ĐỀ CƯƠNG ÔN THI CÔNG CHỨC CẤP XÃ Câu hỏi 1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Công an xã? Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Công an xã Trưởng Công an xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn c[.]
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN THI CÔNG CHỨC CẤP XÃ
Câu hỏi 1: Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Công an xã?
Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng Công an xã: Trưởng Công an xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Công an xã quy định tại Điều 11 của Luật Công an xã; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Uỷ ban nhân dân cùng cấp và Công an cấp trên về hoạt động của Công an xã
Câu hỏi 2: Nhiệm vụ của công chức tư pháp hộ tịch?
Nhiệm vụ của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã là tham mưu, giúp UBND phường thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực tư pháp - hộ tịch trên địa bàn theo quy định của pháp luật và trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý tủ sách pháp luật, tổ chức phục vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật và tổ chức lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn cấp xã trong việc tham gia xây dựng pháp luật;
- Kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân
và UBND phường báo cáo cơ quan có thẩm quyền theo quy định; tham gia công tác thi hành án dân sự trên địa bàn phường;
- Thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp, hộ tịch, chứng thực theo quy định của pháp luật; phối hợp với công chức văn hóa - xã hội hướng dẫn xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và công tác giáo dục tại địa bàn phường;
- Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở Ngoài ra, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã là cán bộ đầu mối kiểm soát thủ tục hành chính của UBND cấp xã, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do chủ tịch UBND cấp xã giao
Câu hỏi 3: Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã phải có các tiêu chuẩn như thế nào?
- Có trình độ từ trung cấp luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ
hộ tịch;
- Có chữ viết rõ ràng và trình độ tin học phù hợp theo yêu cầu công việc
- Căn cứ điều kiện thực tế về diện tích, dân số, khối lượng công việc tư pháp, hộ tịch của địa phương, Chính phủ quy định việc bố trí công chức
tư pháp - hộ tịch đảm nhiệm công tác hộ tịch chuyên trách
Câu hỏi 4: Công chức làm công tác hộ tịch tại Phòng Tư pháp phải có trình độ như thế nào? cử nhân luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch
Trang 2Câu hỏi 5: Tiêu chuẩn bổ nhiệm chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự xã gồm?
- Trong diện quy hoạch chức danh Chỉ huy trưởng; có bằng tốt nghiệp trình
độ trung cấp chuyên nghiệp ngành quân sự cơ sở trở lên
- Có năng lực tham mưu cho cấp ủy, Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác quốc phòng, công tác dân quân tự vệ, giáo dục quốc phòng - an ninh và phòng thủ dân sự; xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn cấp xã;
- Tham mưu có hiệu quả cho cấp ủy, chính quyền cấp xã trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chế độ, chính sách đối với lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, chính sách hậu phương quân đội;
- Xây dựng và tổ chức thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ công tác quốc phòng, quân sự ở cấp xã
Câu hỏi 6: Công tác thống kê cấp xã chịu sự quản lý, chỉ đạo của cấp nào? Cán
bộ, công chức xã làm công tác thống kê có trách nhiệm gì?
Câu hỏi 7: Người làm công tác thống kê quy định trong Luật thống kê gồm những ai? Người làm công tác thống kê phải có các tiêu chuẩn gì?
Câu hỏi 8: Hãy cho biết yêu cầu đối với kế toán ngân sách và tài chính xã? Câu hỏi 9: Nội dung công việc kế toán ngân sách và tài chính xã?
Câu hỏi 10: Nhiệm vụ của công chức Văn hóa - Xã hội theo quy định tại Thông
tư số 06/2012/TT-BNV, ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ?
Bài làm
Câu6: Phân tích ưu và nhược điểm của công cụ chính sách và pháp luật trong quản lý tài nguyên và môi trường Để thực hiện hiệu quả công cụ này cần có những giải pháp nào?
Trả lời:
❖ Ưu điểm :
-Đáp ứng các mục tiêu của pháp luật và chính sách của quốc gia về quản lý tài nguyên và môi trường
Trang 3Nhà nước sử dụng các công cụ, chính sách pháp luật để quản lý tài nguyên và môi trường một cách hiệu quả hơn, thuận tiện hơn và quản lý tốt hơn
-Đưa công tác quản lý tài nguyên và môi trường vào nề nếp và quy củ
Khi có các công cụ và chính sách ,pháp luật thì công tác quản lý tài nguyên và môi trường được đưa vào nề nếp và quy củ hơn, thường thì bản năng của con người có tính tự giác chưa cao nên cần phải có một công cụ nào đó để răn đe, đưa công tác quản lý vào quy củ,nề nếp
-Dễ dàng quyết định các tranh chấp,khiếu kiện bằng văn bản pháp luật
Công cụ pháp lý là tiền đề kiên quyết để giải quyết các tranh chấp trong quản lý tài nguyên và môi trường một cách dễ dàng hơn.Đó là nền tảng để hai bên tranh chấp cần xem xét lại một cách cụ thể, khi có các văn bản pháp luật thì phải tuyên truyền cho mọi người hiểu rõ về pháp luật và tránh xảy ra các tình trạng
vi phạm pháp luật không đáng có
-Mỗi thành viên trong xã hội thấy rõ nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong công tác quản lý tài nguyên và môi trường
Các văn bản pháp luật giúp cho các thành viên trong xã hội được biết và hiểu rõ
về công tác quản lý tài nguyên môi trường, giúp cho mọi người nhận thức được việc gì mình nên làm và việc gì mình không nên làm, tránh xảy ra các trường hợp vi phạm pháp luật mà không hay biết Để các cá nhân, tổ chức không lợi dụng các kẽ hở pháp luật trong công tác bảo vệ tài nguyên môi trường
-Giúp các nhà chuyên môn có thể dự đoán được nguồn tài nguyên và môi trường và chất lượng môi trường được duy trì và phát triển
Công cụ pháp lý giúp cho các nhà chuyên môn biết được tình hình môi
trường,tài nguyên ở các khu vực nó diễn ra như thế nào? để có sự đầu tư và quy hoạch một cách hợp lý tránh tình trạng làm suy thoái đến tài nguyên và môi trường Khi biết được tình hình chất lượng môi trường tốt hay xấu thì giúp chocác nhà chuyên môn có thể dễ dàng dự báo và đưa ra các biện pháp bảo vệ tài nguyên môi trường
❖ Nhược điểm:
-Thiếu tính mềm dẻo linh họat,chưa phát huy tính chủ động sáng tạo trong quản lý dẫn đến một số trường hợp thiếu tính hiệu quả
Trang 4Vì pháp luật có tính răn đe, cứng rắn,thiếu tính mềm dẻo nên thường có một số trường hợp chưa được giải quyết thấu đáo,hợp lý dẫn tới một số trường hợp kiện cáo, khiếu nại gây ra bức xúc cho mọi người
-Thiếu sự khuyến khích về tinh thần,đặc biệt là khuyến khích về vật chất đối với một số đề án,phương án quản lý tài nguyên và môi trường ở cơ sở,thiếu khuyến khích đổi mới và công nghệ để đạt được hiểu quả cao
Vì do nhu cầu vốn xây dựng các dự án cao và không đổi mới công nghệ nên một số dự án chưa được hoàn thiện một cách tối ưu và cần có các chính sách khuyến khích để đạt được kết quả cao và đặc biệt là khuyến khích về vật chất đối với một số đề án khả thi để đạt được kết quả cao.Cần phải khuyến khích các
cơ sở đổi mới về công nghệ để giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tăng năng suất chât lượng sản phẩm
-Chưa nắm bắt kịp thời các thông tin đầy đủ và cập nhật của các ngành công nghiệp có công nghuệ mới và hiện đại để đề ra các tiêu chuẩn ,quy định kịp thời cho hợp lý
Các nhà quản lý,chủ dự án chưa cập nhật thông tin đầy đủ và vi phạm pháp luật, hay họ có thể lợi dụng các kẽ hở pháp luật để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật để tăng năng suất hiệu quả của họ mà làm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên và môi trường Các văn bản thông tư,nghị định mới chưa được phổ biến rộng rãi và cập nhật kịp thời nhanh chóng nên người dân chưa nắm bắt được các thông tư, nghị định đó nên những trường hợp vi phạm diễn ra ngày càng nhiều
-Bộ máy tổ chức quản lý cồng kềnh và ci phí cho công tác quản lý tương đối lớn
Hạn chế cần được khắc phục ở cấp quản lý đó là bộ máy quản lý còn cồng kềnh,thực hiện chưa công bằng,dân chủ,văn minh,cần phải tổ chức bộ máy một cách thông minh và hiểu quả hơn, các cán bộ là người có chức năng cần phải làm việc công bằng,dân chủ.Các cấp quản lý cần phải mở các lớp nâng cao các
kỹ năng nghiệp vụ cho các cán bộ quản lý
❖ Để thực hiện có hiệu quả các công cụ này thì cần phải có những giải pháp sau:
-Luật pháp cần phải đảm bảo chính sách quốc gia được thực thi ,đảm bảo tính công bằng và cơ hội phát triển cho mọi đối tượng
Trang 5-Luật pháp cần mang lại tính hợp pháp về quyền lực cho các cấp thi hành pháp luật
-Luật pháp phải mang những quy tắc rõ ràng cho các nhà đầu tư
-Luật pháp phải rõ ràng và minh bạch
Câu 7: Tại sao ĐTM là vật trang sức của các doang nghiệp? Luật BVMT 2014
đã giúp khắc phục những hạn chế nào của ĐTM?
Trả lời:
❖ Vì ĐTM là: - Có sự sao chép lại giữa các dự án của các doanh nghiệp
- Có sự mua bán
- Được xem là một vé qua cửa của các doanh nghiệp
- Là nơi thể hiện của các doanh nghiệp
Phân tích
1, Có sự sao chép
Các DN có thể sử dụng lại và sao chép lại bản mẫu ĐTM của nhau để có sự trao đổi qua lại giữa các doanh nghiệp, phục vụ đắc lực cho các nhà DN trong công tác quản lí và triển khai hoạt động của dự án
2, Có sự mua bán
DN cần sẽ tìm đến người trực tiếp soạn thảo bản ĐTM để trao đổi, mua bán ĐTM giữa 2 bên và sẽ thỏa thuận hợp lý với nhau Để thuận tiện hơn thì các doanh nghiệp sẽ mua lại bản quyền của họ để từ đó triển khai thực hiện theo
3, Được xem là 1 vé qua cửa
Bất kỳ 1 DN nào muốn thực hiện 1 dự án nào đó thì điều đầu tiên là đều phải trải qua giai đoạn soạn và lập bản báo cáo ĐTM để có thể có những thông tin cần thiết hỗ trợ cho việc thực hiện các dự án được thuận lợi hơn Đồng thời có thể đánh giá và hạn chế được những rủi ro không may
4 Là nơi thể hiện của các DN
Trang 6Các DN khi đã có bản báo cáo ĐTM trong tay thì sẽ thấy an tâm và tự tin thể hiện Các DN tự tin thể hiện khả năng của mình Do có sự coppy giống nhau giữa các dự án của DN, có sự mua bán, thỏa thuận giá cả trên thị trường nên ĐTM chỉ được xem thủ tục cho có của các doanh nghiệp Vì thế ĐTM không đạt hiệu quả cao mà chỉ ở mức tương đối bởi có sự giống nhau và thiếu sự đổi mới, toàn sự cũ kĩ
❖ Luật BVMT 2014 đã khắc phục được những hạn chế của ĐTM cụ thể là:
• Rút 7 nhóm thực hiện ĐTM xuống còn 3 nhóm tránh sự chồng chéo
• Phân biệt được các dự án khác nhau, rút số lượng, có sự phân biệt thẩm quyền
Luật BVMT 2014 có kế thừa những nội dung và cấu trúc cơ bản của Luật
BVMT 2005, khắc phục những hạn chế của những điều khoản còn thiếu tính thực thi, luật hóa những chủ trương chính sách mới về BVMT, mở rộng và cụ thể hóa 1 số nội dung về BVMT xử lí những trùng lặp và mâu thuẫn với các luật khác để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, tạo tiền đề để xây dựng về luật BVMT trong tương lai
Khác với luật 2005 với mục đích hạn chế lạm dụng yêu cầu phải làm báo cáo ĐTM và tính lý thuyết của 1 số ĐTM, Luật BVMT 2014 quy định cỉ có 3 nhóm đối tượng phải lập ĐTM gồm:
1, Các dự án thuộc thẩm quyền quy định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, thủ tướng Chính phủ
2, Các dự án có sử dụng đất của khu bảo tồn TN, vườn quốc gia, khu di tích lịch
sử - văn hóa, khu di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, khu danh lam đã được xếp hạng
3, Các dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường
=)) Luật BVMT 2014 đã đổi mới luật cũ 2005 làm đơn giản hóa nôi dung, trình
tự và tránh được sự chồng chéo ( có sự phân chia trách nhiệm, nhiệm vụ rõ ràng) thu hẹp hơn so với Luật BVMT 2005
Câu 8: phân tích bài học mà nước ta rút ra từ kinh nghiệm QLNN từ các nước
Trang 7• Việc sử dụng các công cụ kinh tế vào QLMT phải được thực hiện từng bước, cẩn trọng
▪ Đối với nước ta
Nước ta là nước đang phát triển do điều kiện luật pháp, chính sách, thể chế chưa hoàn thiện với trình độ dân trí hạn chế,… cho nên việc thực hiện công
cụ kinh tế vào QLMT phải được thực hiện cẩn trọng, từng bước dựa trên
những cân nhắc kỹ lưỡng về kinh tế, kỹ thuật, xã hội, chính trị, sao cho phù hợp
Cái này rút ra từ bài học của các nước Trung Quốc, Malaysia,
VÍ dụ: - ở Trung Quốc: việc áp dụng phí phạt do vi phạm tiêu chuẩn môi
trường được thử nghiệm ở 1 vài thành phố sau đó mới mở rộng thực hiện trong toàn quốc
- ở Malaysia: lúc đầu áp dụng phí thấp sau đó chính phủ điều chỉnh mức phí theo hướng các cơ sở cấp phép gồm 2 phần là lệ phí hành chính nói chung
và phí ô nhiễm theo lượng chất thải gây ô nhiễm sau đó áp dụngthêm biện pháp hành chính là tịch thu giấy phép của sơ sở vi pphamj tiêu chuẩn môi trường cho phép
• Căn cứ để tính mức phí phải đầy đủ, toàn diện dựa trên lượng chất thải
và nồng độ chất thải
Nếu chỉ dựa vào lượng chất thải hoặc nồng độ chất thải thì sẽ tạo kẻ hở cho các đối tượng tìm cách lẩn tránh khoản phí này Bài học của Hàn Quốc cho ta thấy
rõ điều này
Lúc đầu năm 1983 chỉ áp dụng phí đánh vào nguồn gây ô nhiếm chat thải khí và nước thải, mức phí được xác định dựa vào nồng độ chất thải, vị trí thải , thời gian vượt tiêu chuẩn và số lần vi phạm tiêu chuẩn và quy định này bộc lộ nhiều nhược điểm như đối tượng cố ý pha loãng nồng độ chất thải,
Từ năm 1990 đánh phí căn cứ vào lượng thải vượt tiêu chuẩn cho phép và kết hợp với nồng độ chất thải trong công thức tính phí, đống thời tang mức phí cao hơn chi phí vận hành hệ thống xử lý ô nhiễm
• Mức phí phải cao hơn chi phí vận hành hệ thống xử lý ô nhiễm và tính theo lũy tiến
Trang 8Nếu mức phí thấp hơn phí vận hành thì các cơ sở sẽ sẵn sang nộp phí chứ không vận hành hệ thống xử lý ô nhiễm, kết quả là không thể giảm ô nhiễm.Hàn quốc
và nhiều quốc gia như Xingapo, Malaysia, đã phải chịu cảnh này Để giảm thiểu ô nhiễm xác nước đã áp dụng xuất phí theo lũy tiến- tức là càng xả nhiều, nồng độ càng cao thì phí càng cao
• Đây là công cụ hỗ trợ chứ không thay thế cho công cụ khác và sử dụng thêm công cụ trợ cấp hành chính
Được hầu hết các nước sử dụng Tùy theo tính chất của từng vấn đề môi trường cần giải quyết mà các chính phủ lựa chọn điểm cân bằng giữa 2 hệ thống công
cụ này Nếu vấn đề cần giải quyết có tính bất định cao và có thể gây ra chi phí lớn thì sẽ lựa chọn áp dụng các biện pháp mệnh lệnh- hành chính nhiều hơn , còn nếu vấn đề đó tương đối xác định thì sẽ sử dụng công cụ linh hoạt, mềm dẻo hơn ví dụ hư công cụ kinh tế Trong trường hợp cần thiết thì sử dụng cả hai
• Xây dựng hệ thống cưỡng chế môi trường
Để xử lý các vấn đề môi trường đạt hiệu quả cao cần phải xây dựng hệ thống cưỡng chế môi trường, mà mỗi bộ phận cấu thành hệ thống phải có chức năng, nhiệm vụ , quyền hạn ở những phạm vi cụ thể, rõ ràng Nếu các bộ phận cấu thành không được phân cấp rõ ràng thì chắc chắn không tránh khỏi sự chồng chéo, đùn đẩy lẫn nhau, công việc không được giải quyết tốt
Ví dụ như Hoa kỳ phân cấp hệ thống gồm lien bang, bang, chính quyền địa phương mỗi cấp có chức năng, quyền hạn nhiệm vụ cụ thể
• Áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
Từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ , các hành vi vi phạm pháp luật BVMT có những mức độ khác nhau, nặng , nhẹ, nghiêm trọng.Vì vậy cần có những mức xử phạt tương ứng Tùy vào mức độ có mức xử phạt khác nhau tương ứng Việc áp dụn
3 mức xử phat vi phạm môi trường của Hoa Kỳ là xử lý hành chính, xử lý dân s
ự và xử lý hình sự
• Quy định mức độ xử phat vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
Thực tế cho thấy, nếu mức sử phạt quá thấp thì đều làm cho đối tượng vi phạm coi thường luật pháp Các đối tượng không ngại nộp phạt vì mức phạt quá thấp
so với lợi nhuận thu được Các nước sau 1 thời gian áp dụng đều tăng mức xư
Trang 9phạt lên, thậm chí mức phat rất cao Không chỉ phạt tiền còn phạt tù với mức tù
có thể lên tới 20 năm- chung thân
Việt Nam cần học tập mới đảm bảo sự răn đe, phòng ngừa các hành vi vi phạm,
và pháp luật bảo vệ môi trường mới được thực sự nghiêm
Câu 9 : Tại sao công tác QLNN về TN&MT trong thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế?
❖ Tại vì:
- Pháp luật, chính sách về bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập :
+ Hệ thống pháp luật chính sách vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, chồng chéo và mâu thuẫn lẫn nhau;
+ Hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, nhất là các văn bản hướng dẫn thi hành một số nội dung của Luật Bảo vệ môi trường chưa đầy đủ, thiếu cụ thể, vẫn tồn tại nhiều điểm chưa phù hợp với thực tế;
+ Việc ban hành một số văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường đặc biệt là các văn bản hướng dẫn thi hành luật rất chậm trễ , thiếu kịp thời, khiến cho việc triển khai thi hành luật khó khăn hiệu lực thấp
- Hệ thống chế tài xử phạt vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường có nhiều bất hợp lý:
+ Khung xử phạt còn nặng về biện pháp phòng ngừa ,răn đe, chưa coi trọng áp dụng các công cụ kinh tế thị trường;
+ Một số hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường chưa được quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng, thậm chí có nhiều hành vi vi phạm còn chưa có chế tài xử phạt;
+ Xử phạt chưa kịp thời và mức xử phạt thấp; cách thu phí môi trường và
quyền lợi của người nộp phí chưa có hướng dẫn cụ thể: về cách thu phí chưa thực sự khoa học vì chưa định lượng chính xác mức gây ô nhiễm môi trường của các cơ sỡ sản xuất, kinh doanh, hơn nữa trong tổ chức thu phí của các cơ quan chức năng còn lỏng lẻo, đùn đẩy trách nhiệm Đối với quyền lợi của người tra phí thì vẫn còn thiếu sự nhất quán chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nào làm cho hiệu lực triển khai chính sách bị giảm đáng kể
Trang 10Câu 10: Tham gia vào các công ước quốc tế Việt Nam có trách nhiệm và quyền
lợi nào? Lấy ví dụ về 1 công ước mà Việt Nam là thành viên để chứng minh?
* Trách nhiệm:
Tuân thủ đầy đủ các quy định của công ước ( những điều cần tuân theo và những điều cấm thi hành), đóng góp tương xứng với khả năng vào các nỗ lực quốc tế , để giải quyết các vấn đề liên quan đến công ước:
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường
- Bảo vệ, không gây hại đến môi trường ( đất, nước, không khí )
- Bảo vệ đa dạng sinh học
- Giải quyết hòa bình các tranh chấp về môi trường * Quyền lợi:
- Các công ước mà Việt Nam đã kí kết tạo ra một khuôn khổ pháp lý quốc tế quan trọng cho sự hợp tác giữa Việt Nam và các nước khác trên thế giới, thể hiện được vị trí,tiếng nói cũng như hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.Thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của VN đối với các vấn đề môi trường chung của thế giới, thể hiện về mặt pháp lý chính sách mở của Việt Nam
- Có được những phương thức hành động ứng phó với những vấn đề đặt ra, có cơ hội nhận được sự bảo vệ, hỗ trợ về khoa học, công nghệ, vốn của cộng đồng quốc tế * Ví dụ: Viêt Nam Tham gia Công ước Luật biển 1982
Sau khi tham gia Công ước Luật biển 1982 Chính thức hóa cơ sở pháp lý quốc tế về phạm vi các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam Gia nhập Công ước 1982, nước ta được quốc tế thừa nhận có vùng lãnh hải 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500m Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà nước ta được hưởng theo quy định của Công ước 1982 mở rộng gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền
- Là cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc trong đấu tranh bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa, các quyền và lợi ích chính đáng của nước ta trên biển, đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Công ước 1982 là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết các tranh chấp phân định vùng biển giữa nước ta với các nước láng giềng, góp phần tạo môi trường ổn định, hòa bình, hợp tác và phát triển trong Biển Đông
- Tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế trong việc bảo vệ chủ quyền,
lợi ích chính đáng của nước ta trên biển, tạo điều kiện thuận lợi trong việc mở