1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận Diện Cơ Hội Và Thách Thức Cho Đầu Tư Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ Tư.pdf

38 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận Diện Cơ Hội Và Thách Thức Cho Đầu Tư Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ Tư
Tác giả Kiều Đức Trung, Anh Bùi Thanh Hải, Hoàng Thị Hương, Phạm Trọng Minh, Lương Hải Sơn, Lê Thị Kim Tuyến
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn
Chuyên ngành Kinh tế và Quản trị Công nghiệp
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 478,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm 10 Kiều Đức Trung Anh Bùi Thanh Hải Hoàng Thị Hương Phạm Trọng Minh Lương Hải Sơn Lê Thị Kim Tuyến Đề bài Nhận diện cơ hội và thách thức cho đầu tư của Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công[.]

Trang 1

Nhóm 10:

Kiều Đức Trung Anh

Bùi Thanh Hải

Hoàng Thị Hương

Phạm Trọng Minh

Lương Hải Sơn

Lê Thị Kim Tuyến

Đề bài: Nhận diện cơ hội và thách thức cho đầu tư của Việt Nam trong bối cảnh cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ tư (4.0)?

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH 2

I LỜI MỞ ĐẦU 3

II SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4

2.1 Sự ra đời của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 4

2.2 Định nghĩa và đặc điểm của CMCN 4.0 6

III THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM 10

3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 10

3.2 Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế 11

3.3 Tổng vốn đầu tư 12

3.4 Đầu tư nước ngoài FDI 13

IV CƠ HỘI 15

4.1 Thị trường đầu tư kinh doanh được mở rộng 15

4.2 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng 16

4.3 Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Startup ra đời 18

V THÁCH THỨC 20

5.1 Nhận thức và sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp về cuộc cách mạng công nghiệp còn hạn chế 20

5.2 Rào cản về đầu tư cơ sở hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin 21

5.3 Tái cơ cấu nền kinh tế, nhất là cơ cấu DNNN và giải ngân vốn đầu tư công còn chậm 21

5.4 Cải thể cơ chế còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn thị trường 22

5.5 Một số thị trường xuất hiện dấu hiệu rủi ro 22

5.6 Dòng vốn FDI 23

5.7 Chủ thể tham gia 4.0 23

VI BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHU VỰC VÀ XU HƯỚNG ĐẦU TƯ 23

6.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 24

6.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 26

6.3 Bài học kinh nghiệm từ Hàn Quốc và Trung Quốc 29

6.4 Xu hướng đầu tư 31

6.5 Đầu tư mùa COVID-19 34

VII KẾT LUẬN 37

Trang 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

DANH MỤC HÌNH Hình 2.1.1: Quá trình ra đời của các cuộc cách mạng công nghiệp (1.0 -> 4.0) 5

Hình 3.1.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986-2019 11

Hình 6.4.1: Chuẩn bị của doanh nghiệp cho CMCN 4.0 32

Hình 6.4.2: Top 6 ngành có tiềm năng tăng trưởng giai đoạn 2020 – 2025 33

Trang 4

I LỜI MỞ ĐẦU

Kinh tế - một trong những trụ cột cuộc một quốc gia Mục tiêu phát triển kinh tế luônđược quan tâm hàng đầu ở mỗi quốc giá, đặc biệt là Việt Nam – một quốc gia đang pháttriển đi theo con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Và để đạt đượcnhững bước nhảy vọt về kinh tế thì đầu tư, đầu tư phát triển là một chìa khoá quan trọng.Mặc dù việc phát triển dựa trên nền tảng huy động vốn đầu tư nội lực nhưng nguồn vốnchảy từ nước ngoài vào chiếm một tỉ trọng không nhỏ, quyết định tới cả quá trình cất cánhcủa một đất nước Còn nhìn theo lăng kính vĩ mô, mỗi nhà đầu tư luôn muốn, “tiền đẻ ratiền”, nhưng quá trình đó là chưa đủ, để căn nhắc hoạt động đầu tư của mình, nhà đầu tưluôn tìm kiếm một môi trường đầu tư an toàn, đảm bảo sinh lời cao, họ sẽ đưa ra quyếtđịnh so sánh môi trường đầu tư giữa các quốc gia để đưa ra quyết định Và đặc biệt trongbối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra một cách nhanh chóng, sâurộng, len lỏi vào từng khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội, tạo ra những thay đổi vừatích cực, vừa tiêu cực cho môi trường đầu tư Tạo ra cả cơ hội và thách thức cho đầu tưVIệt Nam

Thực tế sau năm 2018 khi Việt Nam lần đầu tiên vào nhóm 20 nước thu hút FDI hàngđầu thế giới, năm 2019, lượng vốn FDI giải ngân của Việt Nam cũng lần đầu tiên vượtmốc 20 tỷ , trong khi FDI toàn cầu có xu hướng giảm tốc độ tăng, cho thấy Việt Nam đang

là một “thỏi nam châm thu hút vốn FDI”

Dưới đây là bài phân tích, nhận diện rõ cơ hội và thách thức cho đầu tư của Việt Namtrong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) do nhóm em thực hiện

II SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP

2.1 Sự ra đời của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Theo Klaus Schwab (2016) – “cha đẻ của cách mạng công nghiệp 4.0”, “cách mạng”

có nghĩa là một sự thay đổi đột ngột và căn bản Cùng với sự thay đổi mạnh mẽ, sâu sắctrong kinh tế và xã hội thì các cuộc cách mạng trong lịch sử đã diễn ra Những thay đổiđột ngột này là một quá trình có thể mất nhiều năm để nhìn thấy Lịch sử nhân loại đãchứng kiến tất cả 4 cuộc “thay đổi đột ngột” về công nghiệp, cụ thể như sau:

Trang 5

Hình 2.1.1: Quá trình ra đời của các cuộc cách mạng công nghiệp (1.0 -> 4.0)

Nguồn: Kinh tế và Dự báo

“Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất”: Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên

bắt đầu vào thế kỷ 18 thông qua việc sử dụng năng lượng hơi nước và cơ giới hoá sảnxuất Những gì trước khi sản xuất thường chỉ tập trung trên bánh xe quay đơn giản thìtrong phiên bản cơ giới hoá đạt được sản lượng gấp tám lần trong cùng một thời gian Sứcmạnh hơi nước đã được biết đến Việc sử dụng nó cho mục đích công nghiệp là bước độtphá lớn nhất để tăng năng suất con người Thay vì dệt máy dệt chạy bằng cơ, động cơ hơinước có thể được sử dụng để làm nguồn năng lượng chính Các phát triển như tàu hơinước hoặc đầu máy chạy bằng hơi nước đã mang lại những thay đổi lớn hơn bởi vì conngười và hàng hoá có thể di chuyển khoảng cách lớn trong ít giờ hơn

“Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai”: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai

bắt đầu vào thế kỷ 19 thông qua việc phát hiện ra sản xuất điện và dây chuyền lắp ráp.Henry Ford (1863) đã lấy ý tưởng sản xuất hàng loạt từ một lò mổ ở Chicago: Những conlợn được treo trên băng chuyền và mỗi người bán thịt chỉ thực hiện một phần nhiệm vụgiết mổ con vật Henry Ford đã thực hiện các nguyên tắc này vào sản xuất ô tô và đã cómột sự diễn ra thay đổi mạnh mẽ trong quá trình này Nếu trước đó một trạm lắp ráp ô tô

sẽ lắp ráp toàn bộ từng chiếc một ô tô, thì bây giờ các phương tiện đã được sản xuất thoetừng bước trên băng chuyền, nhanh hơn đáng kể với chi phí thấp hơn

Trang 6

“Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba”: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba

bắt đầu vào những năm 70 của thế kỷ 20 thông qua tự động hoá một phần bằng cách sửdụng các bộ điều khiển và máy tính có thể lập trình bộ nhớ Kể từ khi giới thiệu các côngnghệ này, giờ đây nhân loại có thể tự động hoá toàn bộ quy trình sản xuất mà không cần

sự trợ giúp của con người Các ví dụ đã biết về điều này là các robot thực các chuỗi đượclập trình mà không cần phải có sự tham gia can thiệp của con người

“Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”: Một bản ghi nhớ của chính phủ Đức được

phát hành vào năm 2013 là một trong những lần đầu tiên ‘Cách mạng công nghiệp 4.0”được đề cập Tài liệu chiến lược công nghệ cao đã vạch ra một kế hoạch gần như máy tínhhoá hoàn toàn ngành công nghiệp sản xuất mà không cần sự tham gia can thiệp của conngười Angela Merkel, thủ tướng Đức, đã phát biểu về khái này vào tháng 1 năm 2015 tại

“Diễn đàn kinh tế thế giới ở Davos”, gọi “Cách mạng công nghiệp 4.0” đối phó nhanhchóng với sự hợp nhất của thế giới trực tuyến và thế giới sản xuất công nghiệp Cuối cùng,chính phủ Đức đang đầu tư khoảng 200 triệu Euro (khoảng 216 triệu USD) để khuyếnkhích nghiên cứu trên khắp học viện, doanh nghiệp và chính phủ và Đức không phải làquốc gia duy nhất diễn ra các tiến bộ Hoa Kỳ có Liên minh lãnh đạo sản xuất thông minh(SMLC), một tổ chức phi lợi nhuận gồm các nhà sản xuất, nhà cung cấp, công ty côngnghệ, cơ quan chính phủ, trường đại học và phòng thí nghiệm, tất cả đều có mục tiêuchung là thúc đẩy cách suy nghĩ về Cách mạng công nghiệp 4.0 Nó đang nhắm đến việcxây dựng một nền tảng sản xuất thông minh, mở ra các ứng dụng thông tin được kết nốimạng công nghiệp Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng sẽ cho phép các công ty sảnxuất thuộc mọi quy mô có thể truy cập dễ dàng và giá cả phải chăng vào các công nghệ

mô hình hoá và phân tích có thể tuỳ chỉnh để đáp ứng nhu cầu của họ Đây là bước tiếptheo trong tự động hoá sản xuất Mạng lưới của tất cả các hệ thống dẫn đến các hệ thốngsản xuất vật lý không gian mạng, và do đó, các nhà máy thông minh, trong đó hệ thốngsản xuất, linh kiện và con người giao tiếp qua mạng và sản xuất gần như tự trị

2.2 Định nghĩa và đặc điểm của CMCN 4.0

“Cách mạng công nghiệp 4.0” là một thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ quá trình

phát triển trong quản lý sản xuất và sản xuất chuỗi Thuật ngữ ngày cũng đề cập đến cuộccách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trang 7

Thuật ngữ “CMCN 4.0” lần đầu tiên được giới thiệu công khai vào năm 2011 với tên

gọi “CMCN 4.0” do một nhóm đại diện từ các lĩnh vực khác nhau (như kinh doanh, chínhtrị và học thuật) theo sáng kiến nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Đức trong ngànhsản xuất Chính phủ liên bang Đức đã áp dụng ý tưởng này trong Chiến lược công nghệcao vào năm 2020 Sau đó, một nhóm làm việc được thành lập để tư vấn thêm về việctriển khai Công nghiệp 4.0

Năm 2003, Chính phủ Đức đã phát triển và công bố khuyến nghị đầu tiên Tầm nhìncủa họ đòi hỏi rằng “Các hệ thống vật lý điện tử này bao gồm các máy thông minh, hệthống lưu trữ và cơ sở sản xuất có khả năng tự trao đổi thông tin, kích hoạt các hành động

và kiểm soát lẫn nhau một cách độc lập Điều này tạo điều kiện cho những cải tiến cơ bảncho các quy trình công nghiệp liên quan đến sản xuất, kỹ thuật, sử dụng vật liệu và chuỗicung ứng và quản lý vòng đời.” Ngoài ra, các hệ thống vật lý có thể hợp tác và liên lạc vớinhau và với con người trong thời gian thực, tất cá đều được kích hoạt bởi IoT và các dịch

vụ liên quan

Khái niệm “CMCN 4.0” có nguồn gốc từ Đức và được các nước công nghiệp hàng đầukhác công nhận, trong mọi trường hơp, CMCN 4.0 được xây dựng trên ba biến đổi côngnghệ trước đó: năng lượng hơi nước, là lực lượng biến đổi của thể kỷ XIX; điện, đã biếnđổi phần lớn của thế kỷ thứ XX; và thời đại của máy tính bắt đầu từ những năm 1970(Cordes&Stacey, 2017) Sự tăng trưởng cao về nhu cầu công nghệ của các công ty côngnghiệp có thể thúc đẩy tương lai của CMCN 4.0 và có thể dẫn đến những hiệu ứng lan toảtích cực đến các khu vực khác nhau

Kỹ sư, nhà kinh tế Klaus Schwab, Người sáng lập và Chủ tịch điều hành của Diễn đànKinh tế Thế giới tuyên bố rằng thế giới có nên có sự hiểu biết toàn diện và chia sẻ toàncầu về cách công nghệ thay đổi đáng kể xã hội, kinh tế, sinh thái và và đời sống văn hoá.Schwab đặt ra một số câu hỏi làm nổi bật cách thức đổi mới công nghệ có thể tương tácvới đổi mới xã hội để định hình tương lai của xã hội và mang lại lợi ích cho xã hội củachúng ta: “Công nghiệp 4.0 sẽ biến đổi ngành y tế, giáo dục và nhiều ngành công nghiệpkhác như thế nào? Làm thế nào chúng ta có thể thúc đẩy đổi mới công nghệ theo cách cólợi cho cả người giàu và người nghèo? Làm thế nào đổi mới công nghệ có thể đóng gópgiải pháp cho các vấn đề y tế công cộng quốc tế? Làm thế nào để xác định lại vai trò củaChính phủ trong cuộc cách mạng công nghệ này để thúc đẩy tính minh bạch trong cải cáchkinh tế, xã hội và môi trường?”

Trang 8

Schwab (2015) cũng xác nhận rằng, trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tácđộng xã hội của những thay đổi công nghệ đối với các ngành kinh tế, thị trường lao động,sản xuất và đổi mới được hiểu rõ hơn so với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây.Trong khi đó, Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách cần thích ứng và phản ứngnhanh với sự phát triển nhanh chóng của bối cảnh CMCN 4.0 bằng cách cung cấp môitrường, biện pháp bảo về và chính sách có thể định hướng tương lai cho sự phát triển kinh

tế và xã hội bền vững và khai thác lời hứa rằng các công nghệ phát sinh từ CMCN 4.0 giữcho mọi người và xã hội

CMCN 4.0 có thể dẫn đến một sự đột biến nhanh chóng theo “cấp số nhân” chưa từngthấy của các đổi mới kỹ thuật, công nghiệp và xã hội, ngày càng tạo ra những sự nghi ngờ

về khả năng thích ứng của các cá nhân và tổ chức liên quan đến các mối đe doạ đối vớibản sắc con người, ổn định xã hội và an ninh kinh tế Như Schreiber (2017) tuyên bố, nó

có thể phá vỡ mọi ngành công nghiệp; định hình lại cách chúng ta làm việc, liên quan,giao tiếp và học hỏi; và phát minh lại các tổ chức từ giáo dục đến giao thông vận tải

Theo quan điểm tương tự, sự phát triển của CMCN 4.0 nêu bật một trong những tháchthức phổ biến được đặt ra bởi sự tăng trưởng nhanh chóng trong công nghệ thông tin vàtruyền thông: quyền riêng tư Việc chia sẻ và theo dõi thông tin của con người trở nên dễdàng hơn, từ đó làm mất quyền kiểm soát dữ liệu của con người và tiết lộ thông tin vềcuộc sống riêng tư của con người (Anderson&Mattsson, 2015) Do đó, một trong nhữngthách thức quan trọng nhất đối với Chính phủ, các nhà hoạch định chính sách xã hội là làmthế nào để thay đổi văn hoá của ngành công nghiệp và xã hội để giải quyết các khó khăncông nghệ liên quan đến kỷ nguyên công nghiệp mới này

Cách dễ hiểu nhất về CMCN 4.0 là tập trung vào các công nghệ thúc đẩy nó Chúngbao gồm những điều chính sau đây:

IoT: IoT là viết tắt của Internet of Things, một khát niệm đề cập đến các kết nối giữa

các đối tượng vật lý như cảm biến hoặc máy móc và Internet

IIoT: IoT là viết tắt của Internet vạn vật công nghiệp, đề cập đến các kết nỗi giữa con

người, dữ liệu và máy móc khi chúng liên quan đến sản xuất

Dữ liệu lớn (Big Data): Dữ liệu lớn đề cập đến các tập hợp lớn dữ liệu có cấu trúc

hoặc không cấu trúc có thể được biên dịch, lưu trữ, sắp xếp và phân tích để tiết lộ các môhình, xu hướng, liên kết và cơ hội

Trang 9

Trí tuệ nhân tạo (AI): Trí thông minh nhân tạo là một khái niệm đề cập đến khả năng

của một máy tính để thực hiện các nhiệm vụ và đưa ra quyêt định trong lịch sử đòi hỏi một

số mức độ thông minh của con người

M2M (Machine to Machine): Đây là viết tắt của máy với máy và đề cập đến giao tiếp

xảy ra giữa hai máy riêng biệt thông qua mạng không dây hoặc có dây

Số hoá (Digitization): Số hoá đề cập đến quá trình thu thập và chuyển đổi các loại

thông tin khác nhau thành định dạng kỹ thuật số

Nhà máy thông minh (Smart factory): Nhà máy thông minh là nhà máy đầu tư và

thúc đẩy công nghệ, giải pháp và phương tiện tiếp cận Công nghiệp 4.0

Máy móc tự học (Machine learning): Máy móc tự học liên quan đến khả năng máy

tính phải tự học và cải thiện thông qua trí thông minh nhân tạo, mà không được nói rõràng hoặc được lập trình để làm như vậy

Điện toán đám mây (Cloud computing): Điện toán đám mây đề cập đến việc sử dụng

các máy chủ từ xa được kết nối với nhau được lưu trữ trên Internet để lưu trữ, quản lý và

xử lý thông tin

Ảo hoá: Hệ thống vật lý điện tử phải có khả năng mô phỏng và tạo một bản sao ảo của

thế giới thực Hệ thống vật lý điện tử cũng phải có khả năng giám sát các đối tượng tồn tạitrong môi trường xung quanh Nói một cách đơn giản, phải có một bản sao của mọi thứ

Hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP): Các công cụ quản lý quy trình kinh

doanh có thể được sử dụng để quản lý thông tin trong toàn tổ chức

Xử lý dữ liệu thời gian thực (Real-time data processing): Xử lý dữ liệu thời gian

thực đề cập đến khả năng của các hệ thống máy tính và máy móc xử lý dữ liệu liên tục và

tự động và cung cấp các đầu ra và hiểu biết thời gian thực hoặc gần thời gian thực

Hệ sinh thái (Ecosystem): Một hệ sinh thái, về mặt sản xuất, đề cập đến khả năng kết

nối tiền năng của tất cả các hoạt động của bạn: kiểm kê và lập kế hoạch, tài chính, quan hệkhách hàng, quản lý chuỗi cung ứng và thực hiện sản xuất

Khả năng tương tác: Đối tượng, máy móc và con người cần có khả năng giao tiếp

thông qua Internet vạn vật và Internet của con người Đây là nguyên tắc thiết yếu nhấtthực sự làm cho một nhà máy trở nên thông minh

Phân cấp: Khả năng của hệ thống vật lý điện tử hoạt động độc lập Điều này nhưỡng

chỗ cho các sản phẩm tuỳ chỉnh và giải quyết vấn đề Điều này cũng tạo ra một môitrường linh hoạt hơn cho sản xuất Trong trường hợp thất bại hoặc có các mục tiêu mâu

Trang 10

thuẫn, vẫn đề được giao cho cấp cao hơn Tuy nhiên, ngay cả khi các công nghệ như vậyđược triển khai, nhu cầu đảm bảo chất lượng vẫn là điều cần thiết trên toàn bộ quy trình.

Định hướng dịch vụ: Sản xuất phải hướng đến khách hàng Mọi người và các đối

tượng, thiết bị thông minh phải có khả năng kết nối hiệu quản thông qua Internet dịch vụ

để tạo ra các sản phẩm dựa trên thông số kỹ thuật của khách hàng Đây là nơi Internet củaDịch vụ trở nên thiết yếu

Tính mô đun: Trong một thị trường năng động, khả năng thích ứng với Nhà máy

thông minh để thích nghi với thị trường mới là điều cần thiết Trong một trường hợp điểnhình, có lẽ sẽ mất một tuần để một công ty trung bình nghiên cứu thị trường và thay đổisản xuất cho phù hợp Mặt khác, các nhà máy thông minh phải có khả năng thích ứngnhanh và thuận lợi với những thay đổi theo mua và xu hướng thị trường

Khả năng thời gian thực: Một nhà máy thông minh cần có khả năng thu thập dữ liệu

thời gian thực, lưu trữ hoặc phân tích dữ liệu và đưa ra quyết định theo phát hiện mới.Điều nay không chỉ giới hạn trong nghiên cứu thị trường mà còn đối với các quy trình nội

bộ như sự thất bại của một máy móc trong dây chuyền sản xuất Các đối tượng thông minhphải có khả năng xác định lỗi và uỷ thác lại các nhiệm vụ cho các máy vận hành khác.Điều này cũng góp phần rất lớn vào tính linh hoạt và tối ưu hoá sản xuất

III THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM

3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam là một điểm sáng trong khu vực và trên thế giới.Chạm đỉnh ở mốc 7,1% năm 2018, tăng trưởng GDP thực giảm nhẹ ở năm 2019 là 7,02%,đây là hai năm liên tiếp ta đạt mức tăng trưởng ở con số 7, tuy nhiên sang năm 2020 dodịch bệnh SARS-CoV-2 đã gây ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng toàn cầu nên tốc độ sẽ xoayquanh mức 4,8% (theo ADB)

Trang 11

Hình 3.1.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1986-2019

Đơn vị: %.

19800 1985 1990 1995 2000 2005 2010 2015 2020 2025 2

6.211

6.812

7.076 7.02

Nguồn: WorldBank.

3.2 Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Hệ thống tài chính chưa năng động Các nguồn thu vào ngân sách còn chứa đựng

những yếu tố bất ổn định, nhất là các khoản thu từ thuế xuất nhập giảm xuống làm chomức thâm hụt càng lớn so với nhu cầu có thể giải quyết đồng bộ các vấn đề kinh tế xã hội,

hệ thống ngân hàng thương mại với 4 trụ cột lớn vẫn chủ yếu thực hiện chức năng là tổchức tín dụng chứ chưa phải là nhà đầu tư Hơn 60%tín dụng cấp cho các doanh nghiệp làngắn hạn, tỷ trọng đầu tư vào các doanh nghiệp của hệ thống ngân hàng hầu như là khôngđáng kể Hệ thống tài chính theo kiểu trực tuyến với các cấp của hệ thống ngân sách chúng ta còn thiếu hẳn hệ thống các tổ chức tài chính trung gian năng động cho nền tàichính quốc gia như: các công ty thuê mua, công ty nhận nợ, công ty chứng khoán…Lượng tiền trong lưu thông còn qua lớn, nằm ngoài sự kiểm soát của hệ thống tài chínhcông

Hệ thống chứng từ kế toán chưa phản ánh các quan hệ thanh toán trong nền kinh tế.Các khoản chi tiêu có chứng từ làm cho luật thuế VAT phải có những điều chỉnh khôngđáng có, làm cho tính pháp lý của thuế chưa cao Việc điều chỉnh thuế suất thuế VAT sẽgây phức tạp cho việc tổ chức thực hiện Hệ thống kế toán chưa theo kịp các thông lệ quốc

Trang 12

tế cũng là một cản trở lớn cho sự hội nhập, trực tiếp làm giảm khả năng cạnh tranh củanền kinh tế.

Kết cấu hạ tâng kỹ thuật- thông tin còn thấp kém lại không đồng đều giữa các vùng lànguyên nhân trực tiếp làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, bởi từ đó chi phi đầuvào cho các doanh nghiệp tăng cao Từ trạng thái phát triển không đều giữa các vùng,nhanh chóng thay đổi cơ cấu dân cư khiến một số đô thị nhanh chóng quá tải đang là gánhnặng cho ngân sách vì các vấn đề xã hội và sinh thái

Trình độ, chất lượng nguồn nhân lực dồi dào nhưng không mạnh Đội ngũ nhân lựctrình độ cao để sẵn sàng đối phó với phân công lao động quốc tế chưa nhiều Đây là vấn

đề thách thức lớn cho hệ thống đào tạo, nhất là đào tạo nghề nghiệp, năng lực thực hành Thiết chế kinh tế còn mang nặng tính tập trung, một số ngành vẫn duy trì độc quyền ởcác cấp độ, các hình thức Khu vực kinh tế dân doanh chưa được khuyến khích thoả đáng,trong nhiều lĩnh vực nhiều khu vực vẫn chưa tìm thấy sự phối hợp đồng bộ giữa các chínhsách vĩ mô với vấn đề của các doanh nghiệp dân doanh Mặc dầu thời gian gần đây, sựthông thoáng đã thể hiện rõ qua việc thực hiện luật doanh nghiệp mới nhưng hệ thốngdoanh nghiệp dân doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa nhận đựơc sự

hỗ trợ khích lệ thoả đáng từ phía nhà nước Các vấn đề như quyền sử dụng đất, vấn đề quyhoạch tổng thể, sự phối hợp liên ngành của các cơ quan quản lý nhà nước vẫn tiếp tục hạnchế đầu tư dài hạn vào sản xuất củakhu vực kinh tế dân doanh

Công nghệ sản xuất còn thấp, mặc dù đã có một số công nghệ đạt trình độ tiên tiến trênthế giới nhưng nhìn chung mặt bằng còn thấp Trong các ngành sản xuất hàng hoá hướng

về xuất khẩu chủ yếu là công nghệ có đựơc thông qua chuyên giao công nghệ và khả năngquản lý công nghệ chưa đạt yêu cầu của sự phát triển công nghệ và tăng trưởng kinh tế.Một số ngành khác chưa có công nghệ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thế giới dẫn tớichất lượng sản phẩm kém thiếu sức cạnh tranh, giá thành sản xuất cao Mặc dù nước ta đã

có một số thành tựu đáng kể trong phát triển công nghệ tuy nhiên vai trò nghiên cứu vàtriển khai còn thấp

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố vào ngày 10/01/2020 các ngành,lĩnh vực phát triển ổn định, quy mô thương mại quốc tế vượt mốc 500 tỷ USD Xếp hạngnăng lực cạnh tranh quốc gia tăng 10 bậc

Trang 13

3.3 Tổng vốn đầu tư

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tiếp tục xu hướng tăng trưởng tích cực Năm

2019, đầu tư phát triển tăng 10,2%, nâng tổng mức đầu tư lên mức 33,9% GDP so với32,6% trong năm 2015 Trong đó, đầu tư khu vực nhà nước chiếm 31% tổng vốn và tăngtrưởng 2,6% so với năm trước; mặc dù có tăng trưởng nhưng tỉ trọng vốn đầu tư khu vựcnhà nước tiếp tục xu hướng giảm từ mức 38% năm 2015 xuống 31% năm 2019

Đầu tư khu vực nhà nước giảm về tỉ trọng trong thời gian qua được bù đắp còn nhiềuhơn bởi đầu tư của khu vực tư nhân nhờ chính sách ưu đãi, hỗ trợ tạo điều kiện cho doanhnghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, đưa tốc độ tăng trưởng và tỉ trọng vốn đầu tưcủa khu vực này lần lượt lên mức 17,3% và 46% vào năm 2019 so với mức 13% và38,7% năm 2015 Đầu tư khu vực FDI vẫn duy trì mức tăng trưởng khá trong thời gianqua; năm 2019, tổng vốn FDI đạt 38,02 tỉ USD, tăng 7,2% so với cùng kì; duy trì tỉ trọng

ổn định ở mức 23,3 – 23,8% trong giai đoạn 2015 – 2019

3.4 Đầu tư nước ngoài FDI

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế

giới, trong đó có Việt Nam Sau gần 30 năm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI), dòng vốn này đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng trong tăng trưởng,phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam

Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách thu hút FDI từ năm 1987 Sau hơn 30 năm,nguồn vốn này đã trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh

tế - xã hội Đã có trên 310 tỷ USD của các nhà đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam Với

sự hiện diện của những nhà đầu tư hàng đầu thế giới, điển hình là các tập đoàn đa quốc giahàng đầu thế giới như: Honda, Intel, Samsung, Yamaha, Panasonic, Microsoft, LG Những dự án tỷ “đô” của các tập đoàn kinh tế hàng đầu cho thấy, Việt Nam đã và đang làđiểm đến đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài

Diện mạo FDI chảy vào Việt Nam đã có sự thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt từ 10 năm trởlại đây (2006 - 2017) Chỉ trong thời gian ngắn này, nhà đầu tư nước ngoài đã rót khoảng

276 tỷ USD vào Việt Nam, cao gấp nhiều lần con số của 20 năm trước đó Năm 2006, vớiviệc công bố đầu tư dự án trị giá 1 tỷ USD (tại TP Hồ Chí Minh), Tập đoàn Intel (Mỹ) đãghi tên Việt Nam vào bản đồ công nghệ thông tin toàn cầu Đây cũng là sự kiện có tínhchất mở đường, tạo nguồn cảm hứng giúp Việt Nam thu hút các dự án lớn, các dự án côngnghệ cao khác

Trang 14

Sau Intel, năm 2008, Tập đoàn Samsung đầu tư vào Việt Nam với dự án nhà máy lắpráp điện thoại tại Bắc Ninh với tổng số vốn 700 triệu USD Đến nay, tổng số vốn đăng kýcủa Samsung đạt khoảng 17 tỷ USD Cùng với đó, Tập đoàn LG cũng đã đầu tư vào ViệtNam khoảng 3 tỷ USD.

Trong 20 năm có mặt tại Việt Nam, tổng số vốn đầu tư của Honda đã đạt khoảng 530triệu USD Đến nay, Tập đoàn này đã đóng góp khoảng hơn 40 nghìn tỷ đồng tiền thuếcho ngân sách và tạo việc làm cho khoảng 10 nghìn nhân viên

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lũy kế đến cuối năm 2017, cả nước có 24.748

dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký 318,72 tỷ USD Vốn thực hiện lũy kế đến cuốinăm 2017 của các dự án FDI ước đạt 172,35 tỷ USD, bằng 54% tổng vốn đăng ký cònhiệu lực

Năm 2017, là năm đánh dấu của những kỷ lục mới về FDI vào Việt Nam (FDI đạt gần

36 tỷ USD - mức cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây) Hiện có 125 quốc gia và vùnglãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam Nhật Bản đứng vị trí thứ nhất với tổng vốn đầu tư

là 9,11 tỷ USD, chiếm 25,4% tổng vốn đầu tư; Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tưđăng ký là 8,49 tỷ USD, chiếm 23,7%; Singapore đứng vị trí thứ ba với tổng vốn đầu tưđăng ký là 5,3 tỷ USD, chiếm 14,8%

Đến quý I năm 2020, Theo lĩnh vực đầu tư, các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 18 ngành,lĩnh vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạtgần 6 tỷ USD, chiếm 48,4% tổng vốn đầu tư đăng ký Lĩnh vực sản xuất, phân phối điệnđứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 3,9 tỷ USD, chiếm 31,9% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếptheo lần lượt là lĩnh vực bán buôn bán lẻ và hoạt động kinh doanh bất động sản với tổngvốn đăng ký 776 triệu USD và 665 triệu USD

Theo đối tác đầu tư, đã có 93 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam, trong

đó Xinh-ga-po dẫn đầu với tổng vốn đầu tư 5,07 tỷ USD, chiếm 41,1% tổng vốn đầu tưvào Việt Nam Thái Lan đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 1,46 tỷ USD, chiếm 11,8% tổngvốn đầu tư Nhật Bản đứng vị trí thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,16 tỷ USD, chiếm9,4% tổng vốn đầu tư Tiếp theo là Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc,

Nếu xét theo số lượng dự án thì Hàn Quốc đứng vị trí thứ nhất với 265 dự án, TrungQuốc đứng vị trí thứ hai với 135 dự án, Nhật Bản đứng thứ ba với 116 dự án, Xinh-ga-pođứng thứ tư với 81 dự án,…

Trang 15

Theo địa bàn đầu tư, các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 57 tỉnh, thành phố, trong đó BạcLiêu vẫn tiếp tục dẫn đầu với 01 dự án lớn có vốn đầu tư 4 tỷ USD, chiếm 32,4% tổng vốnđầu tư đăng ký Bà Rịa - Vũng Tàu đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký đạt 1,9 tỷ USD,chiếm 15,4% tổng vốn đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ ba với 1,31 tỷ USD,chiếm 10,6% tổng vốn đầu tư Tiếp theo lần lượt là Hà Nội, Hà Nam, Bình Dương, Nếu xét theo số lượng dự án thì thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu với 369 dự án, Hà Nộiđứng thứ hai với 223 dự án, Bắc Ninh đứng thứ ba với 65 dự án,

Tính đến ngày 20/4/2020, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngânđược 5,15 tỷ USD, bằng 90,4% so với cùng kỳ năm 2019

Kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN đã tăng trở lại sau khi giảm nhẹ trong 3tháng đầu năm 2020 Xuất khẩu kể cả dầu thô đạt 56,49 tỷ USD, tăng 1,5% so với cùng kỳnăm 2019, chiếm 70,2% kim ngạch xuất khẩu Xuất khẩu không kể dầu thô đạt 55,75 tỷUSD, tăng 1,5% so với cùng kỳ, chiếm 69,3% kim ngạch xuất khẩu

Nhập khẩu của khu vực ĐTNN đạt 46,32 tỷ USD, tăng 2,9% so cùng kỳ năm 2019 vàchiếm 57,6% kim ngạch nhập khẩu

Mặc dù bị tác động bởi dịch Covid-19, song trong 4 tháng đầu năm 2020, khu vựcĐTNN vẫn xuất siêu 10,2 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 9,4 tỷ USD không kể dầu thô,

bù đắp phần nhập siêu 9,6 tỷ USD của khu vực trong nước, giúp cả nước xuất siêu 983triệu USD

IV CƠ HỘI

4.1 Thị trường đầu tư kinh doanh được mở rộng

Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đang diễn ra sôi động trên toànthế giới được đánh giá là mang lại cơ hội lớn cho các quốc gia Theo các chuyên gia kinh

tế, CMCN 4.0 giúp các doanh nghiệp (DN) có cơ hội mở rộng thị trường phát triển Đểthích ứng với đòi hỏi từ cuộc CMCN 4.0 thì doanh nghiệp phải tăng cường đầu tư trangthiết bị, công nghệ, máy móc, tự động hóa trong sản xuất theo hướng áp dụng công nghệmới , như công nghệ số và tích hợp các công nghệ thông minh nhằm tối ưu quy trình,phương thức sản xuất CMCN 4.0 giúp các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thị trường , từ

đó thúc đẩy doanh nghiệp phát triển DN ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất sảnphẩm, sẽ có sự thay đổi lớn từ phía cung hàng hóa thông qua việc tiết giảm chi phí và tăngnăng suất lao động Cùng với đó, chi phí giao thông vận tải và thông tin liên lạc sẽ giảm

Trang 16

xuống, hậu cần và chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ trở nên hiệu quả hơn, các chi phí thươngmại được giảm bớt Từ đó, thị trường của DN sẽ được mở rộng

CMCN 4.0 sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam tăng khi nâng tham gia vào chuỗi giá trịtoàn cầu cũng như khu vực Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam có thể đón nhận những cơhội khác từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, như tăng khả năng tiếp cận thông tin, dữliệu; cung cấp sản phẩm dịch vụ qua biên giới dễ dàng với chi phí thấp

4.2 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng

Trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, xu hướng dịchchuyển dòng vốn FDI cũng diễn ra linh hoạt, Việt Nam sẽ tận dụng cơ hội này như thế nào

để có chiến lược cụ thể trong thu hút FDI thế hệ mới

Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách thu hút FDI từ năm 1987 Sau 30 năm, nguồnvốn này đã trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xãhội Đã có trên 310 tỷ USD của các nhà đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam Với sự hiệndiện của những nhà đầu tư hàng đầu thế giới, điển hình là các tập đoàn đa quốc gia hàngđầu thế giới như: Honda, Intel, Samsung, Yamaha, Panasonic, Microsoft, LG Những dự

án tỷ “đô” của các tập đoàn kinh tế hàng đầu cho thấy, Việt Nam đã và đang là điểm đếnđầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài

Toàn cầu hóa tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực khoa học vàcông nghệ, đặc biệt là sự đầu tư của các nước tiên tiến có nền khoa học và công nghệ pháttriển cao như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo Sự tham gia liên doanh, liên kết tronghoạt động khoa học và công nghệ với các đối tác nước ngoài giúp cho các nhà khoa học vàcông nghệ Việt Nam có cơ hội tiếp cận với khoa học và công nghệ cao mà qua đó từngbước thu hẹp khoảng cách về kiến thức, kỹ năng nghiên cứu phát triển cũng như nâng caonăng lực sáng tạo khoa học-công nghệ của cá nhân và nền khoa học và công nghệ trongnước Các chương trình hợp tác đào tạo nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, có khảnăng tiếp nhận, chuyển giao và ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiếncủa thế giới sẽ góp phần nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ những người làm khoahọc hiện có và phát triển đội ngũ các nhà khoa học công nghệ trẻ kế tục sự nghiệp pháttriển nền khoa học và công nghệ quốc gia ngày càng hiện đại hơn

Diện mạo FDI chảy vào Việt Nam đã có sự thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt từ 10 năm trởlại đây (2006 - 2017) Chỉ trong thời gian ngắn này, nhà đầu tư nước ngoài đã rót khoảng

Trang 17

276 tỷ USD vào Việt Nam, cao gấp nhiều lần con số của 20 năm trước đó Năm 2006, vớiviệc công bố đầu tư dự án trị giá 1 tỷ USD (tại TP Hồ Chí Minh), Tập đoàn Intel (Mỹ) đãghi tên Việt Nam vào bản đồ công nghệ thông tin toàn cầu Đây cũng là sự kiện có tínhchất mở đường, tạo nguồn cảm hứng giúp Việt Nam thu hút các dự án lớn, các dự án côngnghệ cao khác.

Sau Intel, năm 2008, Tập đoàn Samsung đầu tư vào Việt Nam với dự án nhà máy lắpráp điện thoại tại Bắc Ninh với tổng số vốn 700 triệu USD Đến nay, tổng số vốn đăng kýcủa Samsung đạt khoảng 17 tỷ USD Cùng với đó, Tập đoàn LG cũng đã đầu tư vào ViệtNam khoảng 3 tỷ USD

Trong 20 năm có mặt tại Việt Nam, tổng số vốn đầu tư của Honda đã đạt khoảng 530triệu USD Đến nay, Tập đoàn này đã đóng góp khoảng hơn 40 nghìn tỷ đồng tiền thuếcho ngân sách và tạo việc làm cho khoảng 10 nghìn nhân viên

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lũy kế đến cuối năm 2017, cả nước có 24.748

dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký 318,72 tỷ USD Vốn thực hiện lũy kế đến cuốinăm 2017 của các dự án FDI ước đạt 172,35 tỷ USD, bằng 54% tổng vốn đăng ký cònhiệu lực

Năm 2017, là năm đánh dấu của những kỷ lục mới về FDI vào Việt Nam (FDI đạt gần

36 tỷ USD - mức cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây) Hiện có 125 quốc gia và vùnglãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam Nhật Bản đứng vị trí thứ nhất với tổng vốn đầu tư

là 9,11 tỷ USD, chiếm 25,4% tổng vốn đầu tư; Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tưđăng ký là 8,49 tỷ USD, chiếm 23,7%; Singapore đứng vị trí thứ ba với tổng vốn đầu tưđăng ký là 5,3 tỷ USD, chiếm 14,8%

Nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 59 tỉnh, thành phố, trong đó TP Hồ Chí Minh làđịa phương thu hút nhiều vốn nhất với 6,5 tỷ USD, chiếm 18,1% tổng vốn đầu tư; BắcNinh đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký là 3,4 tỷ USD, chiếm 9,5%; Thanh Hóa đứng thứ

ba với tổng số vốn đăng ký 3,17 tỷ USD, chiếm 8,8%

Xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 155,24 tỷ USD,tăng 23% so với cùng kỳ năm 2016 và chiếm 72,6% kim ngạch xuất khẩu Xuất khẩukhông kể dầu thô đạt khoảng 152,34 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ 2016 và chiếm71,2% kim ngạch xuất khẩu Nhập khẩu của khu vực FDI đạt khoảng 126,44 tỷ USD, tăng23,4% so với cùng kỳ năm 2016 và chiếm gần 59,9% kim ngạch nhập khẩu

Trang 18

Tính chung, khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu 28,8 tỷ USD kể cả dầu thô và 25,9 tỷUSD nếu không kể dầu thô Xét theo lĩnh vực đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào

19 lĩnh vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều

sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài nhất Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện đứng thứhai; thứ ba là lĩnh vực kinh doanh bất động sản Những con số trên cho thấy, Việt Nam làmột trong những địa điểm được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm

Có được kết quả này, yếu tố quan trọng nhất là nhờ tình hình chính trị ổn định, môitrường đầu tư kinh doanh liên tục được cải thiện, chi phí lao động 654 thấp, tốc độ mở cửathương mại cao và lợi thế về vị trí địa lý của Việt Nam Đặc biệt, việc Chính phủ tậptrung chỉ đạo cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư đã tác động rất tích cực đến khu vựcFDI và được cộng đồng các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao

Khu vực doanh nghiệp (DN) FDI đã và đang có những đóng góp ngày càng quan trọngcho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Tại Việt Nam, thông qua hình thức đầu tưtrực tiếp từ nước ngoài đã tiếp thu được những công nghệ hiện đại trong các lĩnh vực viễnthông, khai thác dầu khí, hoá chất, điện tử và một số ngành sử dụng nhiều lao động,nguyên liệu trong nước Có thể nói, nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cùng cácphương thức kinh doanh mới đã tạo ra sự cạnh tranh sôi động ngay tại thị trường trongnước, thúc đẩy từng DoN trong nước phải đổi mới chất lượng sản phẩm và áp dụngphương pháp các kinh doanh hiện đại Và bộ phận DoN FDI đã có những đóng góp khôngnhỏ đối với sự tăng trưởng nền kinh tế Việt nam trong những năm qua Những đóng gópnày được thể hiện qua những con số cụ thể như tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tưtoàn xã hội luôn chiếm khoảng 25%, đóng góp trên 20% vào GDP

Đây cũng là khu vực nộp ngân sách chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu ngân sách, chiếm

tỷ trọng lớn và ngày càng tăng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với tỷ lệkhoảng 70% Bên cạnh những đóng góp lượng hóa được thì khu vực FDI còn có tác độnglan tỏa đến các khu vực khác của nền kinh tế, khơi dậy nguồn lực đầu tư trong nước,chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải cách DN nhà nước, đổi mới thủ tục hành chính, hoàn thiệnthể chế kinh tế thị trường, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế

4.3 Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Startup ra đời

Cách mạng công nghiệp 4.0 đang mở ra cơ hội cho nền kinh tế thế giới và các doanhnghiệp vừa, nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp Tại Việt Nam, phong trào khởi nghiệp đang

Trang 19

nở rộ và các doanh nghiệp đã, đang có những sự chuẩn bị kỹ càng và sẫn sàng đón nhậncác cơ hội là cuộc cách mạng lần thứ 4 mang lại.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra với tốc độ rất nhanh chóng, tác động đếnnhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Bên cạnh đó, phong trào khởi nghiệp đang pháttriển vô cùng mạnh mẽ tại Việt Nam và được sự quan tâm đặc biệt của Lãnh đạo Đảng,Nhà nước, các Bộ, ngành cũng như toàn thể cộng đồng Xu hướng khởi nghiệp cũng làmột trong những động lực thúc đẩy sự phát triển các sản phẩm công nghệ sáng tạo đápứng yêu cầu của đời sống xã hội

Số liệu từ Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy hằng năm có hơn 1.000 doanhnghiệp khởi nghiệp ra đời tại Việt Nam và tạo ra động lực, sức sống mới cho nền kinh tế

Bà Phạm Thị Oanh, Giám đốc Công ty cổ phần phát triển công nghệ mới Toàn Cầu, chorằng: “Cùng với sự phát triển của đất nước, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được công tychúng tôi đánh giá là cơ hội để thay đổi căn bản về cách quản lý, tối ưu hóa quy trình vàtăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh Để chuẩn bị cho cách mạng 4.0 Công ty cổ phần pháttriển Công nghệ mới Toàn Cầu đã lên kế hoạch đào tạo nhân viên về công nghệ thông tin

để có thể áp dụng vào sản xuất, kinh doanh Thay đổi cách quản lý kho hàng, kế toán bằngcác phần mềm Đào tạo nhân viên để có thể bán hàng, giải quyết đơn hàng dựa trên phầnmềm mà nền tảng công nghệ số”

Cuộc cách mạng 4.0 đã giúp các doanh nghiệp trẻ ở Việt Nam đẩy mạnh ứng dụngcông nghệ thông tin vào các lĩnh vực, khai thác hiệu quả hơn nữa những nguồn tài nguyênsẵn có Với 4.0, hàng tỷ kết nối giữa con người với con người, con người với máy móc,máy móc với máy móc… làm thay đổi phương thức kinh doanh và tổ chức sản xuất Ông

Lê Quang Bình, Phó Giám đốc Công ty TNHH công nghệ thương mại Đức Tuấn, chorằng: “Trước đây nếu doanh nghiệp muốn bán hàng thì phải mở cửa hàng, trưng bày cácsản phẩm để mọi người nhìn thấy đến xem và mua Còn hiện nay, chỉ cần lên internet,hàng triệu người có thể thấy sản phẩm của doanh nghiệp đang bán và cũng chỉ với một cúnhấp chuột là khách hàng có thể mua được sản phẩm Chính vì vậy, doanh nghiệp phải có

sự thay đổi, từ sản xuất, mẫu mã, marketing đến bán hàng, nhất là với doanh nghiệp start

up, phải quan tâm và đề ra hướng đi phù hợp cho doanh nghiệp”

Ông Nguyễn Đồng Hà, Giám đốc Marketing Công ty Vietchem, cho rằng: 4.0 khiếndoanh nghiệp phải thay đổi Nếu doanh nghiệp startup có quy trình hoàn chỉnh, chặt chẽ,

hệ thống quản lý nhanh, hiệu quả thì sẽ cạnh tranh và phát triển Chính vì thế, tiếp cận

Ngày đăng: 11/05/2023, 10:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w