MÔN HỌC NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ THẢO LUẬN NHÓM Buổi thảo luận thứ tư Bảo vệ quyền sở hữu Lớp 128 QT46B1 Nhóm 1 STT Họ và tên MSSV 1 Nguyễn Thị Ánh Nguyệt – Nhóm trưởng[.]
Trang 1MÔN HỌC: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ,
TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ - THẢO LUẬN NHÓM
Buổi thảo luận thứ tư: Bảo vệ quyền sở hữu
5 Nguyễn Hoàng Yến Nhi 2153801015188
Trang 2I ĐÒI ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA:
Tóm tắt quyết định số 123/2006/DS-GĐT ngày 30/05/2006 của Tòa dân sự Tòa án
nhân dân tối cao.
Ông Triệu Tiến Tài có trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và
có một con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi chăn thả ở bãi đất trống và bị anh Hà Văn Thơ chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
Quyết định của Tòa án công nhận quyền sở hữu hợp pháp đối với động sản là con trâu và con nghé cho ông Tài, ông Thơ chiếm hữu động sản không có căn cứ pháp luật, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm lại
Câu 1: Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?
Trả lời câu hỏi:
Trâu là động sản Vì trâu không thuộc bất kỳ hạng mục nào của các loại bất động sản được liệt kê ở khoản 1 Điều 107 BLDS 2015
Điều 107 BLDS 2015 quy định:
“1 Bất động sản bảo gồm:
a Đất đai;
b Nhà, công trình xây dựng gắn liền đất đai;
c Tài sản gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng,
d Tài sản khác được quy định theo pháp luật.
2 Động sản là những tài sản không phải bất động sản.”
Câu 2: Trâu có phải là tài sản đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao?
Trả lời câu hỏi:
Trâu không phải là tài sản đăng ký quyền sở hữu Theo khoản 2 Điều 106 BLDS
2015 quy định: “Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng
ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.”
Trang 3Câu 3: Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài?
Trả lời câu hỏi:
Đoạn của Quyết định cho thấy con trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông
Tài: “Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06, 07, 08), lời khai của các nhân
chứng là anh Phúc (BL 19), anh Chu (BL 20), anh bảo (BL 22) và kết quả giám định con trâu đang tranh chấp (biên bản giám định ngày 16/8/2004, biên bản xác minh của cơ quan chuyên môn về vật nuôi ngày 17/8/3005, biên bản diễn giải biên kết quả giám định trâu ngày 20/8/2004), (BL 40, 41, 41a, 42) thì đủ cơ sở xác định con trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài Ông Thơ là người chiếm hữu, sử dụng tài sản không
có căn cứ pháp luật.”
Câu 4: Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh như hoàn cảnh có tranh chấp?
Trả lời câu hỏi:
Theo khoản 1 Điều 179 BLDS 2015: “Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối
tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.”Trong tình huống này, người đang chiếm hữu trâu là ông Thơ
Câu 5: Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không?
Vì sao?
Trả lời câu hỏi:
Việc chiếm hữu của ông Dòn không có căn cứ pháp luật Vì ngay từ đầu việc chiếm hữu của ông Thơ đã không có căn cứ pháp luật Trong quyết định không có tài liệu chứng minh và dựa trên kết quả của cơ quan chuyên môn đủ xác định con trâu và con nghé thuộc
quyền sở hữu của ông Triệu Tiến Tài Căn cứ vào khoản 2 Điều 165 BLDS 2015 về chiếm
hữu tài sản có căn cứ pháp luật Tuy ông Dòn được chuyển giao tài sản thông qua giao dịch
Trang 4dân sự với ông Thơ nhưng thực chất ông Thi cũng là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, nên việc chiếm hữu con trâu của ông Dòn cũng không có căn cứ pháp luật.
Câu 6: Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Trả lời câu hỏi:
Theo khoản 2 Điều 165 BLDS 2015: “Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với
quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.” Điều 180 BLDS 2015: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.” Vậy chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
nhưng ngay tình là khi người chiếm hữu không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật
Câu 7: Người như trong hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình hay không? Vì sao?
Trả lời câu hỏi:
Người như hoàn cảnh của ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình Vì căn cứ vào
Điều 180 BLDS 2015: "Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu" Trường hợp của ông
Dòn thì ông mua lại trâu do ông Thi bán, ông hoàn toàn không biết về việc con trâu là của ông Tài, ông có căn cứ tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu
Câu 8: Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong BLDS?
Trả lời câu hỏi:
Hợp đồng có đền bù:
Hợp đồng có đền bù là hợp đồng mà trong đó mỗi bên chủ thể sau khi đã
thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng Đa
số các hợp đồng dân sự là hợp đồng có đền bù Tính chất đền bù trong hợp đồng được các bên áp dụng để thực hiện việc trao đổi với nhau các lợi ích vật chất
Trang 5+ Ví dụ: Hợp đồng mua bán tài sản Điều 430 BLDS 2015, hợp đồng cho thuê tài sản Điều 483 BLDS 2015,…
Hợp đồng không có đền bù:
Hợp đồng không có đền bù là hợp đồng mà trong đó một bên nhận được
từ bên kia một lợi ích nhưng không phải giao lại một lợi ích nào Hợp đồng không
có đền bù thường được giao kết trên cơ sở tình cảm và tinh thần tương thân, tương
ái giữa các chủ thể Trong quá trình giao kết hợp đồng này, dù đã hứa hẹn, thống nhất ý chí nhưng việc chấp nhận đề nghị không mang tính chất ràng buộc đối với bên được đề nghị Do đó, đối với hợp đồng tặng cho tài sản, pháp luật quy định có hiệu lực khi các bên đã thực tế trao cho nhau đối tượng tặng cho hoặc đã hoàn thành thủ tục chuyển quyền sở hữu
+ Ví dụ: Hợp đồng tặng cho tài sản Điều 457 BLDS 2015,…
Câu 9: Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù?
Vì sao?
Trả lời câu hỏi:
Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù Vì ông Thơ bán trâu
mẹ cho ông Thi, sau đó ông Thi đổi cho ông Dòn lấy con trâu cái sổi Như vậy, có thể thấy đây là giao dịch mà ở đó mỗi bên chủ thể sau khi đã thực hiện cho bên kia một lợi ích tương ứng Do vậy, đây là hợp đồng có đền bù
Câu 10: Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài không?
Trả lời câu hỏi:
Con trâu đang tranh chấp đang bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài
Bởi vì không có căn cứ để xác định rằng ông Tài từ bỏ quyền sở hữu đối với con trâu mẹ và nghé vì khi đẻ được con nghé đực, hàng tháng ông vẫn lên xem và khi ông Hà Văn Thơ dắt một con trâu mẹ và một con nghé khoảng 3 tháng tuổi đi qua nhà ông, ông
Trang 6nhận ra là trâu và nghé của ông và có nói với ông Thơ nhưng ông Thơ nói là con trâu đó ông đã mua vào tháng 6/2002 Sau đó ông Thơ đã dắt trâu về nhà mổ thịt nghé và bán trâu
mẹ cho ông Thi Cuối cùng ông Thi đã đổi cho ông Dòn con trâu mẹ để lấy con trâu cái sổi Điều này chứng tỏ ràng ông Tài không hề muốn sự việc đó xảy ra Vậy nên, con trâu
có tranh chấp là bị lấp cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chỉ của Tài
Câu 11: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trả lời câu hỏi:
Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài không được phép đòi con trâu
từ ông Dòn Căn cứ vào đoạn: “Tòa án cấp phúc thẩm nhận định con trâu mẹ và con nghé
là của ông Tài là đúng, nhưng chỉ buộc ông Thơ phải trả cho ông Tài giá trị con nghé mà ông Thơ mổ thịt là 900.000 đồng và bác yêu cầu của ông Tài đòi ông Thơ trả lại con trâu
mẹ vì cho rằng ông Dòn là người đang chiếm hữu con trâu nên ông Tài phải khởi kiện ông Dòn là sai”
Câu 12: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Trả lời câu hỏi:
Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao giải quyết hợp lý đúng quy định pháp luật
Đảm bảo quyền lợi cho ông Tài theo Điều 166 BLDS 2015 Quyền đòi lại tài sản thì chủ sở
hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp được quy định tại Điều 236 Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu
ngay tình thì áp dụng theo Điều 167 BLDS 2015 Để đảm bảo được quyền lợi của ông Dòn
- người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình Nhưng xét trong trường hợp này, người thứ ba (Ông Dòn) có nhu cầu sử dụng tài sản, cho nên họ đã mua hoặc đổi
Trang 7tài sản (đổi con trâu đực bằng con trâu cái sồi) để có tài sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc nhu cầu kinh doanh Khi tham gia giao dịch họ không biết tài sản sản đó là của người thứ
ba, cho nên hành vi của họ là ngay tình Vì thế pháp luật cần phải bảo vệ lợi ích của người ngay tình, cho phép người thứ ba xác lập quyền sở hữu với tài sản đó Mặt khác pháp luật cũng bảo vệ quyền của chủ sở hữu (ông Tài), cho phép chủ sở hữu yêu cầu người chiếm hữu hợp pháp (ông Thi) bồi thường giá trị tài sản
Câu 13 Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo vệ ông Tài không?
Trả lời câu hỏi:
Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định
để bảo vệ ông Tài Tòa án cho rằng trâu mẹ và con nghé con là của ông Tài và cho rằng con trâu cái đang do ông Dòn quản lý nên ông Tài phải khởi kiện đòi giá trị con trâu từ ông Dòn và quyết định chỉ buộc ông Thơ phải trả lại con nghé
Theo khoản 1 Điều 166 BLDS 2015 về Quyền đòi lại tài sản:
“1 Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.”
Vì ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình, trâu là động sản không đăng ký quyền sở hữu nên sẽ áp dụng Điều 167 BLDS 2015 về Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền
sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình;
“Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trông Trê hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó
bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.”
Trang 8Theo xét xử của Tòa án thì ông Tài là chủ sở hữu hợp pháp, có quyền chiếm hữu đối với con trâu Ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình Hợp đồng giữa ông Dòn và ông Thi là hợp đồng trao đổi tài sản có đền bù Theo điều 167 thì chủ sở hữu là ông Tài có quyền đòi lại trâu từ ông Dòn.
Câu 14 Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trả lời câu hỏi:
Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã hướng ông Tài được quyền yêu cầu ông Thơ trả giá trị con trâu
Đoạn trong Quyết định cho câu trả lời: “Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định con trâu tranh chấp giữa ông Tài và ông Thơ và đã quyết định buộc ông Thơ là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn lại giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là có căn
cứ pháp luật.”
Câu 15 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Trả lời câu hỏi:
Theo suy nghĩ cá nhân hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao là hợp lý, đảm bảo được lợi ích của ông Tài Tòa án quyết định công nhận quyền sở hữu hợp pháp đối với động sản là con trâu và con nghé cho ông Tài căn cứ vào các tư liệu và tiến hành điều tra, ông Thơ chiếm hữu động sản không có căn cứ pháp luật, giao hồ sơ vụ án cho Tòa
án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm lại
II ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA:
Trang 9Tóm tắt bản án số 07/2018/DS-GĐT.V/v tranh chấp quyền sở hữu nhà, quyền sử
dụng đất
Nguyên đơn là bà Trần Thị X (chết ngày 05/01/2008) khởi kiện bà Nguyễn Thị N, đơn khởi kiện ngày 16/06/2005 nội dung xét xử liên quan đến tranh chấp quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất Đất tranh chấp có diện tích 1.518,86 m2 (đo thực tế 1.466,1 m2) thuộc quyền sử dụng của bà X Nguồn gốc nhà đất tranh chấp là của cụ Lê Thị Như M mua của giáo xứ LT trước năm 1975 Sau đó cụ M xuất cảnh nên lập giấy ủy quyền cho con gái
là bà Nguyễn Thị Thanh T và bà T được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà Năm
1989, bà T cũng xuất cảnh sang Pháp phải cam kết không có tài sản nên lập hợp đồng chuyển nhượng cho bà X, trên thực thế không có việc chuyển nhượng Ngày 06/6/1989, bà
X được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà nêu trên Bà T chấp nhận cho lại bà X và các thừa kế của bà X toàn bộ tài sản tranh chấp nêu trên
Do sự giới thiệu của chồng bà X, bà N có chuyển về ở tại khu đất tranh chấp Trong quá trình ở, bà N có sửa sang, cải tạo, giữ gìn đất và nộp thuế cho Nhà nước Ngày 24/4/2010 bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất diện tích 1.240,8 m2 Sau đó
bà N chuyển nhượng cho vợ chồng ông M bà Q, tặng cho chị L toàn bộ diện tích đất là 1.240,8 m2 Sau đó ông M xây dựng nhà 4 tầng trên đất, còn chị L chuyển nhượng một quần đất cho ông Đ và bà T Cả 4 người là ông M, chị L, ông Đ và bà T đều được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tòa án Nhân dân tối cao quyết định chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 73/2017/KN-DS ngày 25/9/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Quyết định hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 91/2016/DS-PT ngày 06 và 09/5/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2015/DS-TS ngày 24/9/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh B Đồng thời giao nộp hồ sơ vụ
án cho Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, đúng quy định của pháp luật
Trang 10Câu 1: Đoạn nào của Quyết định giám đốc thẩm cho thấy quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?
Trả lời câu hỏi:
Quyết định số 07/2018/DS-GĐT ngày 09/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao có đoạn: “Ngày 09/6/1989, bà X được cấp Giấy chứng nhận quyền sở
hữu nhà nêu trên Sau khi làm thủ tục chuyển nhượng cho bà X thì bà T giữ toàn bộ giấy
tờ Nay bà X và bà T không tranh chấp, bà T đồng ý cho lại bà X và các thừa kế của bà X toàn bộ tái sản tranh chấp nêu trên Như vậy, căn cứ vào nội dung trình bày của bà T và các giấy tờ có liên quan thì toàn bộ diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà X.” đã cho thấy rõ quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc bà X.
Đồng thời, đoạn: “[5] Trên cơ sở Bản án dân sự phúc thẩm số
123/2009/DS-PT…Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 138 và Điều 258 Bộ luật dân sự 2005 thì các giao dịch chuyển nhượng và tặng cho đất của ông M, bà Q, chị L, ông Đ, bà T là các giao dịch của người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ.” cho thấy bà N chuyển giao quyền sử
dụng đất tranh chấp thuộc bà X cho người thứ ba ngay tình
Câu 2: Theo quy định (trong BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015), chủ sở hữu bất động sản được bảo vệ như thế nào khi tài sản của họ được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?
Trả lời câu hỏi:
Theo quy định của cả 2 BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 thì đều có quy định bảo đảm quyền lợi của chủ sở hữu bất động sản
Điều 164 BLDS 2015 quy định về biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản:
Trang 11“1 Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất
kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.
2 Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”
Điều 166 BLDS 2015 quy định về quyền đòi lại tài sản:
1 Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
2 Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó."
Và các Điều 169, Điều 255, Điều 256 BLDS 2005 cũng quy định về việc bảo vệ
quyền cũng như các biện pháp để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu tài sản
Căn cứ vào các điều luật trên, chủ sở hữu bất động sản được bảo vệ quyền lợi bằng nhiều hình thức khác nhau như đòi lại tài sản, quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi trong việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải bồi thường thiệt hại và hoàn trả chi phí tài sản bị chiếm hữu bởi người thứ ba
Câu 3: Để bảo vệ bà X, theo Tòa án nhân dân tối cao, Toà án phải xác định trách nhiệm của bà N như thế nào đối với bà X?
Trả lời câu hỏi:
Tòa án buộc bà N trả bằng giá trị sử dụng diện tích 914m2 đất cho bà X, đồng thời Tòa án công nhận quyền sử dụng đất của ông M nhưng buộc bà N bồi thường giá trị bất
động sản tương đương 1.254.400.000 đồng cho bà X mới phù hợp Căn cứ khoản 2 Điều
164 BLDS 2015: “2 Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu
Trang 12Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại” Bà N đã xâm phạm quyền sở
hữu đất của bà X nên phải bồi thường theo trách nhiệm dân sự
Câu 4: Hướng của Tòa án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định trong BLDS chưa?
Trả lời câu hỏi:
Như đã nói tại Điều 168 BLDS 2015 về quyền đòi lại bất động sản từ người chiếm
hữu ngay tình Tuy nhiên bà X có quyền đòi lại tài sản đối với bà N (người chiếm hữu ngay tình trước đó còn ông M sau khi được chuyển nhượng từ bà N và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 01/10/2010 (là người thứ ba ngay tình)) nên được pháp luật bảo vệ
Hướng của Tòa án nhân dân tối cao đã được quy định trong bộ luật dân sự 2015 như sau:
Căn cứ khoản 2 Điều 133 BLDS 2015 Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình
khi giao dịch dân sự vô hiệu quy định: ‘’Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng
ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.’’
Căn cứ vào khoản 3 Điều 133 BLDS 2015: ‘’Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài
sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.’’