1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các hình thái biểu hiện của địa tô so sánh các hình thái đó có ý kiến cho rằng, ở việt nam chỉ hiện nay không có hình thái biểu hiện của địa tô mà chỉ thực hiện quan hệ thuế đất

19 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích các hình thái biểu hiện của địa tô
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế tài nguyên đất
Thể loại Bài tập học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 212,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word Nguyễn Xuân Hương triet14 baitap 3 doc TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN *** BÀI TẬP HỌC PHẦN KINH TẾ TÀI NGUYÊN ĐẤT 1 Chủ đề 8 Phân tích các hình thái biểu hiện của địa tô? So sánh các h[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

***

BÀI TẬP HỌC PHẦN

KINH TẾ TÀI NGUYÊN ĐẤT 1

Chủ đề 8 :

Phân tích các hình thái biểu hiện của địa tô? So sánh các hình thái đó? Có ý kiến cho rằng, ở Việt Nam chỉ hiện nay không có hình thái biểu hiện của địa tô mà chỉ thực hiện quan hệ thuế đất vì bản chất địa tô là bóc lột giá trị gia tăng từ việc sử dụng đất đai Hãy bình luận quan điểm trên.

Hà Nội - 3/2023

Trang 2

Thành viên nhóm 6:

1 Nguyễn Xuân Hương – 11201738

2 Nguyễn Thị Minh Hiền – 11201425

3 Lê Thị Phương Trang – 11208048

4 Hoàng Thanh Bình – 11200527

5 Trần Thị An Bình - 11204625

MỤC LỤC

I Các hình thái biểu hiện của địa tô 3

1 Địa tô lao dịch 3

2 Địa tô hiện vật 4

3 Địa tô bằng tiền 5

II So sánh các hình thái địa tô 6

 Giống nhau: 6

 Khác nhau 7

III Câu hỏi bàn luận 8

Vấn đề 1: Ở Việt Nam hiện nay không có hình thái biểu hiện của địa tô mà chỉ thực hiện quan hệ thuế đất 8

Vấn đề 2: Bản chất địa tô là bóc lột giá trị gia tăng từ việc sử dụng đất đai 15

Vấn đề 3 : Thực tiễn tại Việt Nam 15

Đề xuất 17

III Kết Luận 18

Trang 3

I Các hình thái biểu hiện của địa tô

1 Địa tô lao dịch

a) Khái niệm:

• Là hình thái đầu tiên của địa tô, trả tô bằng sức lao động cho chủ sở hữu đất

• Tồn tại trong chế độ phong kiến

• Người lao động nhận đất của địa chủ, lao động không công cho địa chủ (thời gian lao động do địa chủ quy định)

Ví dụ: trong thời kì đầu của chế độ phong kiến phương Tây, nông nô được nhận ruộng đất của lãnh chúa để cày cấy Điều kiện để được nhận ruộng đất: hàng năm, ngoài nông sản (địa tô hiện vật) thì các nông nô còn phải lao động, làm việc không công trên phần ruộng đất của lãnh chúa bằng nông cụ và súc vật của mình mỗi tuần 3 - 4 ngày (theo quy định)

Trong địa tô lao dịch, lao động mà người sản xuất trực tiếp làm cho bản thân mình (lao động cần thiết) tách rời về không gian và thời gian với lao động thặng dư mà họ làm cho địa chủ Tuy vẫn là quan hệ bóc lột, nô dịch và thống trị, nhưng so với những người

nô lệ thì sự lệ thuộc đã giảm nhẹ dần cho đến khi chỉ còn là một nghĩa vụ cống nạp Trong địa tô lao dịch, người sản xuất trực tiếp được lao động tự do trên mảnh đất mà họ chiếm hữu nên họ tích cực lao động và họ có thể cải thiện hoàn cảnh của mình, có thể trở nên khá giả và sản xuất được một số dôi ra ngoài các tư liệu sinh hoạt cần thiết của họ, nghĩa là họ có thể làm tăng tài sản của họ một cách độc lập, hay là làm tăng sự giàu có của họ

Được chia làm hai bộ phận: một bộ phận là tài sản và kinh tế trực tiếp của địa chủ,

bộ phận còn lại đem chia cho nông nô dưới hình thức đất quân cấp Bằng nông cụ và súc vật của mình, nông nô sử dụng một bộ phận thời gian canh tác trên phần đất được chia để sinh sống, còn đại bộ phận thời gian họ phải canh tác không công trên phần đất của địa chủ Thời gian mà nông nô phải lao động không công trên ruộng đất của địa chủ bằng nông cụ và súc vật của mình gọi là ĐTLD Nhìn chung, ĐTLD chỉ tồn tại trong giai đoạn đầu của chế độ phong kiến, khi còn kinh tế tự nhiên, sản xuất chưa phát triển, năng suất lao động chưa cao, nhưng có sự phân chia lao động tất yếu và lao động thặng dư một cách rõ rệt cả về thời gian cũng như về không gian

Đồng thời, đây cũng là hình thức địa tô phản ánh một cách rõ ràng, cụ thể sự bóc lột của địa chủ, của chúa phong kiến đối với nông dân - nông nô

Trang 4

b) Ưu nhược điểm

- Ưu điểm: Lần đầu tiên thấy sự xuất hiện của hình thái địa chủ

- Nhược điểm: Không thể hiện rõ được bản chất của địa tô, dẫn đến địa tô bị che lấp Do không phân biệt rõ lao động cho bản thân và lao động không được trả công (trả cho chủ đất)

2 Địa tô hiện vật

a) Khái niệm:

• Địa tô được thể hiện là một phần sản phẩm tạo ra từ đất đai mà người sử dụng đất phải chia cho chủ sở hữu

• Người lao động (sử dụng đất) tự do làm việc trên đất, cuối năm nộp một khoản sản phẩm cho chủ đất theo giao ước

Ví dụ: Khi kinh tế hàng hóa phát triển, thì khoản tiền mà nông nô phải trả cho địa chủ là nông sản, hoa màu trên mảnh đất đó để được sử dụng đất trong một khoảng thời gian nhất định

Khi địa tô lao dịch chuyển thành địa tô sản hiện vật, thì người sản xuất trực tiếp, người chiếm hữu các điều kiện lao động cần thiết, phải cung cấp cho người sở hữu những điều kiện lao động ấy, tức là chủ ruộng, những sản phẩm thặng dư, chẳng kể địa chủ là tư nhân hay nhà nước Địa tô hiện vật khác với địa tô lao dịch là lao động thặng

dư không bắt buộc phải thực hiện dưới hình thái tự nhiên của nó, vì vậy cũng không phải thực hiện dưới sự giám sát và sự cưỡng chế trực tiếp của địa chủ hay của người đại biểu cho địa chủ Trái lại, người sản xuất trực tiếp thực hiện lao động thặng dư do những quy định của pháp luật, trên mảnh ruộng thực tế thuộc về anh ta, do anh ta canh tác chứ không phải trên mảnh đất của lãnh chúa như trước kia Người sản xuất trực tiếp có thể ít hoặc nhiều sử dụng toàn bộ thời gian lao động của mình, mặc dù một phần thời gian đó vẫn phải lao động không công cho địa chủ, nhưng khác ở chỗ bây giờ địa chủ không nhận cái phần lao động thặng dư ấy dưới hình thái tự nhiên của nó nữa mà dưới hình thái sản phẩm, trong đó lao động thặng dư được thực hiện Lao động mà người sản xuất trực tiếp làm cho bản thân và lao động mà anh ta cung cấp cho địa chủ không còn tách biệt nhau về không gian và thời gian nữa Ngoài ra, người sản xuất trực tiếp còn có thể kết hợp công việc gia đình với nông nghiệp

Địa tô hiện vật có thể không rút hết lao động thặng dư, có thể dành cho người sản xuất trực tiếp một phạm vi hoạt động rộng rãi hơn, thậm chí có khả năng làm cho người sản xuất trực tiếp kiếm được những phương tiện để đến lượt anh ta lại trực tiếp bóc lột

Trang 5

lao động của người khác Nhưng địa tô hiện vật cũng có thể khiến những người sản xuất trực tiếp rơi vào cảnh nợ nần, nhất là khi thiên tai, dịch hại dẫn đến mất mùa, đến mức không thể tái sản xuất, càng không thể mở rộng sản xuất và phải tự bằng lòng với một số

tư liệu sinh hoạt tối thiểu để sống lay lắt qua ngày

b) Ưu , nhược điểm

- Ưu điểm:

+ Phân phối giữa chủ sở hữu đất và người sử dụng đất có căn cứ vào kết quả tạo ra trên đất (người sử dụng đất tự do sản xuất trên mảnh đất đã nhận)

+ Tiến bộ hơn hình thái địa tô lao dịch

- Nhược điểm:

+ Chưa phản ánh bản chất của địa tô

+ Tồn tại dưới dạng sản phẩm thặng dư, không nhìn thấy quan hệ bóc lột của chủ sở hữu và người sử dụng đất

3 Địa tô bằng tiền

a) Khái niệm:

• Địa tô được đo lường bằng giá trị, sử dụng các quan hệ tiền tệ hóa liên quan đến đất đai

• Đây là hình thái tiến bộ nhất

• Người sử dụng đất nộp tiền thuê theo hợp đồng với chủ sở hữu

Ví dụ: Khi nền công nghiệp phát triển như là công nghiệp khai thác, để thuê đất thì công nhân nông nghiệp phải nộp 1 phần thặng dư thu nhập bình quân của mình ( giá trị sản phẩm ) chuyển thành lợi nhuận cho tư bản công nghiệp

Sự phát triển thương nghiệp, công nghiệp, thành thị và sự phát triển sản xuất hàng hóa nói chung, khiến việc chuyển hóa địa tô hiện vật thành địa tô bằng tiền, lúc đầu diễn

ra lẻ tẻ, rồi sau đó diễn ra trên quy mô cả nước Bây giờ, người sản xuất trực tiếp trả giá

cả sản phẩm cho kẻ sở hữu ruộng đất chứ không nộp chính ngay sản phẩm ấy Như vậy, một bộ phận sản phẩm của người sản xuất trực tiếp buộc phải chuyển thành hàng hóa Do

đó, tính chất của toàn bộ PTSX ít nhiều đã biến đổi, nhưng người sản xuất trực tiếp vẫn như trước là người chiếm hữu ruộng đất, phải cung cấp cho địa chủ, với tư cách là kẻ sở hữu điều kiện sản xuất chủ yếu, một số lao động không công dưới hình thái một sản phẩm thặng dư đã chuyển hóa thành tiền Tuy nhiên, quyền sở hữu những điều kiện lao động khác với ruộng đất (như nông cụ ) đã trở thành quyền sở hữu - lúc đầu trên thực

tế, về sau trên pháp lý, của người sản xuất trực tiếp

Trang 6

Với địa tô bằng tiền, mối quan hệ tập quán và truyền thống giữa người sở hữu ruộng đất và những người bị lệ thuộc chiếm hữu một phần ruộng đất và canh tác chỗ ruộng đất đó, nhất thiết biến thành mối quan hệ thuần túy, có tính chất hợp đồng và được quy định theo những quy tắc cứng rắn của luật pháp thành văn Vì vậy, người chiếm hữu

và canh tác chỗ ruộng đất đó dĩ nhiên sẽ biến thành một người thuê đất giản đơn Và sự chuyển hóa địa tô sản phẩm thành địa tô tiền cũng tạo điều kiện cho một bộ phận những người chiếm hữu trước kia chuộc lại nghĩa vụ trả tô của mình và biến thành một nông dân độc lập, có quyền sở hữu đầy đủ về ruộng đất mà anh ta canh tác, tức là tiểu nông

Còn người công nhân tự do trong xã hội TBCN thì bán sức lao động của mình như một hàng hóa Anh ta không thuộc về một người chủ nhất định Người công nhân có thể

tự ý thôi làm việc cho nhà tư bản này khi chấm dứt hợp đồng lao động và chuyển sang làm việc cho một nhà tư bản khác; nhà tư bản cũng có thể sa thải anh ta khi cần, nhưng người công nhân lại không thể tự ý rời bỏ toàn bộ giai cấp người mua sức lao động là giai cấp tư sản, nếu anh ta không muốn bị chết đói Anh ta không thuộc về nhà tư bản này hay nhà tư bản khác nhưng thuộc về toàn bộ giai cấp tư sản Vì người công nhân làm chủ sở hữu sức lao động nên nhận được tiền công Nhưng anh ta chỉ được nhà tư bản trả tiền công chừng nào anh ta còn tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của sức lao động (biểu hiện dưới hình thái tiền công), tức là tạo ra GTTD mà GTTD chỉ là lao động thặng

dư đã vật hóa

Ở Việt Nam, do kinh tế hàng hóa kém phát triển nên chế độ địa tô tiền tuy xuất hiện sớm, nhưng chưa bao giờ trở nên phổ biến và chiếm vị trí chủ yếu

b) Ưu nhược điểm

- Ưu điểm:

+ Phản ánh đầy đủ và đo lường địa tô bằng tiền

+ Cơ sở để hoạch định và thực hiện các chính sách kinh tế về đất đai

- Nhược điểm: Phải đo lường, lượng hóa giá trị tô đất thì mới sử dụng được các công cụ, chính sách trong quá trình điều tiết, phân phối các lợi ích

II So sánh các hình thái địa tô

Trong lịch sự hình thành và phát triển của địa tô, có thể kể đến 3 hình thức biểu hiện của địa tô đó là: địa tô lao dịch, địa tô sản phẩm (địa tô bằng hiện vật), địa tô bằng tiền Trong đó địa tô lao dịch là hình thức đầu tiên của địa tô và địa tô bằng tiền là hình thức biểu hiện cao và phát triển nhất của địa tô

Trang 7

 Giống nhau:

Phản ánh mối quan hệ giữa chủ sở hữu đất và người sử dụng đất

 Khác nhau

Địa tô lao dịch Địa tô bằng hiện

vật

Địa tô bằng tiền

Hình thái Hình thái đầu tiên Hình thái tiến bộ của

địa tô lao dịch

Hình thái tiến bộ nhất

Thời kì

xuất hiện

Phong kiến, chiếm hữu

nô lệ khi quan hệ tiền tệ hàng hóa chưa ra đời

Phong kiến Tư bản chủ nghĩa

Nền nông nghiệp đã phát triển và có những thành tựu

Chế độ Địa tô phong kiến Địa tô phong kiến Địa tô tư bản chủ

nghĩa

Hình thức

- Người sử dụng đất bỏ thời gian và sức lao động trực tiếp để trả cho chủ sở hữu

- Thời gian lao động phụ thuộc vào mức địa

- Người sử dụng đất không còn là lao động trực tiếp cho địa chủ

- Họ dùng các sản phẩm thặng dư trong việc khai thác ruộng đất để trả cho chủ sở

hữu

- Người sử dụng đất trả địa tô bằng giá trị sản phẩm

Tồn tại

giai cấp

2 giai cấp: địa chủ và nông dân

2 giai cấp: địa chủ

và nông dân

3 giai cấp chủ yếu: địa chủ, tư bản kinh doanh ruộng đất, công nhân thuê

Mối quan

hệ giữa

chủ đất

và người

lao động

Người lao động phải làm không công trên phần đất của địa chủ

Người lao động theo định kì phải nộp phần sản phẩm thặng dư cho địa chủ phong kiến dưới

Người lao động nộp tiền thuê theo hợp đồng với chủ sở hữu

Trang 8

hình thái hiện vật.

Bản chất

Không thể hiện rõ được bản chất của địa tô mà phản ánh một cách rõ ràng, cụ thể sự bóc lột của địa chủ, của chúa phong kiến đối với nông dân - nông nô nhiều hơn Có sự phân chia lao động tất yếu và lao động thặng dư một cách

rõ rệt cả về thời gian cũng như về không

gian

Thể hiện quan hệ phân phối lợi ích trong sử dụng đất giữa người sử dụng

và chủ sở hữu

Chưa phản ánh bản chất của địa tô Vẫn mang tính áp đặt của chủ sở hữu đất trong quá trình thực hiện thu tô đất Phân phối giữa chủ sở hữu đất

và người sử dụng đất có căn cứ vào kết quả tạo ra trên đất, không còn tách biệt nhau về không gian và thời gian nữa

- Phản ánh đúng bản chất của địa tô mang lại thu nhập cho chủ

sở hữu

- Cơ sở giải quyết các quan hệ kinh tế của hệ thống các chính sách kinh tế

về đất đai

III Câu hỏi bàn luận

Vấn đề 1: Ở Việt Nam hiện nay không có hình thái biểu hiện của địa tô mà chỉ

thực hiện quan hệ thuế đất

Đất đai là một tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ

sở kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng Ngày nay, đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao đất, rừng cho các tổ chức kinh tế hay đơn vị vũ trang để sử dụng Để bổ sung cho nguồn ngân sách và thông qua ngân sách thực hiện một số chính sách phát triển nông nghiệp, những người thuê đất phải đóng thuế cho nhà nước Thuế này khác xa với địa tô tư bản chủ nghĩa và địa tô phong

Trang 9

kiến vì nó tập trung vào ngân sách đem lại lợi ích cho toàn dân, nó không mang bản chất bóc lột của địa tô phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa

Ở Việt Nam hiện nay vẫn còn có hình thái địa tô bằng tiền được sử dụng bởi vì hình thái này là hình thái tiến bộ nhất Địa tô này được đo lường bằng giá trị, sử dụng các quan hệ tiền tệ hóa liên quan đến đất đai, người sử dụng đất nộp tiền thuê theo hợp đồng với chủ sở hữu Và bản chất của địa tô theo ta hiểu là phần bóc lột giá trị thặng dư nhưng đến thời kì này “bóc lột” cũng không còn được như trước nữa , vì bây giờ người dân sử dụng đất chỉ giao nộp một phần nhỏ giá trị thặng dư chứ không phải toàn bộ giá trị này Cùng với đó nước ta cũng có quan hệ thuế đất rõ ràng, quan hệ này phân phối lợi ích công bằng do đất đai tạo nên giữa Nhà nước (đại diện chủ sở hữu) với người sử dụng đất

Để thực hiện địa tô bằng tiền kết hợp với quan hệ thuế đất hiệu quả, hợp lý thì Nhà nước

ta đã sử dụng những công cụ như thuế, phí hay những luật định, chính sách để có thể quản lý, sử dụng đất cũng như phân phối các lợi ích tới các bên liên quan một cách phù hợp và tiết kiệm

1 Biểu hiện quan hệ thuế đất

Thuế sử dụng đất là loại thuế mà người sử dụng đất phải nộp trong quá trình sử dụng đất Đây là một loại thuế gián thu được áp dụng đối với quyền sử dụng đất Đối tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất, được Nhà nước giao quyền

sử dụng đất

a Theo Hiến pháp và Luật Đất 2013 ở Việt Nam, Đất đai thuộc sở hữu toàn dân

do Nhà nước đại diện chủ sở hữu

Với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, Nhà nước có các quyền:

• Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất

• Quy định hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất

• Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

• Định giá đất

• Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại

Còn với người sử dụng đất có quyền:

• Được Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất thông qua hình thức cấp

Trang 10

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

• Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất

• Hưởng các lợi ích do các công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp

• Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp

• Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình

• Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai

• Có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

=> Sự phân chia quyền quản lý, sử dụng như này qua đây đã giúp hệ thống hoạt động hiệu quả cũng như phân phối được quyền lợi cho các bên

b Nhà nước ban hành các quy tắc, các văn bản pháp luật và những quy định về nộp thuế các loại đất theo từng mục đích sử dụng khác nhau

(Thể hiện tính chất của quan hệ thuế đất: Quan hệ áp đặt từ một phía-do nhà nước quy định, mang tính bắt buộc và nghĩa vụ.)

Thuế sử dụng đất nông nghiệp:

• Theo Điều 1 Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993, tổ chức và cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp đều phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp Hộ được giao quyền sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp mà không sử dụng vẫn phải nộp thuế

• Các loại đất phải chịu thuế ở đây theo điều 2 của Luật này là đất dùng vào sản xuất nông nghiệp bao gồm: Đất trồng trọt, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản và đất rừng trồng

• Điều 5 quy định căn cứ tính thuế sử dụng đất nông nghiệp: Diện tích, hạng đất

và định suất thuế tính bằng kilôgam thóc trên một đơn vị diện tích của từng hạng đất

• Từ đó các tổ chức, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp có trách nhiệm kê khai theo mẫu tính thuế của cơ quan thuế và gửi bản kê khai đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn đúng thời gian quy định

• Căn cứ vào bản kê khai của hộ nộp thuế thì cơ quan thuế kiểm tra, tính thuế và lập sổ thuế Sổ thuế được duyệt là căn cứ để thu thuế Thuế nộp mỗi năm từ 1 đến 2 lần theo vụ thu hoạch chính của từng loại cây trồng ở từng địa phương Thời gian nộp thuế

Ngày đăng: 10/05/2023, 18:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thái Hình thái đầu tiên Hình thái tiến bộ của - Phân tích các hình thái biểu hiện của địa tô so sánh các hình thái đó có ý kiến cho rằng, ở việt nam chỉ hiện nay không có hình thái biểu hiện của địa tô mà chỉ thực hiện quan hệ thuế đất
Hình th ái Hình thái đầu tiên Hình thái tiến bộ của (Trang 7)
Hình thái hiện vật. - Phân tích các hình thái biểu hiện của địa tô so sánh các hình thái đó có ý kiến cho rằng, ở việt nam chỉ hiện nay không có hình thái biểu hiện của địa tô mà chỉ thực hiện quan hệ thuế đất
Hình th ái hiện vật (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w