1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án nghiên cứu những giải pháp giảm nhập siêu cho Việt Nam

40 354 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề án nghiên cứu những giải pháp giảm nhập siêu cho Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề án nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 569 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề án nghiên cứu những giải pháp giảm nhập siêu cho Việt Nam.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

1 Tổng quan về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam 3

2 Phân tích tình hình nhập siêu 5

2.1 Về xuất khẩu 5

2.1.1 Xuất khẩu nông sản 5

2.1.1.1 Xuất khẩu gạo 5

2.1.1.2 Xuất khẩu Café 7

2.1.2 Xuất khẩu thủy sản 10

2.1.3 Xuất khẩu dầu thô 14

2.2 Về nhập khẩu 16

2.2.1 Nhập khẩu nguyên – phụ liệu phục vụ sản xuất 16

2.2.1.1 Nguyên phụ liệu ngành dệt may da giày 16

2.2.1.2 Chất dẻo 17

2.2.2 Nhập khẩu xăng dầu 18

2.2.3 Nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng 19

2.2.4 Nhập khẩu máy tính, điện tử, linh kiện 20

2.2.5 Nhập khẩu sắt thép 21

2.2.6 Nhập khẩu phân bón 22

2.2.7 Nhập khẩu ô tô 24

2.2.8 Nhập khẩu hàng tiêu dùng 24

2.3 Về công tác quản lý, thủ tục hải quan 28

2.3.1 Nhân viên hải quan nhũng nhiễu gây khó khăn cho xuất khẩu 28

2.3.2 Quy định, thủ tục rườm rà, không rõ ràng 29

2.3.3 Kẽ hở trong nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu nông sản 30

3 Đánh giá – giải pháp 31

KẾT LUẬN 37

PHỤ LỤC 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

MỞ ĐẦU

Trang 2

Từ chủ ý nhập khẩu các trang thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại để cải tiến kỷ thuậtcông nghệ và đuổi kịp các nước trên thế giới Việt Nam đã làm cho kim ngạch nhập khẩutăng lên nhanh chóng, và dù cho kim ngạch xuất khẩu cũng không ngừng gia tăng nhưngkhông thể nào bắt kịp với các con số nhập khẩu Chính vì vậy, mà Việt Nam rơi vào tìnhtrạng nhập siêu Có thể nói nhập siêu không hẳn là xấu, nhập siêu giúp Việt Nam tiến bộhơn, hiện đại hơn và gia tăng xuất khẩu nhiều hơn Thế nhưng, khi các con số nhập siêukhông ngừng gia tăng qua các năm, và tăng đến mức báo động, thì cũng là lúc xuất hiệnlời cảnh báo về nhập siêu Đã có những câu hỏi đặt ra: Nhập siêu gia tăng vì đâu? Nếu chỉ

từ nhập khẩu các máy móc, công nghệ, dây chuyền hiện đại thì con số về nhập siêu cóđáng báo động đến vậy không? Làm thế nào để hạn chế nhập siêu trong những giai đoạntiếp theo?

Bài viết “Những giải pháp giảm nhập siêu cho Việt Nam trong 6 tháng cuối năm 2010”

sẽ góp phần trả lời cho hai câu hỏi đầu tiên Nội sung bài viết sẽ xoay quanh các vấn đề vềthực trạng nhập siêu của Việt Nam hiện nay và nguyên nhân nhập siêu Bài viết cũng sẽgóp một phần trả lời cho câu hỏi thứ ba, đó là những giải pháp hạn chế nhập siêu Tuynhiên, những giải pháp này sẽ chỉ gói gọn cho những tháng cuối năm 2010

1 Tổng quan về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam

Nhập siêu hàng hóa tháng 7/2010 ước tính đạt 1,15 tỷ USD, bằng 19,8% kim ngạchxuất khẩu Tính chung bảy tháng, nhập siêu hàng hóa đạt 7,4 tỷ USD, bằng 19,4% kim

Trang 3

ngạch xuất khẩu Trong đó, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 7/2010 ước tính đạt 5,8

tỷ USD, giảm 8,2% so với tháng trước và tăng 20,7% so với cùng kỳ năm 2009 Tínhchung bảy tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 38,3 tỷ USD, tăng 17,5% so với cùng

kỳ năm 2009 Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 7/2010 ước tính đạt trên 6,9 tỷ USD,giảm 1,5% so với tháng trước và tăng 9% so với cùng kỳ năm 2009 Tính chung bảytháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 45,7 tỷ USD, tăng 25,5% so với cùng kỳ nămtrước

Mặc dù tổng giá trị xuất khẩu tăng nhưng nhìn chung, những con số trên vẫn thấp hơn

so với tốc độ tăng của nhập khẩu Hầu hết các mặt hàng đều có sự tăng trưởng, tuy nhiên,một số mặt hàng chủ lực (gạo,dầu thô, cao su ) lại có tốc độ tăng chậm, hoặc thậm chígiảm, chẳng hạn như lúa gạo, cà phê, nông sản, dầu thô Đây cũng là một phần lí do dẫnđến tình trạng nhập siêu của Việt Nam trong những quý đầu năm 2010

Nói về nhập khẩu, sở dĩ lại liên tục tăng gây ra tình trạng nhập siêu của nước ta từ trướcđến nay là vì:

_ Về sản xuất để đáp ứng nhu cầu trong nước và nhu cầu xuất khẩu các doanh nghiệpvẫn còn quá đơn lẻ, thiếu tính gắn kết giữa các doanh nghiệp, gắn kết ngành Một khi nhucầu của ngành nào không được đáp ứng bằng nguồn nguyênliệu đầu vào trong nước, tấtyếu sẽ phát sinh nhu cầu nhập khẩu Cái vòng quay nhu cầu nhập khẩu chắc chắn gia tăng Mỗi năm, phần lớn nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu, máy mócthiết bị (thường chiếm trên 80%) đều phải nhập khẩu Ngay đến mặt hàng thế mạnh xuất

Trang 4

khẩu của Việt Nam là dệt may, để xuất khẩu được khoảng 3 tỷ USD trong 4 tháng qua,chúng ta phải nhập nguyên phụ liệu (bông, sợi dệt, vải, nguyên phụ liệu) khoảng 2,6 tỷUSD.

_ Đóng góp đáng kể cho con số tăng trưởng về kim ngạch nhập khẩu là khu vực doanhnghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI)( có mức tăng 4 tháng đầu năm 2010 là 55,6% vớicon số 10,2 tỷ USD) Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu (tăng 44%, đạt giá trị 9,5 tỷ USD)thấp hơn so với nhập khẩu của khu vực FDI là nguyên nhân khiến nhập siêu từ khối doanhnghiệp này 4 tháng qua là 700 triệu USD Từ nhiều năm trở lại đây, kim ngạch nhập khẩucủa khối doanh nghiệp FDI thường chiếm trên 30% so với kim ngạch nhập khẩu cả nước.Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu của khối này khoảng 6 năm gần đây trung bình trên25%/năm (ngoại trừ năm 2009 giảm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thếgiới) Nguyên nhân của tình trạng này do Việt Nam là nước có trình độ kỹ thuật kém pháttriển, sản xuất trong nước phụ thuộc vào nhập khẩu máy móc, thiết bị nên việc nhập khẩuhàng năm của doanh nghiệp, nhất là ở khu vực FDI đều tăng mạnh Bên cạnh đó, các nhàđầu tư nước ngoài khi đến Việt Nam thường lấy mục tiêu tiêu thụ sản phẩm sản xuất tạiViệt Nam, sau đó mới tính đến xuất khẩu, do đó hiệu quả kinh tế đem lại cho Việt Nam từhoạt động xuất, nhập khẩu của doanh nghiệp FDI là không cao

Ngoài hai nguyên nhân chính là từ xuất khẩu và nhập khẩu gây nên tình trạng nhập siêuliện tục của nước ta trong thời gian qua thì những vấn đề “nhũng nhiễu” từ hải quan cũnggóp phần không nhỏ gây ra tình trạng nhập siêu này.Những nguyên nhân này sẽ được phântích kĩ ở phần sau

2 Phân tích tình hình nhập siêu

2.1 Về xuất khẩu

2.1.1 Xuất khẩu nông sản

2.1.1.1 Xuất khẩu gạo

Trang 5

Gạo vốn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, hàng năm góp phần không nhỏ vàotổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Năm 2010 được dự báo là “ năm vàng” của lúagạo xuất khẩu khi có rất nhiều những điều kiện thuận lợi từ bên ngoài Tình hình sản xuấtlúa gạo trên thế giới gặp nhiều khó khăn, thiên tai và dịch bệnh xảy ra thường xuyên tácđộng rất lớn đến sản lượng lúa gạo của các nước như Thái Lan, Philippin, Indonesia, ngay

cả Ấn Độ, thị trường cung cấp lúa gạo thuộc tốp đầu của thế giới nhưng được dự báo cũng

sẽ phải nhập gạo trong năm 2010 Thêm vào đó, kinh tế thế giới đã bước vào giai đoạnphục hồi, nên nhu cầu về gạo có thể sẽ tăng

Nhưng trên thực tế, ước tính lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo tháng 7 đạt 650 nghìntấn và 282 triệu USD Ước tính trong 7 tháng năm 2010, lượng gạo xuất khẩu đạt 4,107triệu tấn, giảm 2,5% với mức kim ngạch đạt 2,012 tỷ USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm2009

Hai quý đầu năm 2010, Philippin tiếp tục là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu gạo củanước ta đạt 1,28 triệu tấn Ăngola: 103 nghìn tấn, tăng 45,1%; Ghana: 76,8 nghìn tấn, tănggần gấp 2 lần; Hồng Kông đạt 71 nghìn tấn, tăng gấp 2,5 lần; Trung Quốc: 64,7 nghìn tấn,tăng gấp 34 lần so với cùng kỳ năm trước

Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam liên tục sụt giảm từ đầu năm 2010 Nếu như giá gạoloại 5% tấm tại thời điểm tháng 12/2009 là 517 USD thì đến tháng 5 đã giảm xuống còn

358 USD/tấn (giảm 30,75%); giá gạo loại 25% tấm tại thời điểm tháng 12/2009 là 466USD đã giảm xuống còn 335 USD/tấn tại thời điểm tháng 5 (giảm 28,11%) Giá gạo trongtháng 6 tuy có nhích lên đôi chút, song vẫn thấp hơn rất nhiều so với thời điểm đầu năm(gạo 5% tấm: 373 USD/tấn; gạo 25% tấm 340 USD/tấn)

Một số nguyên nhân khiến kim ngạch xuất khẩu mặt gạo, được xem là mặt hàng chủ lựccủa nước ta vẫn còn khá “khiêm tốn”

•Trong quý 2, do đồng Euro sụt giảm mạnh đã làm giá hàng hóa nhập khẩu tăng cao,dẫn tới sức mua gạo bị hạn chế

•Tại các nước Châu Phi ( thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam):lượng gạo tồn khovẫn khá lớn đã làm giảm nhu cầu nhập khẩu gạo tại khu vực này

Trang 6

•Hợp đồng Chính phủ đang gặp khó khăn do phía đối tác trì hoãn giao nhận hàng vàtạm ngừng triển khai đấu thầu, đặc biệt là trong hợp đồng xuất khẩu gạo sang Philippin từquý I.

•Hợp đồng thương mại cũng khó tìm được, nhất là từ châu Phi _thị trường tiềm năngcủa Việt Nam.Sở dĩ như vậy là do năm nay ngoài đối thủ cạnh tranh truyền thống về gạochất lượng cao là Thái Lan , các doanh nghiệp từ Bangladesh, Myanmar cũng đang gâykhó khăn cho gạo cấp thấp của Việt Nam khi đưa ra giá thấp hơn so với giá của doanhnghiệp xuất khẩu gạo nước ta Thương nhân của các nước này chào bán gạo xuất khẩu chỉ320-330 USD/tấn, mức giá này thậm chí thấp hơn giá thành sản xuất của doanh nghiệpViệt Nam

•Các nhận định về thị trường gạo thế giới hồi đầu năm đều có sai số lớn, nhất là nhậnđịnh Ấn Độ - nước sản xuất và tiêu thụ gạo lớn thứ hai thế giới - sẽ sụt giảm sản lượng 16triệu tấn vì hạn hán trong năm 2009 Điều này dẫn đến sự tích trữ và tồn đọng một lượnggạo khá lớn ở không chỉ Việt Nam mà cả Thái Lan Trong khi mới đây, Tổ chức Lươngthực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) thậm chí còn dự báo sản lượng gạo của Ấn

Độ sẽ tăng 15% lên mức 151 triệu tấn trong năm nay

•Rất nhiều môi giới, trung gian đang trả giá gạo của Việt Nam với mức 320-350USD/tấn đối với gạo 3% (loại gạo có phẩm chất cao của Việt Nam ) với mục đích chính làthăm dò

Trong bài báo “Trung Quốc đang “vét” gạo Việt Nam” đăng trên báo Thanh Niên ngày7/8 vừa qua, cho thấy giá gạo xuất khẩu đang tăng với tốc độ khá nhanh.Không chỉ tănggiá, nhu cầu gạo thế giới đang có dấu hiệu sôi động trở lại Ngoài Trung Quốc đang thểhiện rõ sự thiếu hụt lương thực, nhiều nước khác ở khu vực châu Phi, Trung Đông cũng bắt đầu đẩy mạnh nhập gạo Nguyên nhân là do giá nhiều mặt hàng nông sản hiện nayđang có dấu hiệu tăng mạnh, nhất là lúa mì đã tăng 70-80 USD/tấn Nếu so sánh lúa mìvới gạo, thì trong các tháng tới, các nước nghèo như châu Phi sẽ chuyển sang mua gạo đểtiết kiệm hơn

Trang 7

Tuy nhiên, hiện nay một số nông dân ở các tỉnh ĐBSCL đang “nhìn” gạo tăng giá, màkhông còn gạo lưu trữ để bán Như vậy, có nguy cơ từ nay đến cuối năm, xuất khẩu gạocủa VN sẽ gặp khó khăn, do không đủ lượng gạo để bán Điều kiện xuất khẩu thuận lợi,nhu cầu tăng, giá tăng mà lượng gạo trong nước không đủ để đáp ứng.

2.1.1.2 Xuất khẩu Café

Thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy quý I/2010, cả nước mới xuất khẩu được

khoảng 345.000 tấn cà phê với kim ngạch khoảng 483 triệu USD, giảm tới 22,3% về

lượng và giảm 27,8% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2009; trong đó, phần trị giá giảm

do lượng giảm là 147 triệu USD và phần trị giá giảm do giá giảm là 39 triệu USD Đơn giá xuất khẩu bình quân cũng giảm 7,4% xuống chỉ còn 1.398 USD/tấn, đưa cà phê trở

thành mặt hàng duy nhất trong các nhóm hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu có đơn giá xuấtkhẩu bình quân giảm so với cùng kỳ năm 2009 Như vậy có thể nói rằng năm 2010 vẫnthực sự là một năm khó khăn cho ngành cà phê Việt Nam

Cà phê xuất khẩu tháng 7 ước đạt 95 ngàn tấn với trị giá 140 triệu USD, nâng tổng sảnlượng xuất khẩu trong 7 tháng đầu năm 2010 đạt 754 ngàn tấn với tổng giá trị 1,06 tỷUSD, giảm 4,3% về lượng và tới 9,22% về giá trị, theo tổng hợp của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn

Biểu đồ 1: Thống kê khối lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007 –

tháng 3/2010

Trang 8

Nguyên nhân chính giảm lượng cà phê:

•Vào quý I, tại các địa phương trồng cà phê trọng điểm tại khu vực Tây Nguyên, vụtrồng cà phê gặp vấn đề khô hạn trầm trọng, nhiều hecta cà phê thiếu nước tưới và chếthạn Vì vậy, sản lượng cà phê sụt giảm trong năm 2010 là điều có thể xảy ra

• Thêm vào đó, nếu giá vật tư đầu vào tiếp tục tăng cao trong khi giá bán cà phê ở mứcthấp như đã diễn ra trong năm 2009, sẽ tạo ra tâm lý cắt giảm đầu tư cho cây trồng củangười nông dân (giảm lượng phân bón, số lần tưới nước, không trồng mới cà phê giàcỗi…) Chất lượng và sản lượng cà phê của cả nước trong năm 2010 này do đó khó có thểtăng như dự kiến, ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động xuất khẩu cà phê

Đặc biệt giá bình quân xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong tháng 3 năm 2010 chỉ đạttrung bình khoảng 1370 USD/tấn, đây là mức thấp nhất kể từ tháng 11 năm 2006

Quý I/2010, giá cà phê robusta trên thị trường thế giới liên tục xuống thấp kỷ lục đẩyngười nông dân tại các nước xuất khẩu cà phê rơi vào tình cảnh khó khăn

Trang 9

Biểu đồ 2: Thống kê khối lượng, đơn giá và trị giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam theo quý trong giai đoạn 2007 - quý I/2010

Nguyên nhân cà phê rớt giá:

• Hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam luôn bị các nhà đầu cơ quốc tế thao túng,

ép giá xuống.Trong khi cà phê rớt giá, thì giá cả của các nguyên, vật liệu đầu vào nhưxăng dầu, phân bón, …phục vụ sản xuất cà phê lại tăng khiến người trồng cà phê càngđiêu đứng

•Hơn nữa, sở dĩ giá cà phê robusta trong quý I/2010 trên thị trường thế giới giảm mạnh

vì đây là thời điểm thu hoạch chính vụ của cà phê robusta Nguồn cung ra thị trường quálớn trong một thời gian ngắn tạo cơ hội cho các nhà đầu cơ ép giá xuống

•Bên cạnh yếu tố cung - cầu, diễn biến tăng giảm của đồng USD cũng sẽ gây ảnhhưởng lớn tới thị trường cà phê thế giới Vào thời điểm cuối tháng 3/2010, cuộc khủnghoảng nợ công tại các nước thuộc khu vực đồng euro mà điển hình là tại Hy Lạp, Bồ ĐàoNha đã khiến đồng USD tăng giá mạnh mẽ so với đồng euro Hậu quả là các nhà đầu cơ

đã ồ ạt bán tháo, đẩy giá cà phê xuống mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây

Tình hình thị trường tiêu thụ cà phê:

Đức là thị trường dẫn đầu về lượng và trị giá nhập khẩu cà phê của Việt Nam trong 4tháng đầu năm 2010, đạt 63,26 nghìn tấn với trị giá 88,52 triệu USD chiếm 13,75 tổng trịgiá xuất khẩu cà phê, tăng 4,74% về lượng nhưng lại giảm 3,54% về trị giá so với cùng kỳnăm trước

Trang 10

Thứ hai là Hoa Kỳ đạt 53,62 nghìn tấn với trị giá 80,64 triệu USD giảm 5,15% về lượng

và giảm 6,65% về trị giá;

Indonesia là nước đứng thứ 10 về kim ngạch nhập khẩu cà phê Việt Nam trong 4 thángnhưng có tốc độ tăng trưởng vượt bậc cả về lượng và trị giá so với 4 tháng năm 2009 đạt9,99 nghìn tấn với kim ngạch 13,94 triệu USD tăng +655,75% về lượng và tăng +584,87%

Hiện nay, Cà phê Việt Nam đứng thứ hai thế giới về lượng xuất khẩu và đang có mặt ởtất cả các châu lục Việt Nam còn là thành viên quan trọng của Tổ chức Cà phê thế giới(ICO), nhưng lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là ở dạng nguyên liệu, chưaqua chế biến sâu Vì vậy, mà người tiêu dùng trên thế giới vẫn chưa biết nhiều đến sảnphẩm cà phê qua chế biến của Việt Nam

2.1.2 Xuất khẩu thủy sản

Trong giai đoạn 2006-2008, tốc độ tăng xuất khẩu hàng thuỷ sản đạt trung bình19%/năm Sau mức giảm 5,5% của năm 2009, xuất khẩu thuỷ sản trong 7 tháng đầu năm

2010 ước đạt 2,442 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2009

Thống kê kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam giai đoạn 2005-6 tháng/2010

Trang 11

Mặc dù trở thành nước xuất khẩu thủy sản nhiều năm nhưng các mặt hàng thuỷ sản xuấtkhẩu chủ lực của Việt Nam vẫn còn khá đơn điệu, chủ yếu là cá, tôm, nhuyễn thể, các loạithuỷ sản đông lạnh và thuỷ sản khô Công nghệ chế biến của ngành thủy sản Việt Nam vẫnchưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của thế giới

Cơ cấu xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2010

2010, EU vẫn là khối thị trường dẫn đầu về nhập khẩu thủy sản của Việt Nam, chiếm 25%tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản, với giá trị trên 512 triệu USD Nhật Bản đứng vị tríthứ hai, chiếm 18%, đạt 371,6 triệu USD, với mức tăng trưởng 34,4% về lượng và 22,39%

về giá trị so với cùng kỳ năm trước Mỹ đứng thứ 3 với 17,1%

Trong xu hướng tăng trưởng chung của xuất khẩu thủy sản như vậy, có thể nhận thấyrằng chỉ có mặt hàng tôm (tôm đông lạnh và chế biến) là có đóng góp đáng kể khi giữ vị

Trang 12

trí hàng đầu trong tổng giá trị đóng góp từ xuất khẩu thủy sản Cụ thể mặt hàng này mang

về 716,9 triệu USD (chiếm 35,45% giá trịxuất khẩu thuỷ sản), tăng 22,01%

Tiếp theo sau mặt hàng tôm là mặt hàng cá tra với sản lượng xuất khẩu đạt 306,4 ngàntấn với kim ngạch 656,07 triệu USD, tăng 14,33% về lượng và 7,63% giá trị

Kim ngạch xuất khẩu do mặt hàng này mang lại vẫn chưa cao, chúng ta đang đối mặtvới những khó khăn nhất định

o Phải nhập khẩu nhiều nguyên liệu từ nước ngoài

Nếu chỉ nhìn vào những con số tăng trưởng tích cực, ít ai có thể thấy rằng sự tăngtrưởng của mặt hàng cá tra là do thu nhập từ việc giải phóng lượng hàng tồn của các doanhnghiệp Hàng được bán với giá thấp hơn giá thành Vì vậy, dù lượng hàng tồn có giảmnhưng các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa chỉ thu về được mức lợi nhuận ít ỏi

Ngay từ quý 1 năm 2010, hàng loạt doanh nghiệp xuất khẩu tôm, cá tra kêu thiếunguyên liệu nên chỉ duy trì công suất nhà máy 30 – 60% Thực tế, nhiều tỉnh thống kê diệntích nuôi cá tra giảm tới 60% do người nuôi thua lỗ vì giá cá xoay quanh 15.500 – 16.000đồng/kg, thấp hơn giá thành Những doanh nghiệp lớn như Hùng Vương, Vĩnh Hoàn, NamViệt, Agifish, Minh Phú… buộc phải bỏ vốn đầu tư vào vùng nuôi nhằm tìm kiếm thêmnguồn nguyên liệu, số khác thì cầu viện vào nhập khẩu Bộ Công thương thống kê, sáutháng, doanh nghiệp nhập 178 triệu USD nguyên liệu, tăng 8,8% so với cùng kỳ

Từ thực tế đó cho thấy, bên cạnh những con số tích cực mà xuất khẩu thủy sản manglại, tình trạng nhập khẩu quá nhiều các nguyên liệu liên quan cũng là một vấn đề cần cânnhắc Bởi lẽ một khi quá phụ thuộc vào lượng nguyên liệu nhập khẩu, các doanh nghiệpthủy sản Việt Nam sẽ phải chia sẻ một phần lợi nhuận vốn đã ít ỏi của mình cho phía nướcngoài Vì vậy, vấn đề cấp bách trước mắt để giúp gia tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệpxuất khẩu thủy sản là cần hạn chế việc nhập khẩu các nguyên liệu từ nước ngoài

o Khó khăn do quy định IUU;

Trang 13

Một số doanh nghiệp xuất khẩu nhuyễn thể như nghêu vào thị trường châu Âu cũngđang bị ngưng trệ do nhà nhập khẩu yêu cầu giấy chứng nhận với nghêu nuôi và khai thácbằng tay của Việt Nam Ngay cả đối với giấy chứng nhận, do chưa có sự thống nhất củacác nước trong cộng đồng châu Âu nên mỗi nơi một kiểu; một số nước như Pháp yêu cầu

sử dụng tiếng Pháp trong giấy chứng nhận khi xuất vào thị trường này Theo quy định,giấy chứng nhận (C/C) phải là bản gốc gửi kèm theo lô hàng khi đến cảng Tuy nhiên, docác doanh nghiệp chia hàng từ một giấy chứng nhận để xuất cho nhiều nhà nhập khẩu nênkhông thể có C/C gốc Điều này đã làm một số lô hàng và doanh nghiệp gặp khó khăn khixuất khẩu

Việc ghi nhật ký khai thác thủy sản đã được triển khai cùng với công tác cấp chứngnhận thủy sản khai thác “Nhưng đến nay do ý thức, thói quen của bà con ngư dân nên việcthực hiện vẫn chưa tốt, cũng đã ảnh hưởng đến việc chứng nhận thủy sản khai thác chodoanh nghiệp”

việc ghi nhật ký khai thác mới được tổ chức thực hiện nên ngư dân chưa hình thànhđược thói quen này Đại diện các Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản của cáctỉnh thành phía Nam cũng thừa nhận, những cơ quan này đang thiếu hụt nghiêm trọngnguồn nhân lực để thực hiện việc chứng nhận thủy sản khai thác Một số doanh nghiệpmua sản phẩm qua nhiều nậu vựa, từ các tàu đã bị xóa đăng ký và giấy phép khai thác đãhết hạn, nên không xin được chứng nhận thủy sản khai thác gây khó khăn cho các cơ quanthẩm quyền

Việc chứng nhận thủy sản khai thác theo quy định của Ủy ban châu Âu hiện vẫn chưa

có được sự thống nhất về nhận thức giữa các nước thành viên của cộng đồng châu Âucũng như giữa châu Âu với các nước thứ ba

o Khó khăn do những quy định khác

Ở thị trường Nga, nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với những khó khăn mới Cácnhà nhập khẩu ở Nga đang áp dụng chính sách giảm tỷ lệ mạ băng (lớp đá lạnh dùng đểướp cá) trong thủy sản nhập khẩu từ 20% xuống còn 10% Do trọng lượng giảm, doanh

Trang 14

nghiệp buộc phải tăng giá bán sản phẩm nhưng không được những nhà nhập khẩu chấpnhận “Với tỷ lệ mạ băng như cũ, giá bán sản phẩm cá tra tại Nga trung bình là 1,65 đô laMỹ/tấn, nếu bỏ mạ băng đi bắt buộc phải bán giá 2,05 đô la/kg, chúng tôi mới có lời.Nhưng các đối tác yêu cầu giữ nguyên giá cũ”, giám đốc một doanh nghiệp xuất khẩu sangNga than thở.

Đối với thị trường Nhật, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang tạm dừng xuất khẩu domức thuế quá cao Theo Vasep, xuất khẩu cá ngừ sang Nhật Bản của các nước láng giềng

đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi khiến sản phẩm của ta bị cạnh tranh mạnh hơn Kể từtháng 4/2010, Thái Lan đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi là 3,2%, tiếp đó giảm xuốngcòn 1,6% kể từ tháng 4/2011; giảm xuống còn 0% từ tháng 4/2012 Mức thuế tương tựđược giảm theo lộ trình đối với Philippines là 3,6% giảm xuống còn 2,4% từ tháng 4/2011

ở mức 0% từ tháng 4/2013 Trong khi đó, doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ Việt Nam vẫnđang phải chịu mức thuế cao hơn 40% so với các nước này, tương đương 7,2% sang thịtrường Nhật

2.1.3 Xuất khẩu dầu thô

Theo số liệu thống kê, xuất khẩu dầu thô của Việt Nam tháng 7/2010 đạt 560 nghìn tấnvới kim ngạch 325 triệu USD Tổng lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam 7 tháng đầunăm 2010 đạt 4,966 triệu tấn với kim ngạch 3,004 tỉ USD, giảm 44,8% về lượng và giảm

18,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2009

Trong đó, tính trong 6 tháng đầu năm 2010, chỉ có duy nhất 2 thị trường có tốc độ tăngtrưởng về kim ngạch: Ôxtrâylia và Trung Quốc đạt 341 nghìn tấn với kim ngạch 210 triệuUSD, giảm 35,3% về lượng nhưng tăng 11,5% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 7,9% trongtổng kim ngạch

Ngược lại, những thị trường xuất khẩu dầu thô của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2010 cótốc độ suy giảm mạnh cả về lượng và trị giá là: Thái Lan đạt 86 nghìn tấn với kim ngạch

52 triệu USD, giảm 81,1% về lượng và giảm 71,1% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 2%trong tổng kim ngạch; tiếp theo đó là Nhật Bản đạt 169 nghìn tấn với kim ngạch 102,7triệu USD, giảm 66% về lượng và giảm 45,7% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 3,8% trong

Trang 15

tổng kim ngạch; Indonesia đạt 104 nghìn tấn với kim ngạch 60,6 triệu USD, giảm 55,2%

về lượng và giảm 40,3% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 2,3% trong tổng kim ngạch; saucùng là Malaysia đạt 485 nghìn tấn với kim ngạch 299 triệu USD, giảm 59,6% về lượng

và giảm 31,7% về trị giá so với cùng kỳ, chiếm 11,2% trong tổng kim ngạch

Trong kim ngạch xuất khẩu hiện nay, các mặt hàng nhiên liệu và năng lượng gồm dầuthô chiếm tỷ trọng không nhỏ, như vậy việc giảm kim ngạch xuất khẩu ở mặt hàng dầu thô

là một vấn đề ảnh hưởng khá lớn đến cán cân thanh toán của nước ta Nguyên nhân củatình trạng giảm đó là do phải dành cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất, phần nữa là do việcgiá dầu thô giảm mạnh cũng góp phần ảnh hưởng đến kết quả xuất khẩu của mặt hàng này.Ông Trụ nhận định, khi mấy năm tới ta có thêm vài nhà máy lọc dầu nữa thì dầu thô sẽkhông còn đóng vai trò lớn trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nữa

Tuy sản lượng dầu thô xuất khẩu giảm như vậy, nhưng thật ra có khi đây lại là một điềuđáng mừng, vì dầu thô là nguyên liệu cần thiết khi đó chính là nguồn gốc của xăng dầu cácloại phục vụ cho tiêu dùng và sản xuất, và giá dầu thô thực sự cũng rẻ hơn rất nhiều so vớixăng dầu đã chế biến các loại Và việc chúng ta hình thành được các khu công nghiệp lọcdầu cũng cho ta thấy được rằng công nghệ chúng ta đang tiến bộ Khi ta giảm một lượngdầu thô xuất khẩu như thế chúng ta có thể cung cấp cho các ngành khác lượng nguyên liệucần thiết cho sản xuất, việc này cũng đồng nghĩa với việc chúng ta giảm bớt được gánhnặng nhập siêu ở các ngành nguyên phụ liệu sản xuất cũng như tiêu dùng

2.2 Về nhập khẩu

2.2.1 Nhập khẩu nguyên - phụ liệu phục vụ sản xuất

2.2.1.1 Nguyên phụ liệu ngành dệt may da giày

Trang 16

Nhập khẩu nguyên liệu dệt may tăng mạnh như những tháng đầu năm 2010 Số liệu tạmtính từ Bộ Công thương cho thấy, đến thời điểm tháng 7/2010, ngành dệt may đã chi hơn 5

tỷ USD để nhập khẩu nguyên liệu và phụ liệu phục vụ sản xuất, trong đó, vải nhập khẩulên tới 2,8 tỷ USD, tăng hơn 27%; nhập khẩu bông trên 350 triệu USD, tăng 75%, nhậpkhẩu nguyên phụ liệu (tính cả da giày) trên 1,4 tỷ USD so với cùng kỳ năm ngoái

Kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu của ngành dệt may tăng vọt xuất phát từ nhiềunguyên nhân được cho là hợp lý Trước hết, ngành này cần đẩy mạnh nhập khẩu để đápứng nhu cầu sản xuất hàng xuất khẩu tăng mạnh từ đầu năm, do hầu hết doanh nghiệp đã

ký được đơn hàng xuất khẩu Khoảng 70% nguyên phụ liệu cho ngành sản xuất dệt maycủa Việt Nam vẫn dựa vào nhập khẩu Lượng sản xuất tăng lên, buộc phải nhập khẩunguyên liệu để sản xuất

Thứ hai, từ đầu năm 2010, giá các loại nguyên liệu biến động mạnh Theo phản ánh củanhiều doanh nghiệp, bông là nguyên liệu có mức tăng giá cao nhất trong 7 tháng qua (tăngtrên 40%), tiếp đến là sợi (tăng 30%) Theo ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hiệp hội Dệt mayViệt Nam (Vitas) cho rằng, với mặt bằng giá nguyên liệu tăng nhanh, để đảm bảo mứctăng xuất khẩu 15-17%, trong những tháng qua, các doanh nghiệp phải tăng tốc nhập khẩubông, vải, sợi để dự trữ, chủ động thực hiện các đơn hàng đã ký và sắp ký Trong thời giantới, việc nhập khẩu nguyên phụ liệu ngành dệt may sẽ không tăng cao như những thángqua do nhiều doanh nghiệp đã nhập đủ bông, vải… để dùng đến hết năm

Các thị trường cung cấp chính cho Việt Nam trong năm qua là:

Thịtrường

Tổnggiá

Trang 17

TrungQuốc

1,4tỷUSDĐài

Loan

844triệuUSDHàn

Quốc

797triệuUSDHồng

Kông

250triệuUSD

Trên thực tế, lượng chất dẻo nguyên liệu nhập khẩu chỉ là tăng nhẹ, nguyên nhân chủyếu của việc giá trị nhập khẩu tăng vọt đến 47,7% như vậy là do giá nhập khẩu chất dẻonguyên liệu tăng mạnh do thị trường thế giới phục hồi, nhu cầu tiêu thụ nguyên liệu chosản xuất tăng trở lại cùng với giá dầu tăng Điều này cũng là một điểm báo động đáng chú

ý cho ngành chất dẻo cũng như ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam, nếu chúng takhông cố gắng hơn nữa về mặt công nghệ, hóa chất, sinh học, rất có nguy cơ chúng ta

Trang 18

không chạy theo kịp sự phục hồi của nền kinh tế thế giới, khi mà chúng ta cứ phải lệ thuộcquá nhiều vào nguồn nguyên liệu ngoài nước như vậy.

Tính đến hết 6 tháng/2010, chất dẻo nguyên liệu được nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu

có xuất xứ từ: Hàn quốc : 204 nghìn tấn, tăng 4% so với cùng kỳ 2009; A rập Xêút: 174nghìn tấn, tăng 45%; Đài Loan: 170 nghìn tấn, tăng 9%; Thái Lan: 116nghìn tấn, giảm18,3%…

2.2.2 Nhập khẩu xăng dầu

Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan, lượng xăng dầu nhập khẩu tháng 7 ước đạt

900 triệu tấn, với trị giá khoảng 550 triệu USD; tính cả 7 tháng đầu năm 2010, ước đạt6.154 triệu tấn, trị giá khoảng 3.822 triệu USD, giảm 21,9% về lượng so với cùng kỳ nămngoái và đạt xấp xỉ 53,1% kế hoạch năm 2010

Nhập khẩu xăng dầu các loại của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2010 giảm về lượng nhưng

tăng về trị giá Tháng 4/2010, giá nhập khẩu tiếp tục tăng 5,6% so với tháng 3/2010 và

tăng 57,8% so với cùng kỳ năm 2009 Nhưng đến tháng 6/ 2010 thì giá cả xăng dầu có xuhướng ổn định và bình ổn đến cuối năm

Xăng dầu là một mặt hàng quan trọng trong sản xuất và tiêu dùng Hiện trữ lượng dầukhí của Việt Nam thuộc vào loại trung bình của thế giới nhưng chúng ta đã có tên trong

bản đồ các nước sản xuất và xuất khẩu dầu khí thế giới Còn trong khu vực ASEAN,

chúng ta xếp hàng thứ 3 Hàng năm khai thác hơn 10 triệu tấn dầu thô, và do công nghệlọc dầu của VN vẫn còn nhiều hạn chế Chúng ta chủ yếu xuất khẩu dầu thô, và nhập xăngdầu về phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước Kim ngạch nhập khẩu mặt hàngnày khá lớn, góp phần đẩy cán cân thương mại nghiên về phía nhập

Nhập khẩu xăng dầu với giá cao, nhưng nhà nước còn có chính sách cắt giảm thuế vớimặt hàng này nhằm góp phần hổ trợ doanh nghiệp bán lẻ xăng dầu trong nước

Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng được nhà máy lọc dầu Dung Quốc có công suất 6,5triệu tấn/năm, đáp ứng khoảng 30% nhu cầu sử dụng xăng dầu trong nước Việc nâng cấp,

Trang 19

mở rộng của nhà máy sẽ góp phần gia tăng lượng cung các sản phẩm xăng dầu phục vụnhu cầu sử dụng trong cả nước những năm tới.

Từ đầu tháng 8-2010, người tiêu dùng sẽ có thêm lựa chọn mới khi thị trường xuất hiệnloại xăng pha cồn E5 do Tổng công ty Dầu (PV Oil) tung ra Chuẩn bị cho chiến lược tung

ra thị trường sản phẩm xăng E5, PV Oil đã triển khai xây dựng ba nhà máy sản xuấtethanol (cồn) với công suất mỗi nhà máy 100 triệu lít/năm

2.2.3 Nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: trong tháng 7, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này là1,15 tỷ USD, Nâng tổng kim ngạch nhập khẩu 7 tháng năm 2010 lên 7,356 tỷ USD, tăng14% so với cùng kỳ 2009

Nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu vào Việt Nam trong 7tháng qua có xuất xứ chủ yếu từ Trung Quốc với khoảng 2,1 tỷ USD, tăng 16,5%; NhậtBản: 1,18 tỷ USD, tăng 13%; Hàn Quốc: 418 triệu USD; tăng 8,4%; Đức: 381 triệu USD,tăng 33,2%;…

Kể từ khi quan hệ hợp tác thương mại nội khối ASEAN+3 bắt đầu được triển khai từnăm 2000 đến nay, các doanh nghiệp Trung Quốc đã đặc biệt quan tâm khai thác thịtrường nước ta

Theo thống kê, kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các loại máy móc, nguyên liệu phục

vụ sản xuất đều tăng so với cùng kỳ năm ngoái Trong số các ngành công nghiệp, khốicông nghiệp nặng với các ngành như hóa chất, đóng tàu, cơ khí gặp nhiều khó khăn trongsản xuất và tiêu thụ hàng hóa, nhất là những tháng đầu năm Chính vì thế nhập khẩu máymóc, phụ tùng sản xuất để phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu giảm Trong khi đó nhậpkhẩu máy móc, phụ tùng khối ngành công nghiệp nhẹ đạt kim ngạch nhập khẩu cao Đónggóp vào tổng kim ngạch này là 12 ngành khác nhau như điện tử, điện lạnh, nhựa, cao su,dệt may, giấy, thực phẩm… Cũng trong số các ngành công nghiệp nhẹ thì máy móc, phụtùng ngành nhựa, cao su tiếp tục có kim ngạch nhập khẩu cao nhất, mà lý do chính là thịtrường xuất khẩu tốt Theo các chuyên gia, do giá cao su thế giới tăng cao, trong khi

Trang 20

nguồn nguyên liệu khan hiếm đã đẩy nhu cầu nhập khẩu máy móc, phụ tùng sản xuất chongành tăng lên nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu Ngoài ra phải kể đến lĩnh vực dệtmay,với số lượng đơn hàng tăng lên, rất có thể trong thời gian tới, các doanh nghiệp dệtmay trong nước sẽ tăng cường nhập khẩu máy móc, thiết bị cho ngành.

Nhập siêu triền miên nhưng lại phân bổ không đều cho các thị trường Nhập siêu chỉdồn vào mấy thị trường ở châu Á, đặc biệt là nước láng giềng Trung Quốc, chiếm chủ yếutrong tổng số nhập siêu của cả nước Hậu quả là không nhập khẩu được công nghệ nguồn,

kỹ nghệ mới mà chỉ là công nghệ sao chép, lạc hậu

Một trong các nguyên nhân là trong mấy năm qua, các nhà thầu Trung Quốc trúng thầu

ở hàng loạt dự án lớn như dự án khai thác, luyện đồng Sin Quyền (Lào Cai), nhà máy nhiệtđiện Hải Phòng… và có thể khẳng định, hiện tại Trung Quốc là nước có số lượng nhà thầu

và số dự án trúng thầu nhiều nhất tại Việt Nam Thực tế cho thấy, các nhà thầu TrungQuốc mang theo hầu như tất cả những gì họ có (từ Trung Quốc) để phục vụ công trình, từmáy móc, công nghệ đến nguyên, vật liệu (chưa kể công nhân)… vì vậy, trong giá trị nhậpsiêu lớn từ Trung Quốc có phần đáng kể từ việc nhập khẩu cho các công trình, dự án màphía Trung Quốc trúng thầu

Mặt khác việc thiếu các chính sách đầu tư thích đáng để sản xuất hàng cơ khí, máy móc,thiết bị thay thế hàng nhập khẩu là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến nhập siêucao

2.2.4 Nhập khẩu máy tính, điện tử, linh kiện

Máy tính, điện tử, linh kiện: trong tháng 7, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này là 420 triệuUSD, Nâng tổng kim ngạch nhập khẩu 7 tháng năm 2010 lên 2,585 tỷ USD, tăng 32,4% sovới cùng kỳ 2009

Dù những quan điểm lạc quan cho rằng, nhập khẩu công nghệ, thiết bị là nhắm tới kỳvọng nâng cao giá trị gia tăng trong tương lai, thực tế cho thấy, nhập siêu từ nước lánggiềng đang ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhập siêu của Việt Nam, trong đóphải kể đến hàng Trung Quốc giá rẻ

Ngày đăng: 18/05/2014, 06:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w