Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi góp phần giúp trẻ phát triển ngôn ngữ để giao tiếp học tập, và nâng cao chất lượn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NGỌC CHÂU
Tæ CHøC HO¹T §éNG KH¸M PH¸ KHOA HäC
NH»M PH¸T TRIÓN VèN Tõ CHO TRÎ MÉU GI¸O 3 - 4 TUæI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ NGỌC CHÂU
Tæ CHøC HO¹T §éNG KH¸M PH¸ KHOA HäC
NH»M PH¸T TRIÓN VèN Tõ CHO TRÎ MÉU GI¸O 3 - 4 TUæI
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lã Thị Bắc Lý và PGS.TS Bùi Thị Lâm Các số liệu và kết quả trong luận án là trung thực và chưa công bố trong các công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Châu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới tập thể hướng dẫn: PGS.TS Lã Thị Bắc Lý và PGS.TS Bùi Thị Lâm đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Khoa Giáo dục Mầm non, Phòng Sau đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Khoa Giáo dục Mầm non, Trường Đại học Hồng Đức đã ủng hộ, cho phép tôi học tập và làm nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH, các cô giáo, cha mẹ và các cháu của một
số trường mầm non trên địa bài tỉnh Thanh Hóa đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án
Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè và các đồng nghiệp gần, xa đã chia sẻ, động viên tinh thần, giúp tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành luận án của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Châu
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 - 4 TUỔI 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Những nghiên cứu về phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi 8
1.1.2 Những nghiên cứu về tổ chức hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi 15
1.1.3 Những nghiên cứu về tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi 16
1.2 Cơ sở lý luận của tổ chức hoạt động Khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi 18
1.2.1 Từ và vốn từ 18
1.2.2 Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi 20
1.2.3 Tổ chức hoạt động khám phá khoa học với phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi 26
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi 38
Kết luận chương 1 43
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 – 4 TUỔI 44
2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 44
2.1.1 Mục đích khảo sát 44
2.1.2 Khách thể và địa bàn khảo sát 44
2.1.3 Nội dung khảo sát 45
2.1.4 Phương pháp và công cụ khảo sát 45
2.1.5 Thời gian khảo sát 46
Trang 62.1.6 Tiến trình khảo sát 46
2.2 Kết quả khảo sát 47
2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về phát triển vốn từ cho trẻ
mẫu giáo 3 - 4 tuổi 47
2.2.2 Thực trạng giáo viên tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm
phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi 49
2.2.3 Thực trạng mức độ phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi 65
Kết luận chương 2 75
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
KHOA HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI 76
3.1 Nguyên tắc xây dựng biện pháp 76
3.1.1 Đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục chung và mục tiêu phát
triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi 76
3.1.2 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi 76
3.1.3 Đảm bảo phát huy tính tích cực của trẻ trong hoạt động khám phá
khoa học, tăng cường trải nghiệm để phát triển vốn từ 76
3.1.4 Đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tiễn 77
3.1.5 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 77
3.2 Đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát
triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi 77
3.2.1 Biện pháp 1: Thiết kế hoạt động khám phá khoa học dựa trên
mục tiêu phát triển vốn từ và tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm ngôn ngữ 77
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng môi trường khám phá khoa học đa dạng
nhằm kích thích trẻ học từ 84
3.2.3 Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động trải nghiệm, khám phá với đối
tượng thực để trẻ tự tích luỹ vốn từ 90
3.2.4 Biện pháp 4: Tạo cơ hội cho trẻ sử dụng vốn từ đã học được trong hoạt
động KPKH vào các hoạt động sinh hoạt hằng ngày 93
3.2.5 Biện pháp 5: Phối hợp với gia đình cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
khám phá khoa học để củng cố, tích cực hóa vốn từ 98
Trang 73.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 100
Kết luận chương 3 103
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 104
4.1 Khái quát về quá trình tổ chức thực nghiệm 104
4.1.1 Mục đích thực nghiệm 104
4.1.2 Đối tượng, thời gian và địa bàn thực nghiệm 104
4.1.3 Nội dung và yêu cầu thực nghiệm 104
4.1.4 Tiến trình thực nghiệm 105
4.2 Phân tích kết quả thực nghiệm 107
4.2.1 Kết quả đo vốn từ của trẻ trước thực nghiệm 107
4.2.2 Kết quả đo vốn từ của trẻ sau thực nghiệm 112
Kết luận chương 4 133
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
PHỤ LỤC 1PL
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nhận thức của giáo viên về mục tiêu PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi 48
Bảng 2.2: Nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi 49
Bảng 2.3: Mức độ lồng ghép mục tiêu PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi khi tổ chức hoạt động KPKH 50
Bảng 2.4: Mức độ lồng ghép nội dung PTVT cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi vào các chủ đề KPKH 51
Bảng 2.5: Mức độ các biện pháp được sử dụng trong tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi 52
Bảng 2.6: Mức độ thường xuyên sử dụng hình thức tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi 56
Bảng 2.7: Mức độ khó khăn của GV khi tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi 58
Bảng 2.8: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi 61
Bảng 2.9: Mức độ hỗ trợ chuyên môn cho GV trong tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 – 4 tuổi 62
Bảng 2.10: Kết quả chung về phát triển vốn từ của trẻ MG 3 – 4 tuổi 65
Bảng 2.11: Vốn từ của trẻ 3-4 tuổi theo giới tính 66
Bảng 2.12: Vốn từ của trẻ 3-4 tuổi theo khu vực 68
Bảng 2.13: Tần suất xuất hiện của các từ trong vốn từ tiếp nhận 69
Bảng 2.14: Tần suất xuất hiện của các từ trong vốn từ biểu đạt 71
Bảng 3.1 Khung hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi 79
Bảng 4.1: Vốn từ của trẻ trước thực nghiệm 107
Bảng 4.2: Tần suất xuất hiện của các từ được trẻ nhận biết trong vốn từ tiếp nhận TTN 108
Bảng 4.3: Tần suất xuất hiện của các từ được trẻ biểu đạt trong vốn từ biểu đạt TTN 110
Bảng 4.4: Kết quả chung về vốn từ của trẻ nhóm TN 113
Trang 10Bảng 4.5: Vốn từ của trẻ nhóm TN theo giới tính 114
Bảng 4.6: Vốn từ của nhóm TN theo khu vực 115
Bảng 4.7: Tần suất xuất hiện của các từ được trẻ nhận biết trong vốn từ tiếp
nhận của nhóm TN trước và sau thực nghiệm 117
Bảng 4.8: Tần suất xuất hiện của các từ được trẻ biểu đạt trong vốn từ biểu
đạt của nhóm TN trước và sau thực nghiệm 119
Bảng 4.9: Tần suất xuất hiện của các từ trong vốn từ tiếp nhận của nhóm ĐC
và nhóm TN sau thực nghiệm 125
Bảng 4.10: Tần suất xuất hiện của các từ trong vốn từ biểu đạt của nhóm ĐC
và nhóm TN sau thực nghiệm 126
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Nhận thức của giáo viên về mức độ cần thiết của việc PTVT
cho trẻ MG 3 - 4 tuổi 47
Biểu đồ 2.2: Vốn từ trung bình của trẻ 3-4 tuổi theo giới tính 67
Biểu đồ 2.3: Vốn từ trung bình của trẻ 3-4 tuổi theo khu vực 68
Biểu đồ 4.1: Vốn từ của nhóm TN trước và sau thực nghiệm 116
Biểu đồ 4.2: Vốn từ của nhóm ĐC và nhóm TN 122
Biểu đồ 4.3: Vốn từ của bé trai và bé gái sau thực nghiệm 123
Biểu đồ 4.4: Vốn từ của trẻ sau thực nghiệm theo khu vực 124
Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ 3-4 tuổi 101
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp quan trọng
nhất góp phần tạo nên sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng, đồng thời phản ánh đời sống văn hóa của dân tộc Cùng với chức năng giao tiếp, ngôn ngữ còn là công cụ để tư duy Hai chức năng này quan hệ mật thiết với nhau Ngôn ngữ phản ánh năng lực tư duy, năng lực trí tuệ của mỗi người và cũng là phương tiện để thể hiện hiểu biết của con người về thế giới xung quanh Khi tư duy của con người phát triển thì ngôn ngữ cũng phát triển, và ngược lại, khi ngôn ngữ phát triển thì cũng có
nghĩa là tư duy phát triển “Không có ngôn ngữ thì không có tư duy và ngược lại,
không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những âm thanh trống rỗng" [10, tr.22]
Giáo dục ngôn ngữ là nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục mầm non Ngôn ngữ giúp trẻ biểu đạt nguyện vọng, nhu cầu, là điều kiện để tham gia vào mọi hoạt động xã hội, từ đó, hình thành nhân cách Qua các hoạt động ngôn ngữ, trẻ được phát triển toàn diện cả về tư duy, trí tuệ, thẩm mĩ, đạo đức và các kĩ năng xã hội…Trong các nhiệm vụ giáo dục ngôn ngữ cho trẻ em, PTVT là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu PTVT giúp trẻ mở rộng vốn hiểu biết, nhận thức thế giới xung quanh, để phát triển tư duy Trẻ muốn diễn đạt ý nghĩ của bản thân cho người khác hiểu và hiểu được người khác phụ thuộc rất nhiều vào sự PTVT Vốn từ là cơ sở để trẻ giao tiếp, phát triển ngôn ngữ cũng như mọi lĩnh vực khác
1.2 Trẻ ở giai đoạn 3 - 4 tuổi có sự phát triển mạnh mẽ về mọi phương diện
Đây được xem là “cơ hội vàng” để phát triển ngôn ngữ Giai đoạn này, trẻ có nhu
cầu giao tiếp, nhận thức thế giới xung quanh, tự khẳng định mình và tham gia vào các hoạt động Những nhu cầu này thúc đẩy trẻ khám phá và tạo ra cơ hội gia tăng vốn từ nhanh chóng VT của trẻ ở giai đoạn này phát triển nhanh trên mọi phương diện: số lượng từ, cơ cấu từ loại, khả năng hiểu nghĩa của từ… Do đó, cùng với việc phát triển các thành tố khác như phát âm, học mẫu câu… thì PTVT là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình giáo dục ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là trẻ MG 3 - 4 tuổi
1.3 Ở trường mầm non, tất cả các hoạt động đều có thể PTVT cho trẻ Mỗi
Trang 13hoạt động đều có những ưu thế riêng, trong đó, KPKH là hoạt động có nhiều lợi thế Thông qua hoạt động này, trẻ không những thu nhận được vốn kiến thức về các sự vật hiện tượng xung quanh, biết tên gọi các loài cỏ cây hoa lá, các loài động vật…
mà còn mở rộng VT đa dạng, chính xác hóa và tích cực hóa VT Trẻ sử dụng từ ngữ để gọi tên, mô tả các sự vật hiện tượng Khi trực tiếp tham gia hoạt động KPKH, trẻ được sờ, được ngửi, được nghe, được cảm nhận bằng các giác quan các
sự vật, hiện tượng Vì vậy, việc tiếp thu kiến thức và lĩnh hội VT của trẻ sẽ gần với thực tế đời sống hơn và trở nên hiệu quả hơn
1.4 Thực tế ở các trường mầm non, khi tổ chức hoạt động KPKH, GV thường chú
trọng tới mục tiêu phát triển nhận thức, mà ít chú ý đến phát triển ngôn ngữ nói chung, PTVT cho trẻ nói riêng Việc PTVT chưa được đặt trong tính hệ thống, trong sự kết hợp giữa các hoạt động với nhau Trẻ chưa có nhiều cơ hội được giao tiếp, chia sẻ, diễn đạt ý tưởng của mình; các hoạt động KPKH chưa thực sự tạo được môi trường ngôn ngữ tích cực cho trẻ Mặt khác, đa số GV còn gặp khó khăn về biện pháp PTVT cho trẻ trong hoạt động KPKH Những nhược điểm, khó khăn này cần được nghiên cứu để tìm ra các biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục PTVT, phát triển ngôn ngữ cho trẻ
1.5 Nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ nói chung, PTVT nói riêng cho trẻ đã được
nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm Tuy nhiên, đi sâu nghiên cứu tổ chức hoạt động KPKH như là phương tiện để PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi
chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn
từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ
MG 3 - 4 tuổi góp phần giúp trẻ phát triển ngôn ngữ để giao tiếp học tập, và nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ ở trường mầm non
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi ở trường mầm non
Trang 143.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi ở trường mầm non
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động KPKH là một trong những phương tiện hiệu quả để PTVT cho trẻ 3 - 4 tuổi Việc tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi đã
có những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều thiếu sót, vốn từ biểu đạt và tiếp nhận của trẻ còn một số hạn chế Nếu xây dựng và thực hiện các biện pháp
tổ chức hoạt động KPKH cho trẻ MG 3 - 4 tuổi một cách có hệ thống từ thiết kế hoạt động và môi trường hoạt động theo mục tiêu PTVT, tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm khám phá trực tiếp sự vật, hiện tượng và sử dụng từ một cách tích cực, thường xuyên, gắn với đối tượng cụ thể trong ngữ cảnh có ý nghĩa, phối hợp tốt giữa gia đình và nhà trường thì sẽ giúp trẻ phát triển VT tốt hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho
trẻ MG 3 - 4 tuổi ở trường mầm non
5.2 Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4
tuổi ở các trường mầm non tại tỉnh Thanh Hóa
5.3 Đề xuất và thực nghiệm các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm
PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi ở trường mầm non
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi gồm vốn từ tiếp nhận và vốn từ biểu đạt
Các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi được thực hiện ở trường mầm non
6.2 Khách thể và địa bàn nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng:
+ 210 GVMN ở 15 trường mầm non công lập tại tỉnh Thanh Hóa;
Trang 15+ 120 trẻ 3 - 4 tuổi ở 04 trường (trong 15 trường trên)
- Thực nghiệm: 120 trẻ MG 3 - 4 tuổi ở 02 trường mầm non (trong 15 trường trên)
7 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Cách tiếp cận
- Tiếp cận hoạt động: Sự PTVT của trẻ chỉ có hiệu quả nếu tiến hành thông
qua các hoạt động phù hợp với hứng thú, khả năng, nhận thức của trẻ, đặc biệt là hoạt động trải nghiệm, giao tiếp giữa trẻ với bạn bè và người lớn xung quanh Ở trường mầm non, hoạt động KPKH có ưu thế riêng đối với việc tạo môi trường, tạo
cơ hội cho trẻ được quan sát, trải nghiệm, tích lũy, giao tiếp Do vậy, cần lựa chọn hoạt động với những đối tượng phong phú, đa dạng, hấp dẫn, phù hợp với trẻ MG
3- 4 tuổi nhằm giúp trẻ PTVT
- Tiếp cận hệ thống: Quá trình tổ chức hoạt động KPKH là một bộ phận hợp
thành của quá trình giáo dục trong trường mầm non Quá trình này bao gồm nhiều thành tố như: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, đánh giá Các thành tố này có vị trí, chức năng nhất định và có tác động qua lại với nhau Tính hệ thống yêu cầu khi hướng dẫn trẻ KPKH cần đặt trong mối quan hệ với các điều kiện khách quan khác có ảnh hưởng đến quá trình tổ chức hoạt động như: điều kiện kinh tế, xã hội, đặc điểm của môi trường tự nhiên, xã hội của địa phương, điều kiện của trường mầm non
- Tiếp cận tích hợp: Vận dụng quan điểm tiếp cận tích hợp, luận án nghiên cứu
tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ có phối hợp nhiều phương pháp, biện pháp khác nhau PTVT cho trẻ cần được tiến hành tích hợp đan cài thông qua các hoạt động và sinh hoạt hàng ngày của trẻ Thông qua tổ chức hoạt động KPKH, GV tạo điều kiện để trẻ trực tiếp tiếp xúc với đối tượng bằng các giác quan, tiếp thu VT cùng với quá trình hình thành biểu tượng về các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh
- Tiếp cận phát triển: PTVT của trẻ là một quá trình liên tục mang tính kế
thừa Nghiên cứu các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH cho trẻ MG 3 - 4 tuổi được dựa trên sự phát triển chung của trẻ, ở từng giai đoạn các biện pháp tác động nhằm củng cố VT đang có, giúp trẻ đạt được mức độ phát triển cao hơn Trên cơ sở kế thừa những kết quả đã đạt được, tìm kiếm cách thức tác động nhằm nâng cao VT cho trẻ
MG 3 - 4 tuổi thông qua tổ chức hoạt động KPKH ở trường mầm non
Trang 167.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
7.2.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Thu thập, phân tích, tổng hợp tư liệu khoa học trong và ngoài nước về PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi; tổ chức hoạt động KPKH cho trẻ 3 - 4 tuổi; tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi
7.2.1.2 Phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa lí luận: Sử dụng phương pháp này nhằm xác định hệ thống khái niệm và quan điểm, xây dựng khung lý thuyết, thiết kế điều tra, thiết kế thực nghiệm của luận án
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp quan sát: Quan sát việc tổ chức hoạt động KPKH cho
trẻ MG 3 - 4 tuổi ở trường mầm non nhằm phát hiện thực trạng, các biện pháp đã
áp dụng, biểu hiện VT của trẻ Kết quả quan sát được ghi chép, mô tả và kết hợp với các thông tin thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu khác để phân tích, rút ra nhận xét khoa học
7.2.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu hỏi đối với GV
để điều tra thực trạng tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi
7.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp GV để có thông tin về
thực trạng tổ chức hoạt động KPKH; phương pháp, hình thức và những thuận lợi, khó khăn trong việc tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi ở trường mầm non Ngoài ra, trò chuyện trực tiếp với trẻ MG 3 - 4 tuổi để thu thập
thêm thông tin về mức độ PTVT của trẻ
7.2.3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm nhằm kiểm nghiệm tính khoa học, sự phù hợp, khả thi của biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi ở trường mầm non
7.2.3.5 Phương pháp sử dụng thang đo: Sử dụng thang đo của Pham, G., &
Tipton, T (2018) nhằm kiểm tra VT tiếp nhận và VT biểu đạt của trẻ MG 3 - 4 tuổi Đây là công cụ được xây dựng theo qui trình chuẩn được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu về đánh giá năng lực ngôn ngữ của trẻ em nói tiếng Việt được công
bố trong khoảng 5 năm gần đây Hai nội dung đo của công cụ gồm VT tiếp nhận và
VT biểu đạt là hai năng lực cơ bản trong VT của trẻ Hệ số alpha Cronbach ở VT
Trang 17tiếp nhận và VT biểu đạt cao hơn 0,71 cho thấy độ tin cậy nội bộ là rất cao Hiện nay ở Việt Nam thiếu công cụ đo VT được chuẩn hóa Vì vậy, chúng tôi sử dụng
thang đo này để đánh giá VT của trẻ (xem Phụ lục 5)
7.2.3.6 Phương pháp mô tả chân dung phát triển vốn từ của một số trẻ: Theo dõi trực tiếp sự tiến bộ về VT của 02 trẻ và mô tả kết quả đó trong và sau quá trình
nghiên cứu
7.2.3 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học: Sử dụng phần mềm
SPSS và Microsoft Excel 2010 để xử lí các số liệu thu được từ khảo sát thực trạng
tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ và thực nghiệm sư phạm
8 Luận điểm bảo vệ
8.1 Trẻ MG 3 - 4 tuổi có thể phát triển được VT tiếp nhận và VT biểu đạt tự
nhiên trong quá trình tham gia vào các hoạt động KPKH ở trường mầm non
8.2 Vốn từ của trẻ MG 3-4 tuổi được phát triển thông qua trải nghiệm ngôn ngữ
KPKH là hoạt động có nhiều lợi thế trong việc tạo cơ hội cho trẻ tiếp xúc trực tiếp với các đối tượng sử dụng ngôn ngữ trong bối cảnh có ý nghĩa, là môi trường tốt cho sự PTVT Tổ chức hoạt động KPKH có ảnh hưởng đến sự PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi
8.3 Các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH có tác động tốt đến PTVT cho
trẻ MG 3- 4 tuổi khi được thiết kế có mục tiêu rõ ràng và tiến hành trong môi trường thuận lợi, tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm ngôn ngữ một cách tự nhiên, tích cực và thường xuyên
9 Đóng góp mới của luận án
9.1 Bổ sung, làm phong phú hơn lí luận về PTVT, hoạt động KPKH và tổ
chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi
9.2 Cung cấp thông tin về thực trạng tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT
cho trẻ MG 3 - 4 tuổi của GV ở một số trường mầm non tại tỉnh Thanh Hóa làm cơ
sở khoa học cho các nhà nghiên cứu, quản lí giáo dục mầm non trong xây dựng kế
hoạch phát triển GDMN của địa phương
9.3 Các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4
tuổi đề xuất trong luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, cho công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng GV mầm non ở tỉnh Thanh Hóa Ngoài ra có thể
Trang 18vận dụng sáng tạo các biện pháp này ở các trường mầm non có điều kiện giáo dục tương đương để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ.
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận án gồm 04 chương:
Chương 1: Tổng quan và cơ sở lí luận của tổ chức hoạt động khám phá khoa
học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi;
Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển
vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi;
Chương 3: Biện pháp tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển
vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi;
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ
CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 - 4 TUỔI
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu về phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
PTVT là nội dung được quan tâm trong các nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ em nói chung, trẻ MG 3 - 4 tuổi nói riêng Những nghiên cứu về vấn đề này, tập trung theo các hướng sau đây:
Thứ nhất: Những nghiên cứu về tốc độ PTVT của trẻ MG 3-4 tuổi
Ở hướng này có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như: Owens [69]; Gard Gilman
& Gorman [58]; Linda & Catherine [64]; Lưu Thị Lan [19]; Nguyễn Xuân Khoa [17]; Nguyễn Thị Phương Nga [24]; Nguyễn Thị Hiên và Nguyễn Thị Tươi [12] Các tác giả trên đều khẳng định bước vào giai đoạn 3-4 tuổi, trẻ có tốc độ phát triển nhanh
về vốn từ Tuy nhiên, mỗi tác giả đưa ra các nghiên cứu khác nhau về số lượng và
chất lượng từ cụ thể mà trẻ đạt được Tác giả Owens (1986) cho rằng: “đến 3 tuổi,
hầu như trẻ đều sử dụng được các câu đơn từ 3 đến 4 từ, tiếp thu khoảng 900-1000 từ; VT tiếp nhận và VT biểu đạt của trẻ được mở rộng Đến 4 tuổi, trẻ đã thành thạo ngữ pháp cơ bản, tiếp thu khoảng 1500-1600 từ và đa dạng các loại câu hỏi” [69]
Tác giả Gard, Gilman và Gorman (1993) cho rằng: “số lượng từ của trẻ 3 tuổi:
425 - 900 từ, 4 tuổi: 1500 từ” [58] Mặc dù không chỉ rõ số lượng từ mà trẻ có
được ở độ tuổi 3 - 4 nhưng tác giả Linda Clark & Catherine Ireland (1994) khẳng
định rằng: “ở thời điểm 3 tuổi, trẻ đã có thể nhớ được những việc xảy ra hôm qua,
lên kế hoạch cho ngày mai, phát âm đã khá hoàn thiện, trẻ có thể nhận thức được người lạ khoảng 85%, có khả năng dùng danh từ để đặt tên đồ vật, dùng tính từ để miêu tả đồ vật; khi được 4 tuổi, vốn từ của trẻ tăng lên rõ rệt, câu hỏi của trẻ về
sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanhphức tạp hơn, trẻ đã dần nắm được quy luật của việc dùng từ (khi nào dùng “một”, khi nào dùng “những”)” [64]
Điều này cũng thể hiện tốc độ PTVT của trẻ MG 3 – 4 tuổi là rất nhanh
Trang 20Trên ngữ liệu tiếng Việt, tác giả Lưu Thị Lan, Nguyễn Xuân Khoa, Nguyễn Thị Phương Nga, Nguyễn Thị Hiên, Nguyễn Thị Tươi đã nghiên cứu và đưa ra các thông tin về số lượng từ trẻ mà trẻ 3- 4 tuổi có được Cụ thể, tác giả Lưu Thị Lan
(1996) cho rằng: “đến 3 tuổi, trẻ có số lượng từ là 486, đến cuối 3 tuổi thì số lượng từ
của trẻ tăng lên 107%; nhưng cuối 4 tuổi, số lượng từ của trẻ chỉ tăng 40,58% so với lúc đầu của 4 tuổi (khoảng 1035 từ)” [20] Nguyễn Xuân Khoa (1999) cho rằng: “đến 3 tuổi, trẻ sử dụng được 1300 từ, trong đó phần lớn là danh từ và động từ; khi 4 tuổi, vốn
từ của trẻ vào khoảng 1900 – 2000 từ, danh từ, động từ vẫn chiếm ưu thế, còn tính từ, các từ loại khác ít sử dụng” [17] Nguyễn Thị Phương Nga (2006) cho rằng: “Ngôn ngữ của trẻ 3 tuổi phát triển rất nhanh, vốn từ của trẻ tăng gấp 5 lần so với lúc 2 tuổi, trẻ có khả năng sử dụng trung bình khoảng 1000 từ, các từ sử dụng có thể phân chia một cách ước lệ như sau: 60% danh từ, 20% động từ, 10% danh từ riêng và 10% các
từ loại khác nhau như tính từ, đại từ ” [24] Nguyễn Thị Hiên và Nguyễn Thị Tươi
cho rằng: “số lượng từ mà trẻ tích lũy được là khoảng 1800 – 1835” [12]
Sở dĩ có nhiều kết quả khác nhau về tốc độ phát triển từ của trẻ MG 3-4 tuổi như trên là do các tác giả nghiên cứu vào các thời điểm khác nhau, với đối tượng trẻ
ở các vùng miền khác nhau Thêm nữa, kết quả này còn phụ thuộc vào VT mà tác giả đề cập là VT tiếp nhận hay VT biểu đạt Tuy nhiên, các nghiên cứu đều khẳng định, tốc độ PTVT của trẻ ở giai đoạn 3 - 4 tuổi diễn ra nhanh Đây là thời điểm quan trọng để tổ chức hoạt động thúc đẩy sự PTVT cho trẻ
Thứ hai: Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa PTVT với phát triển
ngôn ngữ và nhận thức của trẻ em
Ở hướng này có thể kể đến các tác giả tiêu biểu như: L.S.Vygotsky[46]; E.I Tikheeva[39]; Lee Yun Gyung [63]; Paul L Morgan [70]… Các tác giả trên đều khẳng định có mối quan hệ giữa PTVT với phát triển ngôn ngữ và nhận thức của trẻ
em Cụ thể: L.S.Vygotsky nhấn mạnh, ngôn ngữ là công cụ tâm lí quan trọng nhất
của một nền văn hóa Theo ông: “hoạt động tinh thần của con người chính là kết quả
học tập mang tính xã hội chứ không phải là học tập mang tính cá thể Khi gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác với người lớn và bạn
Trang 21cùng trang lứa có năng lực cao hơn; những người giúp đỡ và khuyến khích trẻ Trong mối quan hệ hợp tác này, ngôn ngữ là phương thức đầu tiên mà qua đó con người trao đổi các giá trị xã hội, là phương tiện vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tư duy” [46] E.I Tikheeva cho rằng: “PTVT hay phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải luôn gắn với việc phát triển nhận thức của trẻ Nếu như trẻ phát triển bình thường thì về mặt ngôn ngữ, mỗi từ mà trẻ học được sẽ tương ứng với một biểu tượng
mà trẻ đã thu nhận trước đó” [39] Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ,
khả năng giao tiếp, nhận thức và xã hội, Lee Yun Gyung cho rằng: “có mối tương
quan giữa ngôn ngữ với kĩ năng điều khiển hành động, cử chỉ; ngôn ngữ với nhận thức” [63] “Ngôn ngữ là một trong nhiều hình thức thể hiện tinh thần, là một trong những công cụ thể hiện tư duy, là yếu tố hỗ trợ sự phát triển tư duy; quá trình phát triển ngôn ngữ sẽ kéo theo sự phát triển tư duy, trí tuệ của trẻ” [53] Nghiên cứu của
tác giả Paul L Morgan và cộng sự đã chỉ rõ, “một trong các yếu tố ảnh hưởng đến
khả năng ngôn ngữ của trẻ là sự thiếu VT trong diễn đạt cảm xúc, ý tưởng Lỗ hổng vốn từ thường bắt đầu xảy ra với trẻ lúc 2 tuổi và điều này làm tăng nguy cơ phát triển kém về khả năng đọc sau này” [70] “Số lượng từ mà trẻ có sẽ quyết định khả năng giao tiếp của trẻ; trẻ biết càng nhiều từ thì sẽ càng lĩnh hội được nhiều thông tin, cơ hội tiếp xúc với môi trường xung quanh càng nhiều” [62]
Trên ngữ liệu tiếng Việt, các tác giả: Nguyễn Huy Cẩn [3], [4], [5]; Lưu Thị Lan [19], [20] nghiên cứu đặc điểm phát âm VT, tỉ lệ từ loại trẻ sử dụng, đặc điểm câu, lỗi sai thường gặp trong lời nói của trẻ ; đồng thời khẳng định, sự phát triển thành tố này là điều kiện, tiền đề cho các thành tố khác của ngôn ngữ phát triển Tác
giả Nguyễn Thị Oanh [26] khẳng định: “Trẻ học tiếng mẹ đẻ nhờ những ấn tượng
tổng quát chứ không tách bạch từng nội dung Trẻ học nghĩa của từ và khả năng diễn đạt bằng lời nói một cách mạch lạc thông qua việc tích cực tiếp xúc với các cuốn truyện tranh, thông qua việc miêu tả đồ chơi mà trẻ thích ”
Từ các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên, ta có thể thấy nghiên cứu VT
và PTVT của trẻ luôn phải đặt trong mối quan hệ với sự phát triển các thành tố khác của ngôn ngữ
Trang 22Thứ ba: Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự PTVT của trẻ
Ở hướng nghiên cứu này có thể kể đến các tác giả Van Kleeck, A [78]; Hoff
E [60]; Catherine L Taylor, Daniel Christensen, David Lawrence, Francis Mitrou, Stephen R Zubrick [54]; Nguyễn Thị Oanh [26]; Lưu Thị Lan [20] Các tác giả đã
khẳng định có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự PTVT của trẻ như: “với trẻ 3 - 4 tuổi các
yếu tố gồm: trình độ học vấn của người mẹ, tâm lí của người mẹ, tâm lí bất thường của trẻ, là những yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng VT từ hiểu nghĩa và cách sử dụng của từ ở trẻ” [54] Ngoài ra, yếu tố bản thân đứa trẻ cũng là ảnh hưởng đến VT
của trẻ Theo tác giả Lưu Thị Lan: “Các cơ quan của cơ thể trẻ liên quan đến hoạt động
nói năng như: bộ máy phát âm, khả năng nghe là điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển ngôn ngữ Nếu như bản thân đứa trẻ bị khuyết tật hay không bình thường các
bộ phận trên thì trẻ sẽ không nói được hoặc nói rất khó khăn” [20] Lưu Thị Lan cũng
cho rằng môi trường văn hóa – giáo dục có ảnh hưởng lớn đến VT của trẻ “Trình độ văn
hóa của bố mẹ, vai trò của người lớn trong gia đình như ông bà hay anh chị, sự quan tâm giao tiếp ngôn ngữ của những người xung quanh đối với trẻ, môi trường sống của trẻ ở gia đình, nhà trẻ, trường MGđều có ảnh hưởng trực tiếp tới sự PTVT của trẻ Các cháu có số lượng từ nhiều là các cháu có đủ các điều kiện tốt nói trên” [20]
Thứ tư: Về đánh giá vốn từ của trẻ
Việc đánh giá VT của trẻ thường tập trung vào đánh giá VT tiếp nhận (receptive vocabulary) và VT biểu đạt (expressive vocabulary), độ rộng (số lượng từ)
và độ sâu (mức độ hiểu nghĩa của từ) VT của trẻ, khả năng học từ mới của trẻ trong giai đoạn mầm non “Peabody Picture Vocabulary Test” (tạm dịch là: kiểm tra VT thông qua tranh “Peabody”) là một phương pháp đánh giá VT tiếp nhận được sử dụng phổ biến của nhóm tác giả Douglas M Dunn, Lloyd và Leota Dunn Phương pháp đánh giá này, GV là người đưa ra một bức tranh gồm 04 hình ảnh để yêu cầu trẻ chọn hình tương ứng với từ vựng được kiểm tra [56] Đây là công cụ dùng để đánh giá tiếng Anh Mỹ, đặc biệt là kiểm tra kĩ năng đọc viết của người tham gia Công cụ đánh giá khái niệm cơ bản của Bracken (Bracken Basic Concept Scale) được sử dụng phổ biến trong đánh giá VT tiếp nhận; trong đó, người kiểm tra đưa ra 03 hình ảnh và yêu cầu trẻ lựa chọn hình ảnh phù hợp nhất với từ vựng được kiểm tra Từ các
Trang 23phương pháp đánh giá cơ bản này, một số nghiên cứu khác đã phát triển công cụ nhằm
đánh giá khả năng biểu đạt trong VT của trẻ mầm non, cụ thể: “Để trẻ chủ động đặt tên
cho tranh minh họa, đưa ra các câu hỏi dạng “Có/Không” liên quan đến từ được kiểm tra” [49]; “hoặc yêu cầu trẻ giải thích thêm về nghĩa của từ” [50], [51] Nhìn chung,
các phương pháp đánh giá VT dựa trên “Peabody Picture Vocabulary Test” có thể được sử dụng như một phương thức tham khảo hữu hiệu cho các nhà nghiên cứu; tuy nhiên, đối với việc kiểm tra khả năng biểu đạt từ hoặc tính hiệu quả của phương pháp dạy từ vựng tại trường mầm non, cần có các phương pháp đánh giá kèm theo để tăng mức độ chính xác
Phát triển nghiên cứu của Biemiller và Slonim (2001) [51], Vinco (2013) sử dụng hai phương pháp đánh giá VT biểu đạt của trẻ mầm non là “Test of Preschool Early Literacy (TOPEL)” - Bài kiểm tra kĩ năng từ vựng cho trẻ mầm non [65] và
“Preschool Assessment of Vocabulary: Expressive and Receptive (PAVER)” [79] Đối với bài kiểm tra TOPEL, trẻ được yêu cầu dán nhãn các từ với các tranh minh họa phù hợp và trả lời các câu hỏi liên quan đến nghĩa của từ đó
Với phương pháp PAVER, trẻ được yêu cầu thực hiện đánh giá thông qua hai tiêu chí: chỉ đúng hình ảnh minh họa của từ kiểm tra và trả lời được các câu hỏi liên quan đến từ đó Với phần 1 của bài đánh giá về VT tiếp nhận, trẻ được yêu cầu lựa chọn hình ảnh minh họa phù hợp với từ kiểm tra trong 04 đáp án; ở phần 2 của bài đánh giá về vốn từ biểu đạt, trẻ sẽ chủ động đưa ra từ mục tiêu dựa trên hình ảnh minh họa, đồng thời trả lời các câu hỏi liên quan đến tính chất của từ đó Để đánh giá
VT của trẻ nói tiếng Việt, năm 2018, Pham, G., & Tipton, T.[72] đã nghiên cứu và sử dụng công cụ để đánh giá VT tiếp nhận và VT biểu đạt của trẻ em Công cụ được nhóm tác giả xây dựng là các bài tập gọi tên tranh, nhận diện, phân biệt tranh dưới dạng trắc nghiệm (test) Bộ công cụ này được sử dụng ở nhiều nước để nghiên cứu nhiều ngôn ngữ trên thế giới Năm 2019, nhóm tác giả Pham, G et al [73] đã sử dụng bộ công cụ này nghiên cứu khả năng ngôn ngữ của trẻ em Việt Nam Bài nghiên cứu này được đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lời nói – Ngôn ngữ - Thính giác của Hiệp hội Lời nói – Ngôn ngữ - Thính giác Hoa Kì
Nhìn chung, các nghiên cứu công cụ đánh giá VT của trẻ mầm non đều kết
Trang 24hợp đồng thời đánh giá VT tiếp nhận và VT biểu đạt Trong hầu hết các công cụ đánh giá, bức tranh về từng sự vật, hiện tượng, hoạt động được sử dụng như là một phương tiện để kiểm tra VTtiếp nhận và là gợi ý để trẻ đặt câu, sử dụng từ phù hợp với nội dung của bức tranh
Thứ năm: Những nghiên cứu về phương pháp, biện pháp phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo
Biện pháp giao tiếp, tương tác hàng ngày với trẻ để PTVT: Các tác giả tiêu
biểu như: Miller, P.H [67]; Miller, P J & Mehler, R A [68]; Penno, Wilkinson & Moore [71]; Elaine Weitzman Zucker [57], Piasta & Kaderavek [81], Ruston, H.P
& Schwanenflugel, P.J., Adger [74], Hoyle & Dickinson [48], McKeown và Beck [49], Girolametto [59], Huttenlocher [61]…Miller, P H; Miller, P J & Mehler, R
A đã chỉ ra rằng: “Trẻ em có thể sử dụng lời nói của mình để nói chuyện với chính
mình (nói riêng hoặc tự nói), định hướng tư duy của chúng giúp giải quyết vấn đề
và lên kế hoạch cho những gì chúng sẽ làm” [68] Các tác giả nhấn mạnh rằng: “Để thúc đẩy phát triển ngôn ngữ và từ vựng, sự tương tác giữa GV và trẻ em, cách trình bày và củng cố từ vựng là những yếu tố quan trọng trong việc học của trẻ em
GV cần giải thích từ và chủ động sử dụngtừ này trong suốt cả ngày trong các hoạt động khác nhau.” [71] Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra một trong những vấn đề tồn
tại phổ biến là “GV thường không nói chuyện và thu hút trẻ nhỏ vào trò chuyện mở
rộng và phát triển ngôn ngữ của chúng, có xu hướng dành nhiều thời gian để đưa ra phương hướng và khi thảo luận về nội dung thường hỏi trẻ những câu hỏi chỉ cần một hoặc hai từ để trả lời” [81]
Nghiên cứu theo hướng này ở Việt Nam có một số tác giả quan tâm như: Nguyễn Thị Oanh [26], Nguyễn Thị Hiên, Nguyễn Thị Tươi [12] Các tác giả trên đều khẳng định vai trò của giao tiếp, tạo tình huống trong giao tiếp, tương tác hàng ngày đối với PTVT cho trẻ
Biện pháp đọc sách, kể chuyện, hát và chơi trò chơi… “Tương tác trò chuyện và hướng dẫn của GV, cán bộ nhân viên và các thành viên trong gia đình cũng tạo cơ hội cho trẻ nhỏ PTVT” [77] “Kể chuyện - những câu chuyện cá nhân được tạo ra bởi
Trang 25những đứa trẻ là kết quả của hoạt động trải nghiệm thực tế - là một biện pháp hiệu quả
mà GV có thể sử dụng để gia tăng sự PTVT của trẻ” [68] “Những trẻ thường xuyên tiếp xúc với nhiều câu chuyện khác nhau thì VT và độ phức tạp ngữ pháp trong ngôn ngữ nói của chúng phát triển hơn những đứa trẻ khác” [75] Theo tác giả Tikheeva E
I, “một trong những biện pháp hữu hiệu để phát triển ngôn ngữ là cho trẻ quan sát vật
thật, tranh ảnh, kể chuyện, tham quan, hay tổ chức trò chơi” [39] Tác giả Christ, T
and Wang, C, đã khẳng định: “Tạo cơ hội cho trẻ sử dụng VT trong hoàn cảnh giao
tiếp có ý nghĩa là một việc làm quan trọng nhằm phát triển VT” [55]
Ở Việt Nam, Nguyễn Thị Oanh cho rằng, nhiệm vụ PTVT cho trẻ MG 5 – 6
tuổi gồm: “(1) PTVT và kĩ năng sử dụng từ ngữ trong lời nói của trẻ; (2) Hình
thành và phát triển cấu trúc ngữ pháp cho trẻ; (3) Giáo dục ngữ âm cho trẻ MG
5-6 tuổi Tác giả đã phân tích cách thức PTVT, mở rộng nội dung ý nghĩa từ vựng cho trẻ MG 5 – 6 tuổi bằng con đường nhận thức thế giới xung quanh thông qua việc tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động phù hợp như: vui chơi, học tập, lao động, dạo chơi, tham quan , trong đó hoạt động vui chơi và hoạt động học tập đóng vai trò chủ đạo” [26] Ngoài ra, đã có một số nghiên cứu lý giải “trẻ lĩnh
hội các thành tố của ngôn ngữ như thế nào?”; chỉ ra nội dung, phương pháp, hình thức phát triển từng thành tố của ngôn ngữ; trong đó đều thống nhất sử dụng các nhóm phương pháp như dùng lời, trực quan, thực hành và trò chơi ; đồng thời đưa
ra các biện pháp cụ thể [11], [12], [36], [43], Các tác giả đã mô tả chi tiết về cách thức tiến hành các phương pháp/biện pháp PTVT cho trẻ Tuy nhiên, trẻ giai đoạn 3-4 tuổi vẫn chưa được các tác giả quan tâm Đây là cơ hội để chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu
Qua phân tích các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi có thể thấy nghiên cứu từ góc nhìn này đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Những nghiên cứu này đã chỉ ra được mối quan hệ giữa PTVT với phát triển ngôn ngữ và nhận thức của trẻ; yếu tố ảnh hưởng đến sự PTVT, tốc độ PTVT, đánh giá VT cũng như các phương pháp, biện pháp PTVT cho trẻ MG Những nghiên cứu này có vai trò quan trọng, cung cấp một bức tranh khái quát về vốn từ của trẻ (tốc độ, yếu tố ảnh hưởng, cách đánh giá, phương pháp phát
Trang 26triển ) Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ chú trọng đến nhiệm vụ phát triển VT và đưa ra các biện pháp phát triển ngôn ngữ chung cho trẻ Do vậy, việc xác định nhiệm
vụ, biện pháp và hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm PTVT có ý nghĩa lớn đối với phát triển toàn diện cho trẻ MG 3-4 tuổi
1.1.2 Những nghiên cứu về tổ chức hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
Thứ nhất: Những nghiên cứu về vai trò của hoạt động khám phá khoa học
đối với sự phát triển của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
Nghiên cứu theo hướng này có những tác giả tiêu biểu như: Worth, K [80], Nguyễn Thị Thu Hiền [13] Các tác giả nhấn mạnh vai trò to lớn của quá trình quan sát, tiếp xúc với thiên nhiên, xã hội đối với việc lĩnh hội kiến thức, phát triển trí tuệ, ngôn ngữ của trẻ em Điểm chung trong nghiên cứu của các tác giả này là: Qua hoạt động KPKH, trẻ được tìm hiểu thế giới xung quanh, được khám phá, thử nghiệm, phát hiện, giải thích, lập luận Kết quả là trẻ thu được một số lượng từ đáng kể, phát triển được năng lực quan sát, tư duy, giải quyết vấn đề Đây là điều kiện để ngôn ngữ của trẻ được bộc lộ, phát triển Worth, K cho rằng việc dạy và học khoa học trong lớp học mầm non, giúp trẻ sử dụng và phát triển các kĩ năng quan trọng như làm việc nhóm, phát triển ngôn ngữ và hiểu biết toán học [80]
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền khẳng định “vai trò quan trọng của trò chơi
thí nghiệm trong việc tạo hứng thú, kích thích trẻ tích cực hoạt động, phát triển tính
tò mò, thích khám phá, tìm tòi, phát triển óc quan sát, phán đoán và các năng lực trí tuệ trong hoạt động KPKH Qua đó phát triển được VT nói riêng và ngôn ngữ nói chung” [13]
Nhìn chung, các nghiên cứu trên chủ yếu phân tích vai trò, ảnh hưởng của việc tổ chức hoạt động KPKH tới sự phát triển về mọi mặt của trẻ mầm non nói chung, chưa tập trung nghiên cứu biện pháp tổ chức PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi
Thứ hai: Các nghiên cứu về hướng dẫn tổ chức hoạt động khám phá khoa học
cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi
Tác giả Marilyn Fleer & Tim Hardy [66] đưa ra những hướng tiếp cận hướng
Trang 27dẫn trẻ KPKH Thomas [37], Bloom [52] xem hoạt động KPKH như là một phương tiện để giáo dục phát triển toàn diện cho trẻ MG và xây dựng “ngân hàng” các hoạt động KPKH cụ thể nhằm hướng dẫn GV mầm non tổ chức KPKH cho trẻ một cách
đa dạng, tạo ra các cơ hội để trẻ tham gia hiệu quả, qua đó PTVT cho trẻ
Tìm hiểu về việc cho trẻ thực hành trải nghiệm trong hoạt động KPKH, tác giả
Janet Humphyryes cho rằng: “Trẻ từ 0 – 6 tuổi luôn khám phá thế giới bằng các giác
quan Trẻ có thể hiểu tốt hơn khi tham gia vào các hoạt động khám phá thế giới tự nhiên GV nên lựa chọn những hoạt động trẻ hứng thú và muốn tìm hiểu Để giúp trẻ thực hiện được điều này, GV tạo cơ hội cho trẻ được hòa mình vào môi trường tự nhiên và dành thời gian để khám phá nó” [16]
Tác giả Nguyễn Thị Nga đề xuất 05 biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm phát triển khả năng suy luận cho trẻ 5 – 6 tuổi [23] Các tác giả Hoàng Thị Phương [32], Nguyễn Thị Thanh Thuỷ [38], Trần Thị Ngọc Trâm [42] và Hồ Lam Hồng [15] hướng dẫn tổ chức hoạt động hoặc những nội dung KPKH cụ thể thông qua việc xây dựng “ngân hàng” các hoạt động KPKH về thiên nhiên vô sinh, đất, nước, không khí, ánh sáng và thế giới động, thực vật… nhằm phát triển nhận thức cho trẻ Đây là những gợi ý quan trọng để chúng tôi đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi Nhìn chung, các nghiên cứu
về tổ chức hoạt động KPKH đã phân tích được vai trò của việc tổ chức hoạt động KPKH tới sự phát triển về mọi mặt của trẻ mầm non
1.1.3 Những nghiên cứu về tổ chức hoạt động khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
Nghiên cứu về hoạt động KPKH đã được quan tâm, tuy nhiên nghiên cứu về
tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG nói chung và trẻ MG 3 – 4 tuổi còn khá ít Hướng nghiên cứu này, tập trung vào 2 nội dung chính:
Thứ nhất: Nghiên cứu sử dụng bài tập, trò chơi, thí nghiệm trong quá trình
cho trẻ KPKH nhằm PTVT
Tác giả Tikheeva E I cho rằng, xây dựng hệ thống bài tập, trò chơi khác nhau
sẽ phát triển khả năng tiếp thu, quan sát, các biểu tượng, tư duy và ngôn ngữ cho
Trang 28trẻ MG Bà đưa ra một số bài tập mở rộng VT phát triển ý nghĩa từ vựng cho trẻ như
sau: “(1) Chọn những định ngữ cho vật thể; (2) Đoán những vật thể theo định ngữ;
(3) Chọn những vị ngữ (chỉ hành động) cho vật thể hoặc chọn vật thể căn cứ vào vị ngữ; (4) So sánh sắc thái của từ; (5) Tiếp tục câu bỏ dở; (6) Thêm các mệnh đề phụ; (7) Những bộ phận cấu thành của vật thể; (8) Nói thành câu với từ cho sẵn; (9) Giải câu đố và đặt câu đố; (10) Phân loại vật thể” [39]
Bài tập này cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong việc làm giàu VT, phát triển nội dung của từ, giúp trẻ biết sử dụng từ ngữ đúng trong khi nói Do đó, chúng tôi sẽ chọn lọc và vận dụng vào việc tổ chức cho trẻ MG 3 - 4 tuổi lĩnh hội VT trong hoạt động KPKH
Thứ hai: Tổ chức hoạt động trải nghiệm và thảo luận về các hoạt động trong
quá trình KPKH nhằm PTVT cho trẻ, có các tác giả Smith [76], Lauren Lowry[62],
Humphyryes [16], Lưu Thị Lan [20], Đinh Hồng Thái [36], Nguyễn Văn Cẩn [5], Lã Thị Bắc Lý [21], Bùi Thị Lâm [18], Lê Thị Thanh Sang [35], Nguyễn Thi Minh Phương [34] Các tác giả đều tập trung nghiên cứu về sự PTNN của trẻ, các biện pháp phát triển ngôn ngữ, sử dụng hoạt động KPKH như là phương tiện để phát triển ngôn
ngữ và đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động để PTNN cho trẻ mầm non
Tác giả Smith đã chỉ ra phương pháp kích thích hứng thú tìm hiểu thế giới thực vật của trẻ em thông qua các hoạt động trồng cây, chăm sóc cây Qua đó, VT của trẻ về
môi trường xung quanh được xuất hiện từ đơn giản đến phức tạp [76] Cũng nghiên cứu hướng này, Lauren Lowry nhấn mạnh, “khi cung cấp từ mới cho trẻ, đặc biệt là
trẻ 3 - 4 tuổi, không nên đưa nhiều từ cùng một lúc mà nên tạo cơ hội, động viên, khuyến khích trẻ diễn đạt để trả lời; nên kết hợp dùng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt để trẻ hiểu sâu hơn từ mới đó” [62]
Như vậy, hoạt động KPKH có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển mọi mặt của trẻ, trong đó có PTVT Số lượng từ của trẻ sẽ gia tăng, trẻ hiểu và sử dụng đúng nếu chúng ta thường xuyên và biết cách giao tiếp với trẻ, dạy trẻ, chơi cùng trẻ Hoạt động KPKH giúp trẻ trực tiếp cảm nhận các sự vật, hiện tượng, qua đó kích thích ngôn ngữ để trẻ lĩnh hội được từ Các hoạt động KPKH không chỉ giúp cho VT của trẻ được mở rộng mà còn giúp trẻ hiểu và lựa chọn, sử dụng từ phù hợp
Trang 29Tóm lại, có nhiều nghiên cứu về VT, PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi Đặc biệt, những nghiên cứu về tổ chức hoạt động khám phá khoa học nói chung, khám phá khoa học nhằm PTVT cho trẻ nói riêng đã được quan tâm Các nghiên cứu theo hướng này cũng đã hướng dẫn được cách tổ chức hoạt động KPKH nhằm phát triển toàn diện cho trẻ Tuy nhiên, nghiên cứu tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi ở Việt Nam đến nay vẫn còn là một khoảng trống Vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu cách tổ chức hoạt động KPKH để PTVT cho trẻ một cách bài bản,
hệ thống, từ đó xây dựng các biện pháp tổ chức hoạt động KPKH nhằm PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi ở trường mầm non
1.2 Cơ sở lý luận của tổ chức hoạt động Khám phá khoa học nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi
Theo Từ điển tiếng Việt: “Từ là đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ Từ là đơn
vị nhỏ nhất có cấu tạo ổn định, được dùng để cấu thành câu.” [29, tr.1035]
Theo nhóm tác giả Lã Thị Bắc Lý, Phan Thị Hồng Xuân và Nguyễn Thị Thu
Nga: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ có ý nghĩa và có chức năng độc lập tạo
câu” [22, tr.33]
Trong luận án này, chúng tôi sử dụng khái niệm của Đỗ Hữu Châu: “Từ của
tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [6, tr.6]
- Phân loại:
Theo Lã Thị Bắc Lý, Phan Thị Hồng Xuân và Nguyễn Thị Thu Nga: “từ loại
tiếng Việt được chia thành hai lớp lớn và một lớp trung gian” [22]
Trang 30Thực từ: gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ Chúng có đặc điểm: “(1) Có ý nghĩa từ vựng; (2) Có khả năng làm thành tố chính trong cụm từ chính phụ; (3) Có khả năng đảm nhiệm các thành phần chính trong câu.” [22]
+ Danh từ: là những từ chỉ sự vật (người, vật, hiện tượng, khái niệm hoặc
đơn vị)
+ Động từ: là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật
+ Tính từ: là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của vật, hoạt động,
trạng thái,
+ Số từ: là những từ chỉ số lượng và thứ tự
Hư từ: gồm phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ Chúng có đặc điểm: “không có ý nghĩa từ vựng, không có khả năng làm thành tố chính trong cụm từ chính phụ, không
có khả năng đảm nhiệm các thành phần chính trong câu” [22]
Lớp từ trung gian: Là đại từ, có đặc điểm: “(1) Giống thực từ: Có khả năng đảm nhiệm một số thành phần câu như chủ ngữ, bổ ngữ; (2) Giống hư từ: Không có ý nghĩa từ vựng Khi thay thế cho từ loại nào thì đại từ mang đặc điểm của từ loại đó” [22]
1.2.1.2 Vốn từ
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, “VT bao gồm toàn thể những
từ và các đơn vị tương đương với từ” [47, tr.428] Với khái niệm này, “vốn từ’’ được
hiểu theo nghĩa rộng, tương đương với từ vựng
Theo Lê Hữu Tỉnh, “VT của cá nhân là toàn bộ các từ và đơn vị tương đương
từ của ngôn ngữ được lưu giữ trong trí óc của cá nhân và được cá nhân đó sử dụng trong hoạt động giao tiếp” [40, tr.14]
Khái niệm này cho thấy, “từ được lưu giữ trong trí óc của cá nhân” tức là
cá nhân đã hiểu được nghĩa của từ đó (VT tiếp nhận), còn “sử dụng được từ trong
hoạt động giao tiếp” tức là phải được biểu hiện ra bên ngoài bằng cách cá nhân đó
vừa phát âm được vừa sử dụng được từ trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau (VT biểu đạt) Như vậy, VT của trẻ bao gồm cả những từ/ cụm từ trẻ hiểu, đã có trong trí não nhưng chưa biết cách sử dụng và những từ/cụm từ trẻ đã biết sử dụng
trong giao tiếp
Trang 311.2.2 Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
1.2.2.1 Khái niệm vốn từ của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi
Từ khái niệm vốn từ của Lê Hữu Tỉnh [40, tr.14], luận án hiểu:
“VT của trẻ MG 3- 4 tuổi là toàn bộ các từ và đơn vị tương đương từ của
một ngôn ngữ, được lưu giữ trong trí óc của trẻ dưới dạng tiếp nhận (hiểu nghĩa của từ) hoặc biểu đạt (sử dụng được từ phù hợp)”
1.2.2.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non nói chung, trẻ MG 3 – 4 tuổi nói riêng là một quá trình từ thấp đến cao với các giai đoạn mang những đặc trưng khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của trẻ, ở mỗi giai đoạn có sự kế thừa và phát triển
những thành tựu của giai đoạn trước
- Vốn từ xét về mặt số lượng
Trong phần Tổng quan, luận án đã trình bày cụ thể các kết quả nghiên cứu
về số lượng từ của trẻ ở những mốc tháng mà trẻ có thể đạt được Chúng tôi xin nhắc lại số liệu của một số tác giả trong nước Theo Lưu Thị Lan, trẻ 3 tuổi có số lượng từ là 486 Trẻ 4 tuổi có số lượng từ là 724 [20], theo Nguyễn Xuân Khoa trẻ 3 tuổi có số lượng từ là 1300, trẻ 4 tuổi có khoảng 1900 – 2000 từ [17]
- Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại
Xét về cơ cấu từ loại, trẻ MG 3-4 tuổi chủ yếu tiếp thu danh từ và động từ, các
từ loại khác ít hoặc chưa xuất hiện trong vốn từ của trẻ Tỉ lệ các từ loại khác tăng lên theo độ tuổi của trẻ, song mức độ ở các năm có sự khác nhau và ở từng loại cũng khác nhau Theo Lưu Thị Lan, cơ cấu từ loại trong VT của trẻ 4 tuổi gồm: danh từ: 37.91% → 35,36%; động từ: 33,36% → 31,04%; đại từ: 2,82% → 3,61% [20]
Sự tăng giảm của các từ loại trong VT phù hợp với nhận thức của trẻ Khi còn nhỏ thì sự nhận biết của trẻ chủ yếu là các đồ vật, hành động và những người thân thiết nhất Chính vì thế VT của trẻ chủ yếu là các danh từ, động từ chỉ tên gọi
sự vật, hiện tượng và hoạt động Khi lớn hơn, trẻ nhận biết thêm được các đặc điểm, tính chất, mối quan hệ của các sự vật, hành động, do đó các từ loại khác được xuất hiện và phát triển phong phú hơn
Theo các nhà ngữ pháp học chức năng thì động từ là từ loại có vai trò đặc
Trang 32biệt quan trọng đối với trẻ Động từ giúp trẻ biểu thị được mong muốn của bản thân và giúp những người xung quanh hiểu mong muốn của trẻ Ví dụ: Khi trẻ
nói ăn mẹ hiểu trẻ đói, cần ăn Khi trẻ nói đi chơi nghĩa là bé muốn được đi chơi
Vì thế, sử dụng tốt động từ sẽ giúp trẻ biết sử dụng các từ loại khác
- Khả năng hiểu nghĩa từ của trẻ
Khi tiếp thu được một từ mới, trẻ thường dùng từ đó như một từ riêng, có nghĩa là một từ chỉ biểu hiện cho một đối tượng duy nhất chứ chưa thể khái quát được cho các đối tượng cùng loại Ví dụ, trẻ dùng từ "áo" để chỉ một cái áo cụ thể trẻ mặc, sau này khi lớn hơn trẻ mới có thể dùng để khái quát mọi cái áo khác cùng loại Điều này cho thấy, khả năng hiểu nghĩa từ tùy thuộc vào sự phát triển nhận thức của trẻ qua các độ tuổi
Theo Fedorenko, trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ như sau: - Mức độ zêrô (mức độ không): Mỗi sự vật có tên gọi gắn với nó Trẻ hiểu được ý nghĩa gọi tên này: mẹ, bố, bàn, bát, (nghĩa biểu danh) - Mức độ 1: Ý nghĩa biểu hiện ở mức thấp, tên gọi chung của các sự vật cùng loại: búp bê, bóng, cốc, nhà,
- Mức độ 2: Khái quát hơn: quả (cam, xoài); xe (máy, ô tô); con (gà, cá, heo), - Mức độ 3: mức độ cao hơn trẻ có thể nắm được như: phương tiện giao thông: ô
tô, tàu thủy, xe máy, đồ vật; đồ chơi, đồ nấu bếp, đồ dùng học tập MG 5 - 6 tuổi
- Mức độ 4: Khái quát tối đa, gồm những khái nhiệm trừu tượng; số lượng, chất lượng, hành động…
Theo đó, trẻ lứa tuổi nhà trẻ hiểu được ý nghĩa ở mức độ zêrô và 1.Trẻ mẫu giáo, đặc biệt là mẫu giáo lớn hiểu được ý nghĩa của từ ở mức độ 2 và 3.Trẻ ở cấp phổ thông hiểu được nghĩa của từ ở mức độ 4 [8]
Giai đoạn 3 - 4 tuổi trẻ không chỉ hiểu nghĩa của từ chỉ các sự vật, hành động
cụ thể mà còn có thể hiểu nghĩa các từ biểu thị tính chất, màu sắc, các mối quan hệ, để có thể vận dụng giao tiếp với người khác Trẻ có thể hiều được đặc điểm của một số loài vật, chẳng hạn như: con khỉ sống ở đâu, ăn gì Đây cũng là giai đoạn trẻ có thể nói được tên, đặc điểm, công dụng của một số phương tiện giao thông quen thuộc (xe đạp, xe máy, ô tô, máy bay, tàu điện,…); Nói được đặc điểm của một số con vật (con gà, con chó, con lợn, con khỉ,…); Nói được đặc điểm của
Trang 33một số loại rau, củ, quả (quả táo, quả nho, quả na, rau cải, củ cà rốt…); Nói được chức năng của một số đồ dùng, đồ chơi (bút dùng để viết, tẩy dùng để xóa, ); Nói được một số hiện tượng thiên nhiên (trời mưa, trời nắng, gió, sấm, chớp, ).Ở giai đoạn này, trẻ còn có thể trả lời và đặt câu hỏi: Ai? Cái gì? Ở đâu? Khi nào? Gọi tên,
mô tả sự vật qua tranh ảnh; Kể lại sự việc/câu chuyện được nhìn/nghe kể; Đọc thuộc một số bài thơ, bài hát, bài đồng dao, kể lại được câu chuyện ngắn
VT của trẻ được chia thành 2 loại: VT thụ động (VT tiếp nhận) bao gồm những từ trẻ mới chỉ hiểu được nhưng chưa nói được; VT tích cực (VT biểu đạt)
gồm những từ trẻ hiểu và sử dụng trong giao tiếp, học tập Chuyển từ VT thụ động sang VT tích cực (tích cực hóa VT) chính là nội dung và nhiệm vụ quan trọng của PTVT cho trẻ MG, đặc biệt là 3 - 4 tuổi
1.2.2.3 Quá trình học từ của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
Các nghiên cứu về quá trình học từ của trẻ em đều chỉ ra rằng để học được một từ trẻ cần trải qua các giai đoạn nghe → hiểu → bắt chước → nói
Nghe: Khả năng nghe là tiền đề cho sự phát triển ngôn ngữ Trẻ nghe được
mới có thể nói - giao tiếp và phát triển ngôn ngữ “Giai đoạn MG 3 - 4 tuổi, trẻ tập
trung vào nghe hiểu âm thanh/lời nói Nghe hiểu âm thanh/ lời nói, gắn với sự vật, hiện tượng cụ thể Do vậy, các hoạt động KPKH tạo cơ hội cho trẻ được nghe một
từ nhiều lần trong bối cảnh thực với các đối tượng cụ thể Đây là môi trường tốt để trẻ được nghe – hiểu các từ cụ thể” [82]
Hiểu: Là khi trẻ thiết lập được mối liên hệ giữa một âm thanh lời nói nghe
được với ý nghĩa của nó Khả năng hiểu từ của trẻ diễn ra theo trình tự: Hiểu những
từ đầu tiên: Ban đầu trẻ hiểu nghĩa của từ giới hạn trong những ngữ cảnh cụ thể, sau
đó có khả năng nhận biết được những đồ vật quen thuộc bằng tên thậm chí ngay cả
khi những đồ vật này không nằm ở những chỗ quen thuộc Hiểu danh từ: Danh từ diễn tả một sự vật có thể nhìn thấy và thao tác được nên trẻ dễ ghi nhớ Hiểu động
từ: Hiểu những động từ phản ánh hành động mà trẻ có thể tự thực hiện; hành động
tác động vào đồ vật và hành động tạo ra sự thay đổi trong môi trường Động từ trừu tượng hơn danh từ, do đó khó học hơn đối với trẻ Trẻ MG 3 - 4 tuổi có thể hiểu
Trang 34được động từ và tỉ lệ động từ trong VT của trẻ đang tăng lên, trẻ có thể kết hợp
được danh từ và động từ khi nói; Hiểu từ chỉ thuộc tính và không gian: Trẻ hiểu được các tính từ (màu sắc, hình dạng, kích cỡ) Hiểu giới từ: Những từ chỉ không
gian như “trong”, “trên” và “dưới” thường được tiếp thu trước những từ “đằng
trước”, “ở giữa” và “bên dưới”; Hiểu đại từ: Khi lên 3, sử dụng được một cách
chuẩn xác các đại từ như “Con/cháu”, “của con”, “của cháu” [82]
Bắt chước: Là giai đoạn đầu của việc sử dụng từ Trẻ nhắc lại từ được người
lớn nói Trẻ MG 3 - 4 tuổicó thể bắt chước được những câu dài 5 - 6 từ Lời nói của trẻ phản ánh màu sắc ngôn ngữ của người lớn sống gần gũi với trẻ Chính vì vậy, để giúp trẻ nói đúng từ cần xây dựng môi trường ngôn ngữ mang tính sư phạm chuẩn mực, đặc biệt là môi trường ngôn ngữ ở gia đình và ở trường, lớp MG [82]
Nói: Đây là bước cuối cùng trong chu trình học từ của trẻ, trẻ sử dụng được từ
để giao tiếp với những người xung quanh cần tạo ra các tình huống kích thích nhu cầu nói của trẻ Trẻ cần được tham gia vào hoạt động giao tiếp, vui chơi, trải nghiệm để
có nhiều cơ hội được nghe, hiểu, bắt chước và nói Hoạt động KPKH là một trong các hoạt động có nhiều ưu thế trong việc tạo cơ hội cho trẻ được giao tiếp, vui chơi, trải
nghiệm để nghe, hiểu, bắt chước, nói [82]
1.2.2.4 Biểu hiện phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi
Căn cứ vào khái niệm, đặc điểm PTVT của trẻ; khái niệm, nhiệm vụ và nội dung PTVT cho trẻ, biểu hiện PTVT của trẻ được xem xét ở các phương diện sau:
Số lượng vốn từ của trẻ tăng lên, phạm vi vốn từ được
mở rộng sau đó tốc độ tăng vốn từ chậm dần theo độ tuổi
2 Tạo ra cơ cấu từ
loại hợp lí trong
Trẻ gọi tên được các vật, hiện tượng (danh từ), mô tả được hoạt động trạng thái của sự vật hiện tượng con
Trang 35STT
Nhiệm vụ PTVT
cho trẻ MG 3-4
tuổi
Biểu hiện PTVT của trẻ
vốn từ của trẻ người (động từ), mô tả được tính chất đặc điểm các
trang thái hoạt động (tính từ)
1.2.2.5 Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
* Khái niệm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
Khái niệm PTVT được một số tác giả quan tâm, tùy theo mục đích nghiên cứu, các tác giả nhấn mạnh đến các đặc điểm khác nhau của PTVT Trịnh Thị Hà Bắc nhấn
mạnh đến quá trình/cách thức tiến hành và mục tiêu hướng tới của PTVT: “PTVT cho
trẻ là việc tổ chức có kế hoạch, khoa học nhằm cung cấp vốn từ, làm giàu vốn từ, nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ, củng cố và tích cực hoá vốn từ cho trẻ, giúp trẻ biết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong hoạt động giao tiếp” [1, tr.7]
Nhóm tác giả Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức nhấn mạnh
đến các mục tiêu của PTVT: “PTVT cho trẻ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu ý
nghĩa của từ và biết sử dụng trong các tình huống giao tiếp” [27, tr.17]
Nguyễn Thị Phương Nga nhấn mạnh quá trình/cách thức tác động khi cho
rằng: “PTVT cho trẻ là hoạt động có chủ đích, có kế hoạch, nhằm giúp trẻ lĩnh hội
vốn từ có hiệu quả” [24, tr.74] Cũng theo tác giả, PTVT cho trẻ là cơ sở của phát
triển ngôn ngữ Đơn vị ngôn ngữ đầu tiên trẻ sử dụng là từ Trường mầm non có nhiệm vụ PTVT cho trẻ không chỉ về số lượng mà về cả chất lượng Dạy trẻ không chỉ biết nhiều từ, mà còn phải hiểu từ, sử dụng từ đúng, loại ra những từ không hay, không đẹp trong lời nói của trẻ
Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa PTVT cho trẻ, luận án hiểu:
Trang 36PTVT cho trẻ MG 3-4 tuổi là quá trình sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm
giúp trẻ gia tăng số lượng từ, hiểu nghĩa (VT tiếp nhận) và sử dụng từ (VT biểu đạt) trong các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau
* Nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
PTVT cho trẻ bao gồm hai mặt: gia tăng về VT tiếp nhận và VT biểu đạt của trẻ Cụ thể:
- Tích lũy số lượng từ cần thiết cho giao tiếp ngôn ngữ của trẻ: Mặc dù chức
năng cơ bản của từ không phải là giao tiếp nhưng thiếu từ thì giao tiếp trở nên khó khăn Vì vậy, phải cung cấp cho trẻ VT cần thiết Đó là những từ về môi trường xung quanh (ở gia đình, ở trường mầm non) cần cho cuộc sống cá nhân và quan hệ
trong sinh hoạt, học tập, vui chơi của trẻ
- Tạo ra cơ cấu từ loại hợp lí trong VT của trẻ: Khi PTVT cho trẻ, cần chú
ý tới cơ cấu từ loại sao cho hợp lí Số lượng từ lớn mà cơ cấu từ loại không hợp lí
hoặc thiếu một số từ loại nào đó thì trẻ sẽ khó khăn khi diễn đạt “Với trẻ 3 - 4
tuổi, cần đảm bảo đủ các từ loại với tỉ lệ vào khoảng: 38% danh từ, 32% động từ, 6,8% tính từ, 7,8% phó từ, 4,7% tình thái từ, 3,1% đại từ, 2,5% số từ, 1,7% quan
hệ từ ” [35] Như trên đã nói, động từ thường diễn đạt những hoạt động gần gũi và
gắn với nhu cầu hàng ngày của trẻ do đó cần nâng cao tỉ lệ động từ trong cơ cấu từ loại, thậm chí cao hơn danh từ
- Giúp trẻ lĩnh hội nghĩa của từ: Hiểu nghĩa của từ là một nội dung quan
trọng của phát triển ngôn ngữ Ở trường mầm non, nhiệm vụ này bao gồm: Giúp trẻ
nắm được ý nghĩa của từ trên cơ sở đối chiếu chính xác chúng với các đồ vật ở xung quanh, giúp trẻ lĩnh hội được ý nghĩa khái quát của từ trên cơ sở phân biệt được những dấu hiệu đặc trưng của sự vật và hiện tượng, thâm nhập vào thế giới hình tượng của lời nói và biết cách sử dụng chúng Trong quá trình giao tiếp, dần dần trẻ lĩnh hội được ý nghĩa của từ, thậm chí có nhiều nghĩa khác nhau trong một từ (từ nhiều nghĩa) hay nhiều từ có chung một nghĩa (từ đồng nghĩa)
- Tích cực hóa vốn từ cho trẻ: Trẻ không những hiểu từ mà còn phải sử dụng
được chúng trong giao tiếp Đây là quá trình biến những từ thụ động thành những từ chủ động Việc sử dụng một từ trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp sẽ làm cho từ ngữ
đó tích cực hóa trong hoạt động của trẻ
Trang 37* Nội dung phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
Theo tác giả Đinh Hồng Thái, quá trình hình thành VT có mối quan hệ mật thiết với hoạt động nhận thức tích cực của trẻ; do đó, PTVT gắn liền với quá trình phát triển tư duy, kết quả hoạt động nhận thức của trẻ Trẻ phải được khám phá, được trải nghiệm đặc biệt là trải nghiệm ngôn ngữ thì quá trình tích cực hóa VT mới hiệu quả Các nội dung PTVT phải đưa vào tất cả các hoạt động của trẻ (học tập, vui chơi, sinh hoạt ) [36]
Nội dung PTVT được phức tạp hóa dần cùng với sự tăng độ tuổi của trẻ Điều này có thể thực hiện theo ba bước: 1) Mở rộng VT của trẻ trên cơ sở cho trẻ làm quen với thế giới các sự vật, hiện tượng đang dần dần mở rộng; 2) Đưa vào những từ chỉ thuộc tính, phẩm chất, quan hệ trên cơ sở cho trẻ hiểu sâu thêm về các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh; 3) Đưa ra từ chỉ khái niệm sơ đẳng trên cơ sở phân biệt và khái quát các sự vật theo những dấu hiệu căn bản
Tác giả Đinh Hồng Thái phân chia nội dung PTVT theo đề tài gồm: “Những từ
ngữ nói về cuộc sống riêng, những từ ngữ nói về cuộc sống xã hội và những từ ngữ nói về thế giới tự nhiên” [36]
Trong nghiên cứu này, PTVT cho trẻ tập trung vào những từ liên quan đến nội
dung KPKH ở trường mầm non (đồ vật, hiện tượng tự nhiên, thực vật, động vật và
Theo Từ điển tiếng Việt [29], “khám phá là tìm ra, phát hiện ra cái còn ẩn
giấu, cái bí mật” (tr 610); “khoa học là hệ thống tri thức tích lũy trong quá trình lịch
sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực” (tr 623) Từ đó, có thể hiểu một cách khái quát: KPKH là tìm ra, phát hiện ra những tri thức bí mật, còn ẩn giấu nhằm giúp con người cải tạo thế giới hiện thực
Theo Trần Thị Ngọc Trâm và Nguyễn Thị Nga: “KPKH với trẻ nhỏ là quá
Trang 38trình trẻ tích cực tham gia hoạt động thăm dò, tìm hiểu thế giới tự nhiên Đó là quá trình quan sát, so sánh, phân loại, thử nghiệm, dự đoán, suy luận, thảo luận, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định ”[42, tr.12] Như vậy, dù cách diễn đạt khác nhau,
nhưng nhìn chung các tác giả trên đều cho rằng KPKH là tìm ra, phát hiện ra những
tri thức bí mật, còn ẩn giấu nhằm giúp con người cải tạo thế giới hiện thực Theo đó, đối với trẻ nhỏ thì KPKH là quá trình trẻ tích cực tham gia hoạt động thăm dò, tìm hiểu thế giới tự nhiên Đó là quá trình quan sát, so sánh, phân loại, thử nghiệm, dự
đoán, suy luận, thảo luận, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định
Từ phân tích các khái niệm trên luận án hiểu rằng: “KPKH của trẻ mầm non
là quá trình tham gia các hoạt động tìm hiểu thế giới xung quanh bằng các quá trình quan sát, thử nghiệm, suy luận, giải quyết vấn đề…”
- Hoạt động khám phá khoa học:
Khái niệm hoạt động KPKH được đề cập trong nghiên cứu của các tác giả Hoàng Thị Phương, Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Thị Thanh Thủy
Theo Hoàng Thị Phương: “Hoạt động khám phá môi trường xung quanh được hiểu
là quá trình tìm tòi cái mới, những điều chưa biết đối với trẻ trong các sự vật, hiện tượng ở môi trường tự nhiên, xã hội, qua đó trẻ sẽ lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng
và có thái độ đúng đắn với môi trường xung quanh Thông qua hoạt động này, trẻ được tiếp xúc với môi trường, trải nghiệm cảm xúc, tình cảm, kĩ năng, hành vi, tự lĩnh hội kiến thức về môi trường xung quanh, đồng thời có cơ hội tham gia vào việc giữ gìn, bảo vệ môi trường xung quanh” [33, tr.65] Như vậy, trong khái niệm này,
tác giả Hoàng Thị Phương cho rằng khám phá môi trường xung quanh bao gồm khám phá khoa học và khám phá xã hội “Khám phá” là: tìm tòi cái mới, những
điều chưa biết, nhờ đó trẻ được trải nghiệm để lĩnh hội kiến thức
Tác giả Hoàng Thị Oanh và Nguyễn Thị Xuân cho rằng: “Hoạt động KPKH
chính là việc GV tạo ra các điều kiện, cơ hội và tổ chức các hoạt động để trẻ tích cực tìm tòi, phát hiện những điều thú vị về các sự vật, hiện tượng xung quanh Điều quan trọng hơn cả là thông qua hoạt động khám phá này, trẻ học được các kĩ năng quan sát, so sánh, phân loại, đo lường, phán đoán, giải quyết vấn đề, chuyển tải ý kiến của mình và đưa ra kết luận” [28, tr.17] Khái niệm này đề cập tới vai trò của
Trang 39GV là người chuẩn bị, tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ tìm tòi, phát hiện ra các đặc điểm của sự vật, hiện tượng và nhấn mạnh tới kết quả của hoạt động là hình thành
và phát triển kĩ năng nhận thức, ngôn ngữ… cho trẻ em
Theo Nguyễn Thị Thanh Thuỷ: “hoạt động KPKH là hoạt động đòi hỏi trẻ
phải huy động tối đa các giác quan Kết quả của hoạt động này là khơi dậy, nuôi dưỡng ở trẻ tính tò mò, ham hiểu biết, kích thích các giác quan phát triển, đem lại cho trẻ kiến thức khoa học đơn giản, sơ đẳng phù hợp với độ tuổi; qua đó phát triển các kĩ năng nhận thức ở trẻ như: quan sát, so sánh, phỏng đoán, suy luận, giải quyết vấn đề, hợp tác ” [38] Khái niệm này nhấn mạnh tới hứng thú, niềm
tin, ý chí… và các kĩ năng của trẻ
Từ phân tích các khái niệm trên luận án hiểu rằng: “Hoạt động KPKH của
trẻ MG 3 - 4 tuổi là quá trình trẻ trực tiếp tham gia tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh bằng các giác quan thông qua nhiều hoạt động: quan sát, so sánh, phân loại, thử nghiệm, làm thí nghiệm đơn giản, thảo luận, ; qua đó lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng và có thái độ đúng đắn với các đối tượng này.”
Như vậy, bản chất của hoạt động KPKH là: (1) Trẻ được thao tác, trải
nghiệm trực tiếp trên đối tượng bằng các giác quan; (2) Trẻ được đặt vào trạng thái tò mò, hứng thú tìm tòi, phát hiện đối tượng nên luôn tích cực tham gia hoạt động khám phá; (3) Trẻ được thăm dò, tìm tòi cái mới, những điều chưa biết; (4) Trẻ lĩnh hội được nhiều kiến thức và phát triển ngôn ngữ về đối tượng khám phá; (5) Hình thành và phát triển các kĩ năng quan trọng như: quan sát, so sánh, phỏng đoán, làm việc nhóm, giao tiếp ; (6) Hình thành xúc cảm, tình cảm và thái độ tích
cực nhận thức ở trẻ
1.2.3.2 Đặc điểm hoạt động khám phá khoa học của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
Hoạt động KPKH ở trẻ MG 3 - 4 tuổi là tìm tòi, khám phá những sự vật hiện tượng ở thế giới xung quanh để trẻ có thể nhận biết, gọi tên, đặc điểm, tính chất…, biết cách sử dụng từ trong những tình huống cụ thể Trẻ MG 3-4 khám phá thế giới xung quanh bằng quan sát, cảm nhận trực tiếp đối tượng thực hoặc gián tiếp qua các phương tiện trực quan khác
Trang 40Đối tượng của hoạt động KPKH của trẻ MG 3-4 tuổi là những sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ
Như vậy, với những đặc thù riêng, hoạt động KPKH chính là một trong
những phương tiện hiệu quả để PTVT cho trẻ MG 3 - 4 tuổi
1.2.3.3 Ưu thế của hoạt động khám phá khoa học đối với phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
- Hoạt động KPKH tạo môi trường đa dạng cho trẻ tiếp xúc, quan sát, nhận biết để tích lũy vốn từ: Hoạt động KPKH tạo cơ hội cho trẻ được tiếp xúc với đồ vật,
động vật, thực vật, hiện tượng tự nhiên … Mỗi một đối tượng, sự việc, hiện tượng sẽ cung cấp cho trẻ nguồn ngữ liệu phong phú về từ Qua trải nghiệm, quan sát, khám phá các sự vật, hiện tượng, trẻ được hình thành và phát triển nhận thức về các đối tượng với tên gọi, đặc điểm, hoạt động, tính chất Từ nhu cầu muốn tìm hiểu, khám phá thế giới tự nhiên trong đời sống khiến trẻ muốn tìm hiểu các đối tượng đó, miêu
tả các đối tượng đó, nhờ vậy, số lượng từ của trẻ tăng lên
- Hoạt động KPKH kích thích trẻ tương tác, trao đổi để sử dụng từ trong câu:
Khi được thao tác, trải nghiệm trực tiếp trên đối tượng thực, trẻ hứng thú, tò mò, ham hiểu biết;tích cực tham gia hoạt động bằng cách sẵn sàng tiếp nhận cái mới, tự đặt câu hỏi, biết liên hệ kiến thức mới với những gì đã biết trước đó để mô tả và giải thích về những gì được quan sát, khám phá, phát hiện và thử nghiệm… Thông qua đó, trẻ được
sử dụng từ trong ngữ cảnh cụ thể có ý nghĩa, tức là gắn từ với đối tượng, tình huống cụ thể; không những được nghe GV giải thích, trẻ còn được tạo cơ hội để bộc lộ ý kiến, quan điểm của bản thân về các đối tượng đó Điều này giúp trẻ vừa được gia tăng số lượng từ, vừa hiểu được nghĩa và sử dụng từ trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau
- Hoạt động KPKH tạo cơ hội cho trẻ mở rộng phạm vi sử dụng của từ: Điểm
đặc trưng của hoạt động KPKH là trẻ được quan sát, so sánh, phỏng đoán, làm việc nhóm, giao tiếp, dự đoán, suy luận, thảo luận, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định… trên đối tượng cụ thể; do vậy, các kĩ năng tương ứng được hình thành và phát triển Trong quá trình đó, GV tạo ra nhiều nhiệm vụ nhận thức với những tình huống “có vấn đề” buộc trẻ phải huy động những điều đã biết để giải quyết vấn đề cần tìm Điều