc bùng lên mạnh mẽ ở khu vực này thành các cuộc nội chiến

Trang 7

ASEAN ra đời như là một xu thế chung – xu thế tất yếu khu vực hóa của thời đại Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các quốc gia ở ĐNA dần nhận thấy sự khác biệt về ý thức hệ và về chế độ chính trị không còn là yếu tố gây trở ngại cho tiến trình xây dựng một tổ chức khu vực nữa Kết thúc chiến tranh Đông Dương lần 3 (chiến tranh Campuchia), tổ chức này bắt tay thực hiện chương trình hợp tác kinh tế, nhưng gặp phải khó khăn vào giữa thập niên 80 để rồi được hồi sinh vào đầu thập niên 90 với lời đề nghị của Thái Lan

về một “ khu vực thương mại tự do” Năm 1984 Brunei gia nhập ASEAN, tiếp theo là Việt Nam vào năm 1995, Lào và Myanmar năm 1997, và Campuchia năm 1999 Với chặng đường gần 45 năm xây dựng và phát triển, ASEAN từ Hiệp hội của các nước nghèo, chậm phát triển đã vươn lên thành khu vực phát triển kinh tế năng động với dân số gần 600 triệu người, diện tích 4,5 triệu km2, quy mô GDP đạt gần 900 tỷ và tổng giá trị thương mại khoảng 800 tỷ USD

Mục đích thành lập: Thành lập một tổ chức khu vực nhằm thúc đẩy sự

liên minh giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội giống nhau, có lợi ích lâu dài và cơ bản trùng hợp nhau để đối phó với các phong trào chống đối trong nước và những tác động tiêu cực từ bên ngoài, bảo đảm an ninh chính trị làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế

Ý nghĩa sự ra đời của ASEAN:

ASEAN đã giải quyết được các vấn đề chung liên quan đến lợi ích lâu dài

và cơ bản giữa các nước Đông Nam Á:

- Tình hình quốc tế phức tạp: ảnh hưởng của Chiến tranh lạnh, trật tự thế giới hai cực, các nước đứng trước việc chịu ảnh hưởng của các nước lớn; từ

đó đòi hỏi đường lối chính trị khu vực cụ thể

- Tăng cường giúp đỡ nhau với nguy cơ thống trị và can thiệp từ các thế lực bên ngoài Thể hiện “một triết lý chính trị vượt ra ngoài hệ thống lưỡng cực thế giới”

- Tranh chấp, xung đột trong khu vực (hậu quả để lại của CN thực dân)

“Những quyền lợi quốc gia đối chọi nhau thực sự làm chậm trễ sự tiến bộ của mỗi nước”

- Nhu cầu khôi phục và phát triển đất nước và khu vực: kinh tế, xã hội, văn hóa, hòa bình Chung một chính sách kinh tế đối ngoại sẽ có thể ngăn chặn chính sách độc quyền của các nước tư bản phương Tây

- Thành công trong chuyển biến từ chủ nghĩa quốc gia sang chủ nghĩa khu vực, điều mà các tổ chức khu vực trước đó chưa làm được

- Mở rộng hiểu biết của người Đông Nam Á về khu vực của mình

- Thúc đẩy việc nghiên cứu về Đông Nam Á

Trang 8

II Quá trình phát triển

1 Hoạt động của ASEAN trải qua các giai đoạn phát triển chính:

- Từ 1967 – 1975 ASEAN còn là một tổ chức khu vực non yếu, chương trình hợp tác giữa các nước thành viên còn rời rạc

- Tháng 2 – 1976, các nước ASEAN đã kí “Hiệp ước hữu nghị và hợp tác” (tại hội nghị cấp cao ở Bali, Indonexia) nêu rõ mục tiêu xây dựng mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các nước trong khu vực tạo nên một cộng đồng Đông Nam á hùng mạnh trên cơ sở tự cường khu vực, thiết lập một khu vực hòa bình, tự do, trung lập ở Đông Nam á ASEAN trở thành một tổ chức chính trị - kinh tế của khu vực Đông Nam á

- Năm 1979 ASEAN có quan hệ đối đầu với 3 nước Đông Dương (chủ yếu xoay quanh vấn đề Campuchia) Đến cuối thập niên 80 ASEAN đã chuyển sang đối thoại, hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình với 3 nước Đông Dương Sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết, ASEAN và 3 nước Đông Dương phát triển mối quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học…

- Ngày 8/1/1984 Brunei gia nhập ASEAN

- Năm 1995 Việt Nam gia nhập ASEAN, sau đó là gia nhập của các nước Lào, Mianma (1997), Campuchia (1999), ASEAN gồm 10 nước

- Ngày 31/12/2015: Cộng đồng ASEAN chính thức ra đời

2 Những cột mốc phát triển quan trọng

- Ngày 8/8/1967: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc với mục tiêu là tăng cường hợp tác kinh tế, văn hoá-xã hội giữa các nước thành viên, tạo điều kiện cho các nước hội nhập sâu hơn với khu vực và thế giới

- Năm 1971: ASEAN ra Tuyên bố về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN), nhấn mạnh quyết tâm của các nước ASEAN trong việc đảm bảo việc công nhận và tôn trọng Đông Nam Á là một khu vực hòa bình, tự do

và trung lập, không có sự can thiệp dưới bất kỳ hình thức và phương cách nào của các nước ngoài khu vực Theo đó, các quốc gia Đông Nam Á cũng cam kết phối hợp nỗ lực mở rộng các lĩnh vực hợp tác để góp phần tăng cường sức mạnh, tình đoàn kết và mối quan hệ gắn bó hơn nữa

- Năm 1976: Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á ( TAC) và Tuyên bố về sự Hòa hợp ASEAN.  Mong muốn thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực thông qua việc tôn trọng công lý và luật pháp và nâng cao khả năng

tự cường khu vực của các nước ASEAN tiếp tục được thể hiện trong Hiệp ước

về Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), được các Nhà lãnh đạo ký

Trang 9

thông qua ngày 24/2/1976 tại Bali, In-đô-nê-xia nhân dịp Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ nhất Hiệp ước gồm 5 chương, 20 điều, nêu mục đích, nguyên tắc, cam kết của các quốc gia thành viên duy trì quan hệ thân thiện, hợp tác và giải quyết hòa bình các tranh chấp Hiệp định đã đặt nền móng cho việc xây dựng chuẩn mực ứng xử giữa các quốc gia ở khu vực nhằm thúc đẩy nền hòa bình vĩnh viễn, sự thân thiện và hợp tác giữa nhân dân các quốc gia tham gia Hiệp ước.Cùng với quá trình ASEAN mở rộng quan hệ đối ngoại của ASEAN, các Đối tác của ASEAN đã lần lượt tham gia vào Hiệp ước TAC Do

đó, Hiệp ước đã được sửa đổi 3 lần: lần thứ nhất vào ngày 15/12/1987 bằng nghị định thư mở rộng văn kiện cho các quốc gia ngoài Đông Nam Á tham gia vào TAC; lần thứ hai vào ngày 25/7/1998 với nghị định thư quy định sự đồng thuận cần thiết của tất cả các quốc gia thành viên ASEAN để các quốc gia ngoài ASEAN có thể tham gia TAC; và lần thứ ba vào ngày 23/7/2010 bằng nghị định thư cho phép các tổ chức quốc tế/khu vực, trong đó có EU, tham gia TAC Cùng với việc ký kết TAC, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ nhất, các nước ASEAN cũng ra Tuyên bố về sự Hòa hợp ASEAN (Tuyên bố Bali), khẳng định các nỗ lực thúc đẩy hòa bình, tiến bộ, phồn vinh và phúc lợi của nhân dân các nước thành viên và cam kết mở rộng hợp tác ASEAN trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị. 

- Năm 1992: Hiệp định Khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và thỏa thuận về Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA): Trong quá trình hội nhập và phát triển của Hiệp hội, hợp tác kinh tế luôn là một trụ cột quan trọng,

mở đầu với việc ký kết “Hiệp định Khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN” vào dịp Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ tư, tổ chức tại

Xinh-ga-po từ ngày 27-28/1/1992 Hiệp định đã tạo khuôn khổ căn bản cho hợp tác ASEAN trên sáu lĩnh vực, bao gồm: thương mại và công nghiệp; khoáng sản

và năng lượng; tài chính và ngân hàng; lương thực, nông và lâm nghiệp; giao thông vận tải và bưu chính - viễn thông Nhân dịp này, 5 nước thành viên ban đầu của ASEAN cũng ký thỏa thuận về lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN(AFTA), đặt nền tảng quan trọng cho mở rộng hợp tác kinh tế-thương mại và xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sau này

- Năm 1994: Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) được thành lập: Hợp tác

về chính trị-an ninh trong ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác cũng ngày càng được củng cố và phát triển Một trong những kết quả tiêu biểu của quá trình này là Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) được khởi xướng và đi vào hoạt động từ tháng 7/1994, với sự tham gia của 18 nước trong và ngoài khu vực (bao gồm 6 nước thành viên ASEAN, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nga,

Trang 10

Canađa, Liên minh châu Âu, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Việt Nam, Lào, Hàn Quốc

và Papua Niu Ghinê) Đến nay ARF đã trở thành một diễn đàn an ninh thường niên và là một cơ chế quan trọng cho hợp tác chính trị-an ninh ở Đông Á, với

27 thành viên, gồm toàn bộ 10 Quốc gia Thành viên ASEAN, 10 bên đối thoại của ASEAN (Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ,  Hàn Quốc, Ô-xtrây-lia, Niu Di-lân, Ca-na-đa, Liên minh Châu Âu) và các nước Papua Niu Ghi-nê, Mông Cổ, Bắc Triều Tiên, Pa-kix-tan, Băng-la-đét, Xri-lan-ka, Timo-Létxtê

- Năm 1995 ký kết Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không vũ khí hạt nhân (SEANWFZ): Một trong những thành tố cơ bản của Tuyên bố Cua-la Lăm-pơ năm 1971 là ý tưởng thiết lập khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân Tuy nhiên, do những khó khăn nội bộ của các nước thành viên cũng như bối cảnh chính trị của khu vực, đề xuất chính thức của ý tưởng này chỉ được đưa ra vào giữa những năm 1980 Sau 10 năm đàm phán, Hiệp ước về Khu vực Đông Nam Á không có Vũ khí Hạt nhân được chính thức ký tại Băng-cốc ngày 15/12/1995, nhân dịp Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ năm Theo đó, các bên tham gia Hiệp ước không được phát triển, sản xuất, tìm cách

sở hữu, kiểm soát hoặc lắp đặt vũ khí hạt nhân; không cung cấp nguồn hoặc các vật liệu hoặc thiết bị hạt nhân cho các quốc gia không có vũ khí hạt nhân Hiệp định được đi kèm một Nghị thư mở ngỏ cho sự tham gia của các nước sở hữu vũ khí hạt nhân, bao gồm Trung Quốc, Pháp, Nga, Anh và Hoa Kỳ Hiện nay các nước ASEAN đang tiến hành tham vấn, thúc đẩy 5 quốc gia này tham gia vào Nghị định thư

- Tháng 12/1997 ASEAN đã thông qua Tầm nhìn ASEAN 2020:  nhân

kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Hiệp hội, Hội nghị cấp cao ASEAN không chính thức lần II (Kua-la Lăm-pơ, Ma-lai-xi-a, tháng 12/1997) đã thông qua văn kiện quan trọng Tầm nhìn ASEAN 2020, nêu định hướng phát triển lớn của ASEAN trong những thập kỷ đầu thế kỷ 21, hướng tới mục tiêu xây dựng một tập hợp hài hòa các dân tộc ở Đông Nam Á, sống trong hòa bình, ổn định

và thịnh vượng, gắn kết chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ đối tác năng động và một cộng đồng của các xã hội đùm bọc lẫn nhau Theo đó, Tầm nhìn ASEAN 2020 cũng nêu những mục tiêu cụ thể trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế, xã hội, văn hoá và quan hệ đối ngoại Đây là văn bản có ý nghĩa đối với quá trình phát triển của Hiệp hội, đặt nền tảng cho việc hình thành và thực hiện các mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN

- Năm 2002: ASEAN và Trung Quốc ký Tuyên bố về ứng xử của các bên

ở Biển Đông (DOC) : Trước những căng thẳng do tranh chấp trên biển Đông giữa một số nước thành viên ASEAN và Trung Quốc, Ngoại trưởng 10 nước

Ngày đăng: 11/05/2023, 11:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w