Rất rất hay !
Trang 1DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
NN&PTNT : Nông Nghiệp và phát triển nông thôn
Công ty TNHH MTV VDTN: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
ván dăm Thái Nguyên
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thiết kế kỹ thuật trồng rừng cây Keo lai của Công ty TNHH
MTV Ván Dăm Thái Nguyên 25
Bảng 2.2 Tình hình khí hậu thuỷ văn của huyện Đồng Hỷ 32
Bảng 3.1 Mẫu biểu phiếu điều tra tình hình sinh trưởng của rừng trồng .40
Bảng 3.2 Mẫu bảng sắp xếp kết quả điều tra 42
Bảng 4.1 Bảng thống kê diện tích trồng rừng nguyên liệu 46
Bảng 4.2 Bảng thống kê nguồn Keo giống sử dụng tại vườn ươm 50
Bảng 4.3 Bảng tổng hợp các phương pháp làm đất trồng rừng 52
Bảng 4.4 Bảng tổng hợp các mô hình bón phân trồng rừng 53
Bảng 4.5 Thống kê tình hình sâu bệnh hại rừng trồng Keo lai 56
Bảng 4.6 Kết quả nghiên cứu đường kính trung bình (D1.3) 57
Bảng 4.7 Kết quả nghiên cứu chiều cao trung bình (Hvn) 58
Bảng 4.8 Bảng hạch toán kinh tế mô hình 1 63
Bảng 4.9 Bảng hạch toán kinh tế mô hình 2 64
Bảng 4.10 Bảng hạch toán kinh tế mô hình 3 66
Bảng 4.11 Bảng hạch toán kinh tế mô hình 4 67
Bảng 4.12 Bảng hạch toán kinh tế mô hình 5 69
Bảng 4.13 Bảng hạch toán kinh tế mô hình 6 70
Bảng 4.14 Bảng tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế của các mô hình 71
Bảng 4.15 Bảng tổng hợp thu nhập và tốc độ sinh trưởng của các mô hình 72
Bảng 4.16 Kết quả điều tra số công lao động trên ha của các mô hình trồng rừng thâm canh 73
Bảng 4.17 Bảng xếp hạng cho điểm về tác động của một số mô hình trồng rừng ứng dụng TBKT đến môi trường 73
Trang 3Bảng 4.18 Kết quả phân tích vai trò của các tổ chức đến việc phát triển
mô hình trồng rừng nguyên liệu ván dăm ở huyện Đồng Hỷ
74Bảng 4.19 Ý kiến đề nghị của người dân 77
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Giản đồ vũ nhiệt Gaussen -Walter huyện Đồng Hỷ 33
Hình 4.1 Đồ thị biểu diễn diện tích trồng rừng nguyên liệu 47
Hình 4.2 Đồ thị biểu diễn đường kính trung bình D1.3 58
Hình 4.3 Đồ thị biểu diễn chiều cao trung bình Hvn 59
Hình 4.4 Sơ đồ VENN về mối quan hệ của các tổ chức xã hội trong phát triển mô hình trồng rừng nguyên liệu tại huyện Đồng Hỷ .75
Hình 4.5 Sơ đồ SWOT phát triển mô hình trồng ứng dụng TBKT 76
Trang 52009 là 39,1% tăng 0,4% so với năm 2008 (Bộ NN&PTNT, 2010) [3] Tuydiện tích rừng và độ che phủ của rừng đã tăng lên đáng kể nhưng năng xuất vàchất lượng rừng vẫn còn thấp Hầu hết diện tích rừng tự nhiên là rừng trungbình và rừng nghèo, không còn khả năng đáp ứng được nhu cầu sản xuất hiệnnay Đặc biệt là rừng trồng, trong những năm vừa qua năng suất đã nâng lênhơn 20m3/ha/năm nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nguyên liệu cho nhu cầu sảnxuất của xã hội.
Theo số lượng thống kê của Bộ NN&PTNT tính đến năm 2010 trữlượng gỗ cả nước là 871 triệu m3, trong đó gỗ rừng tự nhiên là 798 triệu m3 và6,4 tỷ cây tre nứa, rừng trồng là 73 triệu m3, chiếm 8,4% tổng trữ lượng gỗ.(Bộ NN&PTNT, 2010) [2] Tuy nhiên, sản lượng gỗ trên chủ yếu chỉ phục vụcho ngành chế biến giấy và gỗ ván sàn Phần lớn gỗ dùng để chế biến các sảnphẩm đồ mộc đặc biệt là đồ mộc gia dụng và đồ thủ công mỹ nghệ vẫn phảinhập khẩu Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 6 tháng đầu năm 2011của cả nước đạt 1,9 tỷ USD, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm 2010 nhưng kimngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đã là 605 triệu USD tăng 19,8% so vớicùng kỳ năm 2010 (Thông tấn xã Việt Nam, 2011) [36] Điều này một lần nữakhẳng định sự thiếu hụt nguyên liệu trong nước là đáng kể
Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã đề
ra mục tiêu xuất khẩu sản phẩm gỗ đến năm 2020 đạt 7 tỷ USD Tốc độ tăng
Trang 6trưởng bình quân hàng năm của kim ngạch xuất khẩu gỗ vào khoảng trên30%/năm, phấn đấu đến năm 2020 GDP lâm nghiệp đạt khoảng 2 - 3% GDPquốc gia (Bộ NN và PTNT, 2007) [4] Con số này cho thấy nhu cầu nguyênliệu đầu vào cho các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ tăng mạnh đến năm 2020
Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay, nhu cầu gỗ cho xây dựng vàcác nhu cầu khác trên thị trường nội địa cũng được các chuyên gia dự báo là
sẽ liên tục tăng Đáp ứng được nhu cầu gỗ ngày càng tăng của xã hội đồngthời góp phần cải thiện phần nào khí hậu ngày càng khắc nghiệt như hiện nay,ngành Lâm nghiệp đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp lựa chọncác loài cây mọc nhanh và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh nhằmnâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng
Một trong những loài cây nguyên liệu có khả năng sinh trưởng nhanh
được đề cập đến đó là cây Keo lai (Acacia hybrids) Cây Keo lai là 1 trong 48
loài cây trồng chính để trồng rừng sản xuất đã được Bộ NN và PTNT côngnhận tại Quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/03/2005 Keo lai khôngchỉ là giống có ưu thế sinh trưởng nhanh, biên độ sinh thái rộng, có khả năngthích ứng với nhiều loại đất mà còn có khả năng cải tạo đất, cải thiện môitrường sinh thái Gỗ Keo lai có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khácnhau như ván sàn, ván dăm, trụ mỏ và đặc biệt hơn cả là được sử dụng trongcông nghiệp sản xuất giấy Keo lai có khối lượng gỗ lấy ra lớn gấp 2-3 lầnKeo tai tượng và Keo lá tràm, hàm lượng xenluylo trong gỗ cao, lượng ligninthấp do đó có hiệu suất bột giấy lớn, chất lượng bột giấy tốt
Tại tỉnh Thái Nguyên, công tác trồng rừng trong những năm qua đãđược các cấp, các ngành và người dân quan tâm; diện tích rừng trồng tăng lênđáng kể, đặc biệt là rừng sản xuất Năm 2010 toàn tỉnh có khoảng 167.904 harừng, trong đó rừng tự nhiên là 99.922 ha, rừng trồng 67.982 ha; Tổng trữlượng gỗ trên 3,5 triệu m3 và có khoảng 25 triệu cây tre nứa Hàng năm toàn
Trang 7tỉnh khai thác khoảng 21.000 m3 gỗ và 660 triệu cây tre nứa, lượng lâm sảnnày một phần phục vụ cho nhu cầu sử dụng của người dân trong vùng, phầncòn lại cung cấp nguyên liệu cho Công ty TNHH MTV ván dăm Thái Nguyên
và Nhà máy giấy Bãi Bằng
Trong những năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên đã có chủ trương đẩymạnh công tác trồng rừng sản xuất và loài cây trồng chính được đưa vào trồng
là cây Keo lai và Keo tai tượng, ngoài ra còn các loài cây khác khá phổ biếnnhư: Mỡ, Bạch đàn Tuy phần lớn diện tích trồng rừng chủ yếu là hai loàiKeo trên, nhưng theo đánh giá sơ bộ của Sở NN&PTNT tỉnh Thái Nguyênlượng tăng trưởng bình quân hàng năm chỉ đạt khoảng 15-18m3/ha/năm Vớilượng tăng trưởng như vậy đã không đủ khả năng để đáp ứng nhu cầu về gỗnguyên liệu cho địa phương Vì vậy cần phải nâng cao năng suất và chất lượng
gỗ rừng trồng Để thực hiện được mục tiêu trên cần phải lựa chọn giống tốt,điều kiện lập địa và đặc biệt là ứng dụng tiến bộ kỹ thuật thâm canh phù hợp
Xuất phát từ những yêu cầu trên tôi thực hiện đề tài:“Nghiên cứu hiện
trạng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng rừng nguyên liệu ván dăm bằng cây Keo lai ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được kết quả ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trongtrồng rừng nguyên liệu ván dăm bằng cây Keo lai ở huyện Đồng Hỷ - tỉnhThái Nguyên
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao khả năng áp dụng tiến bộkhoa học kĩ thuật trong trồng rừng nguyên liệu ván dăm trong khu vực và cácvùng có điều kiện sinh thái tương tự
- Tính toán và dự báo được hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồngrừng nguyên liệu ván dăm
Trang 81.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các khu rừng trồng nguyên liệu ván dăm bằng Keo lai trên địa bànhuyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên
- Cán bộ và người dân tham gia nhân giống và trồng rừng nguyên liệucho Công ty TNHH MTV VDTN
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Các vườn ươm cây giống cung cấp giống trên của Công ty TNHHMTV VDTN
- Các khu rừng trồng nguyên liệu ván dăm ở các cấp tuổi điển hình 3,5,7
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
- Thực hiện đề tài giúp tôi củng cố kiến thức đã học vào công tácnghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất lâm nghiệp một cách có kết quả.Mang lại cho tôi một tác phong làm việc khoa học, khả năng lập kế hoạchnghiên cứu hợp lý, tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả và viết báo cáonghiên cứu trôi trảy
- Góp phần xây dựng quy trình áp dụng TBKT vào trồng rừng nguyênliệu ván dăm và làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu việc ứng dụng tiến
bộ kỹ thuật trong trồng rừng nguyên liệu công nghiệp ván dăm tiếp theo
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Ứng dụng kết quả nghiên cứu để hướng dẫn người dân áp dụng vàocông tác trồng rừng đạt hiệu quả cao nhất
Đánh giá thực tế công tác trồng rừng của địa phương đã ứng dụngnhững TBKT để làm tài liệu tham khảo cho công ty và người dân tham giatrồng rừng thâm canh cây Keo lai làm nguyên liệu ván dăm ở huyện Đồng Hỷ
Trang 9Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu
2.1.1 Cơ sở khoa học
2.1.1.1 Đặc điểm sinh thái cây Keo lai
Keo lai có bố mẹ là Keo tai tượng và Keo lá tràm nên chúng có một số
đặc điểm sinh thái có thể giống với đặc điểm sinh thái của hai loài bố mẹ ở nơinguyên sản Kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Quang, (2002) [29] tại các đềmục “Xác định lập địa phục vụ trồng rừng công nghiệp cho một số vùng sinhthái ở Việt Nam” thuộc đề tài khoa học KC.06.05.NN nghiên cứu các giải phápcông nghệ phát triển nguyên liệu gỗ cho xuất khẩu, cho thấy Keo lai:
- Phân bố ở 10 vĩ độ Nam đến 180 vĩ độ Nam
- Độ cao so với mặt nước biển từ 0-600m
- Lượng mưa trung bình năm >800mm
- Chế độ mưa: Mưa mùa hè, mùa khô kéo dài 0 - 7 tháng
- Nhiệt độ trung bình năm >200C
- Nhiệt độ tháng nóng nhất 370C
- Nhiệt độ tháng lạnh nhất 60C
- Nhiệt độ tối thấp từ 0-60C
+ Đất đai: Loài Keo lai không kén chọn loại đất, chúng có thể sinh
trưởng trên nhiều loại đất khác nhau như: Đất acid, đất granit, feralit, đất xám,đất đỏ, đất bồi tụ, đất nhiệt đới, đất thoát nước tốt, đất chua, đất nông, sét pha,thịt nặng
- Cấu tượng: Trung bình, nặng
- Độ thoát nước tự do, úng theo mùa
- Phản ứng đất: đất chua
Trang 10- Đặc biệt chịu được trên đất bạc mầu, có thể chịu được úng và có khảnăng cố định đạm.
So với đặc điểm khí hậu và đất đai ở vùng Đông Bắc Bộ nói chung vàkhu vực tỉnh Thái Nguyên nói riêng thì cây Keo lai hoàn toàn phù hợp, có khảnăng sinh trưởng, phát triển tốt và đặc biệt khi áp dụng các biện pháp kỹ thuậtthâm canh rừng trồng sẽ tăng năng suất cao
2.1.1.2 Trồng rừng thâm canh
- Khái niệm về trồng rừng thâm canh
Khái niệm về trồng rừng thâm canh có nhiều nguồn thông tin, các tácgiả đã đề cập đến như:
Theo Phạm Quang Minh (1987) [26] đưa ra: “Trồng rừng thâm canh
là tăng cường đầu tư các biện pháp kỹ thuật tổng hợp tác động vào rừng từkhâu tạo cây con, làm đất, chăm sóc bảo vệ đến khâu khai thác rừng nhằmnâng cao số lượng và chất lượng lâm sản, đồng thời củng cố tiềm năng tựnhiên để nâng cao sức sản xuất của rừng” Hay: “Trồng rừng thâm canh làbiện pháp đầu tư theo chiều sâu nhằm làm cho rừng trồng sinh trưởngnhanh, sớm đạt được mục tiêu đề ra và đạt kết quả cao hơn trước Đầu tưtheo chiều sâu ở đây không chỉ giới hạn việc đầu tư tiền vốn, vật tư, laođộng mà còn làm sao phát huy hết tiềm năng điều kiện sẵn có của tự nhiên
và xã hội để mang lại kết quả cao”
* Nhận xét: Khái niệm trên cho thấy trồng rừng thâm canh đi sâu vàođầu tư chưa thấy quan tâm đến môi trường
Theo Nguyễn Xuân Quát (1995) [30] khái niệm về trồng rừng thâmcanh là: “Trồng rừng thâm canh là một phương pháp canh tác dựa trên cơ sởđược đầu tư cao, bằng việc áp dụng các biện pháp kĩ thuật tổng hợp và liênhoàn Các biện pháp đó phải tận dụng cải tạo và phát huy được tiềm năng của
tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinh trưởng của
Trang 11rừng trồng để thu được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt với giá thành
hạ để cho kết quả lớn Đồng thời cũng phải duy trì và bồi dưỡng được tiềmnăng đất đai và môi trường đảm bảo an toàn sinh thái đáp ứng yêu cầu pháttriển trồng rừng ổn định lâu dài và bền vững”
* Nhận xét: Khái niệm trên được xem như đầy đủ nhất về kết quả kĩthuật, kết quả kinh tế và kết quả môi trường Nó không chỉ giải quyết nhu cầutrước mắt mà còn bền vững về sau này
- Thực chất của trồng rừng thâm canh
Theo Nguyễn Xuân Quát (1995) [30] cho thấy: Thực chất của trồngrừng thâm canh là mức độ đầu tư về tiền của và trí tuệ phải cao hơn trồngrừng quảng canh và bán thâm canh
Đầu tư ở đây, trước hết là đầu tư về tiền vốn cho trồng rừng, mọi khâu củaquá trình trồng rừng thâm canh cần phải có tiền vốn đầy đủ và hợp lý, tức là mứcvốn suất trồng rừng phải được tính toán đầy đủ từ khâu giống, trồng rừng, chămsóc, quản lý bảo vệ đến khi thiết kế khai thác từng diện tích rừng đó
Đặc biệt, mấu chốt thành công của trồng rừng thâm canh có kết quả caolại là đầu tư cao về kỹ thuật, nhất là đối với giai đoạn đầu tư từ chọn điều kiệnlập địa, chọn cây, chọn giống, chăm sóc nuôi dưỡng và khai thác sử dụng rừngtrồng Tốn nhiều tiền và công sức để làm gì nếu không thu được kết quả kinh tếcao (lợi nhuận ròng trên một đơn vị diện tích cao) với giá thành sản phẩm làthấp nhất, kể cả khi có được năng suất và chất lượng sản phẩm cao hơn
Vì vậy, mọi tính toán trong quá trình trồng rừng thâm canh phải đượckết hợp chặt chẽ giữa kết quả kỹ thuật với kết quả kinh tế Mặt khác nếu cácyêu cầu sinh lợi đều được thoả mãn, nhưng đất đai, môi trường lại bị suy thoáithì không thể trồng lại được rừng nữa, hoặc năng suất, chất lượng rừng giảmdần thì việc đầu tư thâm canh như vậy không thể gọi là thành công bởi vì nhưthế mới giải quyết được nhu cầu trước mắt
Trang 122.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.1.2.1 Những nghiên cứu về cây Keo lai (Acacia hybrids)
Keo lai là tên viết tắt của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia
mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculifomis) Giống Keo lai tự nhiên này
được phát hiện đầu tiên bởi Messir Herbern và Shim vào năm 1972 trong sốcác cây Keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah,Malaysia Năm 1976, M.Tham đã kết luận thông qua việc thụ phấn chéo giữaKeo Tai tượng và Keo lá tràm tạo ra cây Keo lai có sức sinh trưởng nhanhhơn giống bố mẹ Đến tháng 7 năm 1978, kết luận trên cũng đã được Pedleyxác nhận sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ởQueensland - Autralia (Lê Đình Khả 1986, Gun và cộng sự 1987, Griffin,1988), ở một số nơi khác tại Sabad (Rufelds, 1987) và Ulu Kukut (Darus vàRasip, 1989) của Malaysia, ở Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của Thái Lan(Kijkar, 1992) Giống lai tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số đặc tínhvượt trội so với bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục vớiđọan thân dưới cành lớn (Lê Đình Khả và cs 1997) [20]
Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trìnhnghiên cứu của Rufelds (1988) [46], Gan.E và Sim Boon Liang (1991) [43]các tác giả đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo taitượng nhưng muộn hơn Keo lá tràm Ở cây con lá giả đầu tiên của Keo látràm thường xuất hiện ở lá thứ 4-5, Keo tai tượng thường xuất hiện ở lá thứ 8-
9 còn Keo lai thì thường xuất hiện ở lá thứ 5-6 Bên cạnh đó là sự xuất hiện
về tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở các bộ phận sinhsản (Bowen, 1981) [39]
Theo nghiên cứu của Rufeld (1987) [47] thì không tìm thấy một sự saikhác nào đáng kể của Keo lai so với các loài bố mẹ Các tính trạng của chúngđều thể hiện tính trung gian giữa hai loài bố mẹ mà không có ưu thế lai thật
Trang 13sự Tác giả đã chỉ ra rằng Keo lai hơn Keo tai tượng về độ tròn đều của thân,
có đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành tự nhiên khá hơn Keo taitượng, song độ thẳng thân, hình dáng tán lá và chiều cao dưới cành lại kémKeo tai tượng Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Pinso Cyril và RobertNasi (1991) thì trong nhiều trường hợp cây keo lai có xuất xứ ở Sabah vẫn giữđược hình dáng đẹp của Keo tai tượng Và ưu thế lai thì có thể có nhưngkhông bắt buộc vì có thể bị ảnh hưởng của cả 2 yếu tố di truyền lẫn điều kiệnlập địa Nghiên cứu cũng cho thấy rằng sinh trưởng của cây Keo lai tự nhiênđời F1 là tốt hơn, còn từ đời F2 trở đi cây sinh trưởng không đều và trị sốtrung bình còn kém hơn cả Keo tai tượng Khi đánh giá về các chỉ tiêu chấtlượng của cây Keo lai, Pinso và Nasi (1991) thấy rằng độ thẳng của thân,đoạn thân dưới cành, độ tròn đều của thân, đều tốt hơn giống bố mẹ và chorằng Keo lai phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại
2.1.2.2 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng
Để trồng rừng đạt hiệu quả hơn, các nước trên thế giới và vùng nhiệtđới người ta cần tiến hành phân chia nơi trồng rừng Mục đích của việc phânchia nơi trồng rừng là nhằm sử dụng một cách hợp lý Trên cơ sở việc phânchia nơi trồng rừng để chọn loài cây trồng và các biện pháp kỹ thuật lâm sinhchuẩn xác, nhằm tăng khả năng sinh trưởng và phát triển của rừng trồng, hạgiá thành sản phẩm gỗ rừng trồng, đồng thời làm cho môi trường sinh tháingày một tốt hơn
Người ta phân chia nơi trồng rừng dựa vào 2 nhóm nhân tố chính: Điềukiện lập địa và trạng thái hoàn cảnh của nơi trồng rừng Ví dụ: Theo Yang Jigao,
1995 nghiên cứu và phân chia ở Nam Quảng Tây - Trung Quốc đã phân chiađiều kiện lập địa thành 17 loại và các loài cây thích hợp với những điều kiệnlập địa ấy
Trang 14Theo Vater (1925) thì: “Lập địa nên hiểu là tất cả các yếu tố ngoại cảnhthường xuyên tác động tới sự sinh tồn và phát triển của thực vật” cũng cónghĩa là lập địa bao gồm tất cả các yếu tố như: Khí hậu, địa hình, đất, sinh vậttạo thành một quần lạc sinh địa Tất cả các yếu tố trong quần lạc sinh địa cóảnh hưởng qua lại, tác động lẫn nhau và phụ thuộc vào nhau, trong đó conngười có vai trò đặc biệt quan trọng Có thể hiểu lập địa như là nơi mà câysinh sống và phát triển hay là phạm vi không gian chứa đựng tất cả các yếu tốngoại cảnh tác động đến đời sống thực vật.
Tập hợp các kết quả nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, tổ chứcnông lương thế giới FAO (1984) [41] đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng củarừng trồng, đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rấtnhiều vào 4 nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: Khí hậu, địahình, loại đất và hiện trạng thực bì
Khi nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Bạch đàn ở Brazil, GolcalvesJ.L.M và cs, (2004) cho rằng năng suất rừng trồng là sự “kết hợp” thích hợpgiữa kiểu gen với điều kiện lập địa và kỹ thuật canh tác Ngoài ra, tác giả cònchỉ cho thấy giới hạn của sản lượng rừng có liên quan tới các yếu tố môi trườngtheo thứ tự mức độ quan trọng như sau: Nước > dinh dưỡng > độ sâu tầng đất
Qua một số công trình nghiên cứu trên cho thấy việc xác định điều kiệnlập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết, đó là một trong yếu tốquan trọng quyết định năng suất và chất lượng rừng trồng
2.1.2.3 Nghiên cứu cải thiện giống
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất trong trồng rừng thâmcanh, không có giống tốt thì không thể đưa năng suất rừng lên cao
Ở Công-gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn
lai (Eucalyplus hybrids) có năng suất đạt tới 35 m3/ha/năm ở giai đoạn tuổi 7
Bằng con đường chọn lọc nhân tạo, Brazil đã chọn được giống
Trang 15đã chọn được giống Pinus patula sau 15 năm tuổi đạt 19 m3/ha/năm, giống
Paraserianthes jaicataria trồng ở Malaysia được 7 -10 năm cũng đạt 30
m3/ha/năm (Pandrey, 1983) [45] Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống
m3/ha/năm, có nơi lên tới 70 m3/ha/năm (Campinhos và Ikemori, 1988)
2.1.2.4 Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng
Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹthuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng đặc biệt là ở những nơiđất đai khô cằn, ít chất dinh dưỡng Tuy nhiên, chúng ta cần lựa chọn loạiphân và cách bón nào cho kết quả, liều lượng bón là bao nhiêu và nên bón vàolúc nào cho phù hợp nhu cầu sinh lý của cây, cung cấp đủ dinh dưỡng cho câysinh trưởng, bón ít mà thu lợi nhiều không gây lãng phí hoặc làm ô nhiễm haysuy thoái môi trường Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học trên thế giớiquan tâm, điển hình như công trình nghiên cứu của Mello (1976) ở Brazil cho
thấy bạch đàn Eucaliptus sinh trưởng khá tốt ở công thức không bón phân
nhưng bón NPK thì năng suất có thể lên trên 50%
Bolstand và cs (1988) [38] cũng đã tìm thấy một vài loại phân có phảnứng tích cực mang lại kết quả như ở Potasium, phosphate, boron và magnesium
Khi nghiên cứu bón phân cho rừng trồng Thông P.caribeae ở Cuba.
Herrero và cs (1988) [44] cũng cho thấy phân bón phosphate đã nângsản lượng rừng từ 56 lên 69 m3/ha sau 13 năm trồng
Nhận xét: Từ các kết quả nghiên cứu trên đã khẳng định bón phân chorừng trồng mang lại những hiệu quả rõ rệt như: Nâng cao tỷ lệ sống, tăng sức
đề kháng của cây trồng, nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm rừng trồng
2.1.2.5 Ảnh hưởng mật độ đến năng suất rừng trồng
Theo Thoommson 1994, các loài Keo và Bạch đàn nên trồng với mật
độ 1111 cây/ha không ảnh hưởng xấu tới sản lượng và chất lượng gỗ
Trang 16Tác giả Evans.J.(1992), đã bố trí 4 công thức mật độ khác nhau (2985,
1680, 1075 và 750 cây/ha) cho Bạch đàn E.deglupta ở Papua New Guinea, số
liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các côngthức thí nghiệm tăng theo chiều giảm mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang lạităng theo chiều tăng của mật độ, có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuylượng tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng củarừng vẫn nhỏ hơn công thức trồng ở mật độ cao
Nhận xét: Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ trồng ảnhhưởng khá rõ đến chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh Vì vậy cần phảicăn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho phù hợp
2.1.2.6 Ảnh hưởng của biện pháp tưới nước đến sinh trưởng của rừng trồng
Theo Evans.J (1992) cho thấy: Ngoài những biện pháp trên, biện pháptưới nước cho cây mới trồng, nhất là ở những vùng khô hạn tuy còn rất ít côngtrình nghiên cứu nhưng đã có một vài công trình đề cập đến Như ở Brazil khi
trồng rừng Bạch đàn E.gadis trên những vùng đất khô hạn người ta đã phải tưới
cho cây con mới trồng 3-4 lít nước/cây, sau đó 3 ngày và 9 ngày phải tưới nướclại nếu chưa có mưa
Nguyễn Huy Sơn (2006) [32] Ở Trung Quốc áp dụng biện pháp tưới
nước thấm nhỏ giọt cho rừng trồng cây Dương Lai (Populuseuramericana)
trên vùng đất khô hạn, kết quả thu được sau 6 năm tuổi cho thấy đường kínhngang ngực tăng trưởng gấp gần 3 lần so với đối chứng
2.1.2.7 Về vấn đề sâu bệnh hại
Đối với rừng trồng công nghiệp vấn đề sâu bệnh hại đang rất được quantâm Với kĩ thuật tiên tiến hiện đại, nhiều công trình đã nghiên cứu rất sâu ởmức độ phân tử như chuyển và biến đổi gen để phòng chống sâu bệnh hại Như
công trình nghiên cứu sâu rầy hại cây Keo dậu (L.leucocephla) ở khu vực Châu
Á Thái Bình Dương của Napompeth.B (1989)
Trang 17Tóm lại: Qua các công trình nghiên cứu ở các nước trên thế giới đã giải
quyết khá đầy đủ các vấn đề liên quan, nhưng hầu hết các công trình đượcnghiên cứu trong những hoàn cảnh sinh thái và các điều kiện về kinh tế kỹthuật hết sức khác nhau nên không thể ứng dụng một cách máy móc vào điềukiện cụ thể nước ta
2.1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Cây Keo lá tràm và cây Keo tai tượng được nhập vào nước ta từ nhữngnăm 1960 nhưng mãi đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước, giống Keo laimới được phát hiện và tập trung nghiên cứu từ các khâu chọn tạo giống chođến trồng rừng, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu điển hình sau:
2.1.3.1 Đặc điểm cây Keo lai (Acacia hybrids)
Ở Việt Nam, cây Keo lai tự nhiên được Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn
và các cộng sự thuộc Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (RCFTI) pháthiện đầu tiên tại Ba Vì (Hà Tây cũ) và vùng đông Nam Bộ vào năm 1992
Tiếp theo đó, từ năm 1993 cho đến nay Lê Đình Khả và các cộng sự đãtiến hành nghiên cứu về cải thiện giống Keo lai, đồng thời đưa vào khảonghiệm một số giống Keo lai có năng suất cao tại Ba Vì (Hà Tây cũ) được kýhiệu là BV; Trung tâm nguyên liệu giấy Phù Ninh - Phú Thọ cũng chọn lọcđược một số dòng được ký hiệu là BL
Lê Đình Khả và các cộng sự [18,19,20,21] khi nghiên cứu về các đặctrưng hình thái và ưu thế lai của cây Keo lai đã kết luận: Keo có tỷ trọng gỗ
và nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa hai loài Keo bố mẹ Keo lai có ưuthế lai về sinh trưởng so với Keo tai tượng và Keo lá tràm Điều tra sinhtrưởng tại rừng trồng khảo nghiệm 4,5 năm tuổi ở Ba Vì (Hà Tây cũ) cho thấyKeo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo tai tượng từ 1,2 đến 1,6 lần về chiều cao
và từ 1,3 đến 1,8 lần về đường kính, gấp 2 lần về thể tích Tại Sông Mây(Đồng Nai) ở rừng trồng sau 3 năm tuổi Keo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo lá
Trang 18tràm 1,3 lần về chiều cao và 1,5 lần về đường kính Một số dòng vừa có sinhtrưởng nhanh vừa có chỉ tiêu chất lượng tốt đã được công nhận là giống QuốcGia và giống tiến bộ kỹ thuật là các dòng BV5, BV10, BV16, BV32, BV33.Khi nghiên cứu sự thoái hoá và phân ly của cây Keo lai, Lê Đình Khả (1997)[21] đã khẳng định: Không nên dùng hạt cây Keo lai để gây trồng rừng mới.Keo lai đời F1 có hình thái trung gian giữa hai loài bố mẹ và tương đối đồngnhất, đến đời F2 Keo lai có biểu hiện thoái hoá và phân ly rõ rệt, cây Keo laiF2 sinh trưởng kém hơn cây Keo lai F1 và có biến động lớn về sinh trưởng.
Do đó, để có thể phát triển giống Keo lai vào sản xuất thì phải dùng phươngpháp nhân giống bằng hom hoặc nuôi cấy mô từ những cây Keo lai tốt nhất đãđược công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật
2.1.3.2 Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến sinh trưởng rừng trồng
Xác định điều kiện lập địa thích hợp cho các loài cây trồng ở nước ta đã
có nhiều công trình nghiên cứu như: Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế (1994)[33], tác giả căn cứ vào 3 nội dung: Đơn vị sử dụng đất, tiềm năng sử dụngđất và độ thích hợp của cây trồng đã chỉ ra vùng Đông Nam Bộ có tiềm năngsản xuất kinh doanh lâm nghiệp khá lớn, đặc biệt để phát triển các loài cây
cung cấp gỗ nguyên liệu công nghiệp như một số loài Bạch đàn (Eucalyptus), Keo (Acacia), Tếch (Tectona Grandis)
Phạm Thế Dũng và cs (2004) [10] chỉ ra rằng mặc dù áp dụng biệnpháp kỹ thuật thâm canh như nhau, nhưng trên đất nâu đỏ Keo lai sinh trưởngtốt hơn trên đất xám phù sa cổ Nguyễn Huy Sơn và cs (2004) có nhận xét vềnăng suất rừng trồng Bạch đàn U6 trên ba loại đất khác nhau ở khu vực TâyNguyên là trên đất xám Granit ở An Khê, K’Bang rừng trồng Bạch đàn U6 từ
4 đến 5 năm tuổi đạt 20 - 24 m3/ha/năm, nhưng trên đất nâu đỏ phát triển trên
đá Macma acid ở Mang Yang 6 năm tuổi đạt 12 m3/ha/năm, trên đất đỏ Bazanthoái hóa ở Pleicu 4 năm tuổi cũng chỉ đạt 11 m3/ha/năm
Trang 19Nhận xét: Xác định điều kiện lập địa thích hợp cho mỗi loài cây trồng
là một khâu quan trọng để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng
2.1.3.3 Tiến bộ kỹ thuật trong công tác giống
Việt Nam đã có nhiều công trình và tác giả nghiên cứu để đưa tiến bộ
kỹ thuật vào áp dụng trong trồng rừng Có tác giả dựa trên nền những cây đã
và đang được trồng rừng sản xuất ở Việt Nam, sau đó cải thiện giống (lai tạo,cải tiến cách thức nhân giống ) để có được những giống cây rừng và phươngthức nhân giống tiến bộ làm cho cây trồng rừng phù hợp hơn với điều kiện tựnhiên, có năng suất cao, chất lượng gỗ cao hơn
Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng (2003) [17] cũng khẳng định rằng:
Trước đây, khi vụ đặt ra cho trồng rừng là “phủ xanh đất trống đồi núi trọc”chúng ta đã không quan tâm đầy đủ đến công tác giống Kết quả là chi phícho trồng rừng rất tốn kém, nhưng năng suất rừng trồng vẫn rất thấp và thậmchí nhiệm vụ phủ xanh cũng không thực hiện được Điều đó một mặt do lấygiống xô bồ, không chọn loài cây và xuất xứ thích hợp, không chọn giống cónăng suất cao và có tính chống chịu sâu bệnh cũng như thích hợp với điềukiện sinh thái ở từng vùng để gây trồng, mặt khác do thiếu áp dụng các biệnpháp kỹ thuật thâm canh đồng bộ
Bộ NN&PTNT (2001) [5] thành tựu lớn nhất và được áp dụng rộng rãitrong trồng rừng sản xuất trước hết phải nói đến công tác chọn và cải thiệngiống cây trồng lâm nghiệp Đây là một lĩnh vực mũi nhọn được ưu tiên rấtcao cho nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trong nhiều năm qua, mang lạinhững bước nhảy vọt góp phần nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng,đặc biệt đối với các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu giấy như Keolai, Bạch đàn Các thành tựu và tiến bộ trong lĩnh vực giống cây lâm nghiệp
đã được đúc kết thành hệ thống quy trình, quy phạm và tiêu chuẩn áp dụng cóhiệu quả trong sản xuất
Trang 20Lê Đình Khả (2006) [16] cho rằng: Giống là một khâu quan trọng nhấtcủa trồng rừng thâm canh Không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh
tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao Các tác giả đã dẫn chứng bằngviệc trồng rừng ở nước ta năng suất rừng trồng chỉ đạt 5 - 10 m3/ha/năm,trong khi đó các nước có nền lâm nghiệp tiên tiến đã tạo được năng suất rừngtrồng 40 - 50 m3/ha/năm (như giống Dương lai I - 214 ở Italia và Bạch đàn ởCông-gô), hoặc thâm chí hơn 100 m3/ha/năm (trên một số diện tích thí nghiệm
cho Bạch đàn lai E.Grandis với E.Urophylla ở Brasin (Kageyama, 1984).
Mới đây, việc phát hiện, chọn lọc, nhân giống và khảo nghiệm giống thành
công cho giống lai tự nhiên giữa Keo Tai tượng (Acacia mangium) với Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) đã mở ra một triển vọng lớn cho trồng rừng
nguyên liệu ở nước ta
Qua nghiên cứu các ông Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải, Hồ Quang Vinh(1997) [20] đã có số liệu chứng minh được khả năng kỳ diệu của chúng như:Sau 4 năm tuổi giống Keo lai có thể tích thân cây là 70 - 80 dm3/cây trong khinhững xuất xứ tốt nhất của Keo tai tượng cũng chỉ có thể tích đạt 30 - 40 dm3/cây, còn những xuất xứ tốt của Keo lá tràm chỉ đạt 17 - 27 dm3/cây Và cáctác giả kết luận: Cải thiện giống cây rừng nhằm không ngừng nâng cao năngsuất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác là một yêu cầu cấpbách đối với sản xuất lâm nghiệp ở nước ta
Bình luận: Cải thiện giống cây rừng phải xuất phát từ mục tiêu kinh tếđặt ra cho mỗi loài mà nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thờiphải phù hợp với điều kiện sinh thái của mỗi vùng, chống chịu được sâu bệnhhại, mọc nhanh và đảm bảo được mục tiêu trồng rừng sản xuất nhưng đáp ứngđược tính bền vững trong sử dụng đất lâm nghiệp Giải quyết tốt mối quan hệmôi trường và xã hội, phát triển và ứng dụng được những tiến bộ vào sảnxuất, đặc biệt là ứng dụng công nghệ sinh học
Trang 212.1.3.4 Tiến bộ kỹ thuật về lĩnh vực chọn loài cây trồng
Để có giống tốt, phù hợp với mục đích kinh tế trong trồng rừng sảnxuất và thích nghi với điều kiện đất đai, khí hậu của mỗi vùng thì chúng taphải chọn loài cây trồng rừng, đây là bước đầu tiên quan trọng trong chươngtrình trồng rừng
Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng (2003) [17] cho rằng: Loài lànhóm các sinh vật có các đặc trưng hình thái và đặc điểm di truyền giốngnhau, có thể lai giống với nhau để cho đời sau hữu thụ Mỗi loài thường cókhu phân bố địa lý sinh thái nhất định
Ví dụ: Bạch đàn Eucalyptus regnans có thể cao hơn 90 mét với thân câythẳng hình trụ, còn Bạch đàn E pyriformis lại là một cây có nhiều thân, ít khicao quá 6 mét loại gỗ và các tính chất khác cũng có sự khác biệt rất lớn giữacác loài Gỗ các loài như Tếch, Lát hoa, Cẩm lai rất có giá trị để đóng đồ giadụng, còn gỗ của các Bạch đàn, Thông, Keo thích hợp cho việc làm bột giấy,ván dăm, gỗ chống hầm lò
Lê Đình Khả, Hà Huy Thịnh (2005) [16] cho đến nay đã có 67 giốngcây rừng lâm nghiệp được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốcgia, trong đó có các dòng Keo lai cao sản như: BV10, BV16, BV32, TB3,TB5, TB6, TB12, KL2; Các dòng Bạch đàn cao sản như: U6, PN2, PN10,PN14, PN46, PN47 và các dòng Phi lao có năng suất cao là 601 và 701 đãđược gây trồng rộng rãi ở nhiều nơi trong cả nước
Tổng hợp nghiên cứu của Võ Đại Hải và cộng sự (2005) [13] đã thống
kê được một số nghiên cứu sử dụng ưu thế lai cũng đã đạt được những thànhtựu đáng kể, cụ thể là:
- Đối với Bạch đàn: Các tổ hợp UC, UT, UM, SM, GM cho sinh trưởngbình quân tăng từ 20 - 30%, đặc biệt có tổ hợp trồng nơi lập địa tốt cho sinhtrưởng tăng 70 - 80 % so với giống sản xuất hiện hành sau 5 năm khảo nghiệm
Trang 22- Đối với Keo: Các tổ hợp AM1, AM2, MA1, MA2 cho sinh trưởngtăng bình quân 30% so với giống sản xuất hiện hành.
- Đối với Tràm: Tổ hợp LC sinh trưởng bình quân tăng 25 - 30% so vớigiống sản xuất hiện hành
Đặc biệt trong năm 2005 cũng đã công nhận được 2 dòng Bạch đàn vừasinh trưởng nhanh vừa kháng nấm bệnh tốt là SM16 và SM23
Các tác giả còn khẳng định: Các thành tựu trong lĩnh vực khảo nghiệm
và cải thiện giống đã áp dụng và tạo ra nhiều diện tích rừng trồng sản xuất cónăng suất và hiệu quả kinh tế cao
Bộ NN&PTNT (2005) ban hành: Danh mục các loài cây chủ yếu cho
trồng rừng sản xuất theo 9 vùng sinh thái lâm nghiệp (Ban hành kèm theo
Quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15 tháng 3 năm 2005) Ví dụ như:
Vùng Đông Bắc (ĐB) gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên,Quảng Ninh, Bắc Giang Gồm có 15 loài cây khác nhau
Bình luận: Chúng tôi cùng nhất trí và thay cho lời kết về công tácchọn loài cây rừng trong trồng rừng sản xuất với kết luận của Trần Văn Con
và cộng sự (2006) [7] cho biết: Bộ NN&PTNT đã ban hành danh sánh cácloài cây chủ lực trồng rừng sản xuất ở chín vùng sinh thái lâm nghiệp (nhưtrình bày ở trên cho vùng Đông Bắc) Tuy nhiên việc áp dụng danh sách nàytrên thực tế vẫn gây nhiều lúng túng cho các chủ rừng, chủ dự án Hạn chếnày là do:
(i) Các cơ sở khoa học kỹ thuật để đề xuất danh sách loài cây trồngđược nghiên cứu ở cấp vĩ mô; mối quan hệ của cây và lập địa ở quy mô vi môchưa được nghiên cứu kỹ;
(ii) Thiếu cơ sở kinh tế - xã hội nên chưa được sự quan tâm sử dụngcủa người dân;
Trang 23(iii) Nhiều loài cây trong danh sách đề nghị chưa có quy trình hoặchướng dẫn ký thuật gây trồng;
(iv) Rất ít thông tin về các loài cây bản địa Hoặc: Cây trồng rừng chủyếu hiện nay đều là cây nhập nội mọc nhanh như: Keo và Bạch đàn, rất ít câybản địa được sử dụng cho trồng rừng kinh tế Mặc dù đã có nhiều tiến bộtrong lĩnh vực cải thiện giống, nhìn chung giống sử dụng trong trồng rừng vẫnrất xô bồ, kém chất lượng dẫn đến năng suất và chất lượng rừng còn thấp.Chúng ta vẫn còn thiếu các vườn giống có chất lượng cao để cung cấp chonhu cầu trồng rừng
2.1.3.5 Tiến bộ kỹ thuật về lĩnh vực nhân giống và tạo cây con
Giống là tư liệu sản xuất đặc biệt của công tác trồng rừng, bởi vìgiống là một tư liệu sinh vật, một thực thể sống Giống cũng là một khâuquan trọng nhất của sản xuất nông lâm nghiệp Nhờ có giống được cải thiện
và áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh khác mà năng suất các loài câytrồng tăng nhanh
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004) [27] cho rằng: Trồng rừng, phục hồi rừnghiện đang là một nhu cầu cấp bách và là một nhiệm vụ lớn lao của ngành Lâmnghiệp nước ta Theo Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tới năm 2010, hàngtriệu ha rừng trồng sẽ được thiết lập với tốc độ hàng trăm nghìn ha mỗi nămcho các mục tiêu kinh tế khác nhau như cung cấp gỗ nguyên liệu cho côngnghiệp giấy, ván nhân tạo, gỗ xẻ xây dựng, gỗ trụ mỏ và cả đồ mộc
Trần Văn Con (2005) [8] khẳng định: Bên cạnh những thành tựu tronglĩnh vực chọn và cải thiện chất lượng giống, kỹ thuật tạo cây con cũng đạtđược những thành tựu vượt bậc Các kỹ thuật cây con có bầu trong vườnvươm cho các loài cây trồng rừng chủ yếu như: Thông, Mỡ, Bồ đề, các câybản địa lá rộng khác đã phát triển và xây dựng quy trình quy phạm áp dụng
Trang 24trong sản xuất Đặc biệt công nghệ sản xuất cây con bằng kỹ thuật cao nhưgiâm hom, nuôi cấy mô cũng được phát triển nhanh chóng, nhất là đối với cácloài cây mọc nhanh như Keo lai, Bạch đàn urophylla, pelissta, Bạch đàn lai không kể các vườn ươm công nghệ cao quy mô nhỏ, đã có khoảng 10 vườnươm nhân giống bằng công nghệ cao (hom, mô) có công suất hàng triệu câygiống/năm rải rác trên các vùng Bắc Trung Nam để trồng rừng sản xuất tậptrung đối với một số loài cây chủ lực.
Lê Đình Khả và Dương Mộng Hùng (2003) [17] khẳng định: Tất cảthực vật bậc cao đều có hai phương thức sinh sản chủ yếu là sinh sản hữutính (bằng hạt) và sinh sản sinh dưỡng (bằng giâm hom, chiết, ghép, nuôicấy mô phân sinh)
Giâm hom có hệ số nhân giống cao, song lại khó vượt được giới hạn củatuổi non, vì vậy để nhân giống hàng loạt thường phải làm trẻ hoá cho cây mẹbằng cách chặt ngang thân cho ra các chồi mới Đây là phương thức đang đượcdùng rộng rãi để nhân giống cho các cây lai của Bạch đàn (Eucaluptus), Keo(Acacia), Dương (Populus) và một số cây rừng khác Cần thấy rằng nhân giốngbằng hom chỉ phát huy tác dụng tốt khi làm một công cụ cho chọn giống đểnhân các giống được chọn lọc hoặc các giống quý hiếm mà không thể sinh sảnbằng hạt Bên cạnh đó người ta còn áp dụng phương pháp chiết, ghép và đặcbiệt tiên tiến là nuôi cấy mô
Như vậy, theo các tác giả thì mỗi một phương pháp đều có những ưuđiểm nhưng đồng thời cùng có những nhược điểm mà người thực hiện cần lưu
ý để khi nhân giống khắc phục được phần nào nhược điểm của nó Cần phảichọn loài, khảo nghiệm giống và chọn lọc cây mẹ một cách cẩn thận
Bình luận: Từ những nghiên cứu trên chúng tôi thấy, hiện nay công tácnhân giống và tạo cây con có nhiều tiến bộ đã giúp cho công tác trồng rừng
Trang 25ngày càng đẩy mạnh, đặc biệt một số giống cây rừng được lai như Bạch đàn,Keo đang là những loài cây chủ yếu trong trồng rừng sản xuất và được trồnghầu khắp trên toàn quốc vì chúng có chu kỳ ngắn (khoảng 6 - 7 năm), đáp ứngđược các mục tiêu chọn loài cây trồng rừng sản xuất, lại có năng suất cao nếuchúng ta thực sự trồng rừng thâm canh
Công tác giống cây rừng hiện nay ở Việt Nam đang ngày càng đẩymạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong công tác giống như chọn giống, laigiống, vừa nhân giống vừa khảo nghiệm giống và cung cấp giống Bên cạnh
đó nghiên cứu và tận dụng những thành quả đã có trong nước về chọn giống
và nhập thêm một số giống có năng suất cao của các nước có điều kiện sinhthái tương tự để khảo nghiệm và làm đa dạng, phong phú thêm nguồn giốngcây rừng phục vụ cho việc đẩy nhanh trong tác trồng rừng
Ngoài ra cần tận dụng tối đa giống từ các rừng giống đã được BộNN&PTNT công nhận để nhân giống, đóng góp vào công tác chọn tạogiống cho trồng rừng nhằm mục tiêu phủ xanh đất trống đồi trọc, tăng năngsuất, chất lượng và sản lượng rừng đáp ứng nhu cầu về gỗ ngày càng tănglên trong nước và xuất khẩu
2.1.3.6 Tiến bộ kỹ thuật về trồng rừng
Những tiến bộ khoa học công nghệ lâm sinh phục vụ cho công táctrồng rừng và phát triển ngành Lâm nghiệp đã được các viện khoa học, cáctrường, trung tâm và các địa phương, cơ sở sản xuất tổng kết xây dựng và banhành gần 100 tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm và hướng dẫn kỹ thuật lâmsinh Đáng chú ý nhất là quy phạm về giải pháp lâm sinh áp dụng cho rừngsản xuất, quy phạm về thiết kế trồng rừng, xây dựng vườn giống, rừng giống
và chuyển hoá rừng giống, ngoài ra còn có hơn 50 quy trình, quy phạm,hướng dẫn kỹ thuật tạo cây con trồng rừng, tái sinh chồi cho 40 loài cây, quy
Trang 26trình tỉa thưa, phòng chống sâu bệnh hại cho một số loài cây và quy phạmphòng chống cháy rừng
Trần Văn Con (2005) [8] tổng kết về các thành tựu trong kỹ thuật trồngrừng như sau: Các nghiên cứu về chọn loài cây trồng và lập địa thích hợptrong trồng rừng đã ưu tiên nghiên cứu và đã có những thành tựu nhất định.Tuy nhiên, phần lớn các kết quả nghiên cứu này chưa được chuyển thành quytrình hay hướng dẫn kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất áp dụng Vì vậy rất nhiềuchủ rừng vẫn còn khá lúng túng trong việc chọn lập địa và chọn loài cây trồngthích hợp
Phương thức trồng rừng đã có những tiến bộ từ trồng rừng thuần loài(Thông, Bồ đề, Mỡ, Bạch đàn, Keo ) đến trồng hỗn loài, trồng cây phù trợ
“tạo áo” nâng cao độ ổn định sinh thái của hệ sinh thái rừng trồng Các kỹthuật về thời vụ trồng, mật độ trồng tối ưu, tiêu chuẩn cây con đem trồngcũng đã được ứng dụng Một số loài cây đã có quy trình trồng rừng và quản
lý rừng trồng như: Thông, Bồ đề, Mỡ, Bạch đàn, Keo và được các cơ sởsản xuất áp dụng
Các thành tựu trong trồng rừng thâm canh với suất đầu tư cao để nângcao năng suất và chất lượng sản phẩm rừng trồng đã được áp dụng đối vớitrồng rừng cung cấp nguyên liệu Các biện pháp kỹ thuật mũi nhọn trongtrồng rừng thâm canh là giống, phân bón và kỹ thuật làm đất
Về kỹ thuật bón phân, đã có những thành tựu trong việc xác định lượngphân hữu cơ vi sinh và NPK tổng hợp để bón lót và bón thúc cho các cây trồng.Tuy nhiên, đối với từng loài cụ thể, trên từng lập địa và điều kiện đất đai cụ thể
và từng giai đoạn phát triển thì kỹ thuật bón phân từ việc chọn loại phân, lượngphân, thời điểm bón vẫn chưa được xác định một cách hợp lý, có căn cứ
Trang 27Kỹ thuật làm đất bằng phương pháp cày toàn diện hoặc theo băng đãđược áp dụng trên đất xám, tương đối bằng phẳng ở Đông Nam Bộ Trên đấtphèn ở Tây Nam Bộ, các kỹ thuật làm đất bằng lấp, ụ nổi (do đất ngập mặn,phèn, người trồng rừng đã đắp những ụ đất nổi lên trên, sau đó trồng câyvào) đã được áp dụng Ngoài những tiến bộ đó thì kỹ thuật làm đất chỉ cuốc
hố 30x30x30cm hay 40x40x40 cm được sử dụng phổ biến nhất
Thực sự tổng hợp hết sức ý nghĩa đối với các chủ trồng rừng, cần phảichú ý tới những tiến bộ đã được chuyển giao, phổ biến trong trồng rừng vànhững quy định của Bộ NN&PTNT về các loài cây đã được công bố cả vềcách gieo trồng và phổ biến cho từng vùng sản xuất kinh doanh, đặc biệt trồngrừng sản xuất cung cấp nguyên liệu công nghiệp Tuy nhiên, đây là phần tổnghợp hết sức ngắn gọn, mang tính chất chỉ đạo, phù hợp như một thông báo,một quy định khi áp dụng đối với chủ trồng rừng, nhằm nâng cao hiệu quảtrồng rừng
Võ Đại Hải và các công sự, 2003 [13] đã tổng kết từ kết quả nghiêncứu như: Các kỹ thuật trồng rừng có nhiều thành tựu và tiến bộ trong nghiêncứu và thực tiễn, đặc biệt là các thành tựu trong kỹ thuật trồng rừng thâmcanh cây mọc nhanh với suất đầu tư cao để nâng cao năng suất và chất lượngrừng trồng Nhiều quy trình, quy phạm và hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng sảnxuất đã được ban hành và áp dụng rộng rãi trong sản xuất thời gian qua Tớinay hầu hết các loài cây trồng rừng chủ lực đều đã có văn bản pháp quy banhành
Kỹ thuật trồng rừng cây bản địa cùng đã có những bước tiến mới, đángchú ý các phương thức trồng rừng hỗn giao với các loài cây mọc nhanh hoặcvới cây che bóng, cải tạo đất như Cốt khí trong giai đoạn đầu
Trang 28Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đã đạt được vẫn còn một số tồntại trong việc nuôi dưỡng và bảo vệ rừng lâu dài một cách bền vững, trong đó
kỹ thuật tỉa thưa cây phù hợp như thế nào vẫn đang là một câu hỏi lớn
Về kỹ thuật bón phân, đã có những thành tựu trong việc xác định loạiphân, liều lượng phân, thời gian và phương pháp bón phân thích hợp cho cácloài cây trồng cụ thể Đối với các loài cây phân hữu cơ vi sinh và NPK tổnghợp dùng để bón lót và bón thúc chăm sóc trong 3 năm đầu mang lại hiệu quảcao Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề về kỹ thuật bón phân cho từng loài cây cụthể cần được quan tâm tiếp tục nghiên cứu Kỹ thuật làm đất bằng cơ giớicũng đã được nghiên cứu phát triển và áp dụng có hiệu quả trong trồng rừngsản xuất
Tổng kết vai trò cải thiện giống với các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cóDavison, 1996 đã làm thí nghiệm nghiên cứu so sánh vai trò cải thiện giống vớicác biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho hai loài cây Keo và Bạch đàn ở một sốnước nhiệt đới từ giai đoạn vườn ươm đến rừng trồng 6 năm tuổi đã kết luận:
- Giai đoạn trồng rừng một năm đầu thì biện pháp kỹ thuật lâm sinh tácđộng làm tăng năng suất rừng trồng là 85%, cải thiện giống là 15%
- Giai đoạn từ năm thứ năm thứ 3 đến năm thứ 6 thì tỷ lệ tăng năng suất
do cải thiện giống chiếm 50 60%
2.1.3.7 Thiết kế kỹ thuật trồng rừng của Công ty TNHH MTV DVTN
Công ty TNHH MTV VDTN có thiết kế kỹ thuật trồng rừng rất đầy đủ
và chi tiết cho tất cả các hạng mục trong kỹ thuật trồng rừng để phổ biến đếnngười dân Tuy nhiên việc có áp dụng hay không còn tùy thuộc vào yếu tốchủ quan của người trồng rừng
Trang 29Bảng 2.1 Thiết kế kỹ thuật trồng rừng cây Keo lai của Công ty TNHH
MTV Ván Dăm Thái Nguyên
1 Mật độ trồng rừng 1660 cây /ha
2 Phương thức trồng Thuần loài
3 Cự ly trồng Hàng cách hàng 3m, cây cách cây 2m
4 Thời vụ trồng Vụ xuân hè hoặc hè thu
5 Tiêu chuẩn cây con
- 100% cây con có bầu, tuổi cây 4-5 tháng, chiều cao 25-30cm và D0 = 2,5-3mm
- Cây có sức sinh trưởng tốt, thân thẳng, một ngọn
và không bị cong, không sâu bệnh, được tạo từ hạt, hom hoặc mô
6 Xử lý thực bì - Phát sát gốc toàn diện thực bì trong lô, đốt hoặc dọn sống trước khi trồng rừng
7 Làm đất
- Cục bộ theo hố, kích thước 40 x 40 x 40 cm so letheo hình nanh sấu, hàng chạy theo đường đồng mức hoặc theo hướng Đông - Tây
8 Lấp hố
- Lấp trước khi trồng từ 5-7 ngày, dùng lớp đất mặt xung quanh hố đập nhỏ, loại bỏ đá, rễ cây để lấp cho đầy hố
9 Trồng cây - Chọn ngày dâm mát, lấp đất đủ độ ẩm, đem cây đi trồng
10 Kỹ thuật trồng
- Xé bỏ túi bầu trước khi trồng, không làm vỡ bầu,đặt cây chính giữa hố, vun đất nhỏ xung quanh bầu, dùng tay nén nhẹ đảm bảo độ chặt vừa phải, lấp đất qua mặt bầu từ 2-3 cm để cây không bị nghiêng ngả và trơ dễ
11 Chăm sóc
1 Rừng trồng năm 1: 2 lần+ Lần 1: Thời gian sau khi trồng từ 1-2 tháng
- Dẫy cỏ, xới, vun sát gốc đường kính từ 1-1,2m
(Nguồn: Tổ thiết kế Công ty TNHH MTV Ván dăm Thái Nguyên cung cấp)
Trang 302.1.3.8 Các nghiên cứu về trồng rừng thâm canh
Như chúng ta đã biết trồng rừng thâm canh là vấn đề trước đây có rất ítngười quan tâm, song trước tình thế nguồn gỗ tự nhiên không còn đáp ứngđược nhu cầu về gỗ ngày càng tăng của xã hội Bên cạnh đó, diện tích đất quyhoạch cho lâm nghiệp ngày càng giảm do phải cắt chuyển sang sử dụng vàomục đích khác như mở rộng đất nông nghiệp, đất thổ cư, đường, xây dựngthủy điện, các công trình phúc lợi công cộng khác Hơn nữa, đất quy hoạchcho trồng rừng hầu hết là đất nghèo và xấu, vì thế trồng rừng thâm canh đã trởthành xu thế tất yếu trong sản xuất lâm nghiệp hiện nay, nhất là trồng rừngnguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến bột giấy và ván nhân tạo
Vào những năm 1980, bên cạnh các nước có lịch sử phát triển rừngtheo hướng thâm canh như: Đức, Ý, Thụy Điển, thì ở Việt Nam vấn đề nàycũng bắt đầu được quan tâm và đưa ra thảo luận, điển hình là các tác giảNguyễn Xuân Xuyên (1985), Phạm Chiến (1986), Vũ Đình Huề (1986),Phùng Ngọc Lan (1986)
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [24], thâm canh rừng trồng là nhằm bảo
vệ và sử dụng triệt để các điều kiện về tài nguyên, khí hậu, đất đai, sinh vật và
áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại có liên quan để nâng caonăng suất và hiệu quả kinh tế rừng trồng Thâm canh rừng đòi hỏi một hệthống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tổng hợp liên quan từ khâu chọn loàicây trồng, chọn giống, kỹ thuật gieo giống, chăm sóc, tỉa thưa trên mô hìnhmật độ tối ưu cho đến đảm bảo tái sinh trong khai thác
Theo Nguyễn Xuân Quát (1995) [30], trồng rừng thâm canh là mộtphương thức canh tác dựa trên cơ sở được đầu tư cao bằng việc áp dụng cácbiện pháp kỹ thuật tổng hợp và liên hoàn Các biện pháp tăng cường đầu tư đóphải tận dụng, cải tạo và phát huy được mọi tiềm năng của tự nhiên cũng nhưcon người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinh trưởng và phát triển của rừng trồng
Trang 31để thu được năng suất cao, chất lượng sẩn phẩm tốt với gia thành hạ tạo nênhiệu quả kinh tế cao Đồng thời cũng phải duy trì và bồi dưỡng được tiềmnăng đất đai và môi trường, đáp ứng được yêu cầu phát triển trồng rừng ổnđịnh, lâu dài và bền vững.
Đến giai đoạn 2001-2005, đáng chú ý là công trình nghiên cứu cấp nhànước của Nguyễn Huy Sơn (2006) [32], bước đầu đã cho thấy có thể nâng caonăng suất của rừng trồng từ 20m3/ha/năm lên đến 36m3/ha/năm ở khu vựcđông Nam Bộ Tuy nhiên, rừng trồng mới được 4-5 năm nên cần phải tiếp tụctheo dõi thêm các năm cuối của chu kỳ kinh doanh để có những kết luậnchính xác hơn
Trong các nghiên cứu khi đánh giá về rừng trồng thâm canh tại một sốtỉnh Thái Nguyên, Quảng Trị, Gia Lai, Bình Dương đã chỉ ra rằng chi phíchung cho 01 ha rừng trồng thâm canh Keo Lai cao gấp đôi so với đầu tưtrồng rừng sản xuất theo quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm
1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sánh và tổ chức thực hiện dự án trồng mới
5 triệu ha rừng và gấp 1,5 lần so với phương thức trồng rừng bán thâm canhhoặc quảng canh Tuy nhiên, trên thực tế trồng rừng thâm canh đã mang lạihiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với các phương thức trồng rừng khác Nếutrồng rừng bằng các loài cây mọc nhanh theo phương thức quảng canh thì chu
kỳ kinh doanh dài trên 10 năm mà năng suất chỉ đạt 7- 10m3/ha/năm, nhưngnếu trồng thâm canh thì sau 7-8 năm đã có thể khai thác gỗ với năng suất đạt
từ 23-30m3/ha/năm
Điều này cho thấy vốn bỏ ra ban đầu được thu hồi sớm hơn nghĩa làchu kỳ kinh doanh ngắn hơn, vòng quay nhanh hơn nên hiệu quả đầu tưvốn cũng cao hơn, thời gian thu hoạch sản phẩm được rút ngắn nên đất đaiđược giải phóng sớm để tiếp tục trồng rừng cho chu kỳ tiếp theo sớm hơn(Nguyễn Huy Sơn và cộng sự, 2006) [32]
Trang 322.1.3.9 Các thành tựu trong kỹ thuật quản lý lâm phần rừng trồng
Quản lý bảo vệ rừng trồng bao gồm cả những biện pháp lâm sinh vànhững biện pháp không phải lâm sinh như tổ chức và quản lý rừng, khôngchỉ quán triệt trong một thời gian hay giai đoạn nào cả mà cần phải đượctiến hành suốt cả quá trình trồng rừng, từ gieo ươm đến khi rừng thành thụccông nghệ
Biện pháp lâm sinh quan trọng nhất là phòng tránh sâu bệnh hại vàlửa rừng, việc xử lý tốt các biện pháp lâm sinh cũng phần nào giảm bớtđược những rủi ro do sâu bệnh hại gây ra Bên cạnh đó cần phải làm tốtcông tác dự tính dự báo các tác nhân gây hại, đưa ra và xử lý tốt các biệnpháp phòng chống một cách chủ động và toàn diện, đặc biệt các biện phápsinh học tổng hợp đảm bảo an toàn sinh thái, tuyệt đối không gây ô nhiễmmôi trường đất, nước và không khí ảnh hưởng đến sức khoẻ con người
Sau khi tham khảo các tài liệu chúng tôi hoàn toàn nhất trí với tổng kếtđánh giá của Trần Văn Con (2005) [8] và Võ Đại Hải (2005) [13] về cácthành tựu trong kỹ thuật quản lý lâm phần rừng trồng như sau:
Trồng được rừng đã khó, quản lý bảo vệ rừng để rừng sinh trưởng pháttriển tốt càng khó hơn và đòi hỏi các kỹ thuật phòng chống sâu bệnh hại, cháyrừng, chăm sóc tỉa thưa và các biện pháp xử lý lâm phần khác như: Đưa thêmcây bản địa vào các rừng trồng thuần loài, đa dạng hoá lâm sinh để tạo ra các
hệ sinh thái gần với tự nhiên và bền vững về sinh thái Các kỹ thuật trongquản lý bảo vệ rừng đã được áp dụng:
- Quy trình phòng chống bệnh rơm lá Thông QTN 13-78 ban hành kèmtheo quyết định 1201 ngày 5/7/1978 của Tổng cục Lâm nghiệp
- Quy trình phòng chống cháy, chữa cháy rừng Thông, rừng Tràm vàmột số rừng dễ cháy khác QPN 8-96 ban hành kèm theo quyết định 801 ngày26/5/1996 của Bộ Lâm nghiệp
Trang 33- Quy trình phòng trừ ong ăn lá Mỡ QTN 16-79 ban hành kèm theoquyết định 1148 ngày 26/11/1979 của Tổng cục Lâm nghiệp.
- Quy trình kỹ thuật phòng trừ sâu xanh ăn lá Bồ đề QTN 23-83 banhành kèm theo quyết định 218 ngày 1/3/1983 của Tổng cục Lâm nghiệp
Hàng loạt các quy trình về chăm sóc, tỉa thưa rừng Trong chăm sócrừng trồng, trước đây chỉ quy định chăm sóc đến năm thứ 3, hiện nay thờigian chăm sóc đã được tăng lên năm thứ 4, thứ 5 Công việc chăm sóc luỗngphát dây leo, bụi rậm để bảo vệ và tạo điều kiện tốt cho cây mục đích (câytrồng và cây tái sinh) không bị phủ lấp, léo ngọn và cạnh tranh dinh dưỡng,nhờ đó cây mục đích sinh trưởng và phát triển tốt hơn, công việc này phảiđược tiến hành thường xuyên, liên tục Quan điểm quản lý rừng theo từng đơn
vị lập địa để lợi dụng các tiềm năng lập địa một cách tối ưu nhất cũng đangđược hình thành và phát triển để từng bước hoàn thiện và chuyển giao chongười kinh doanh rừng
* Đánh giá chung
Để thấy hết được vai trò to lớn của việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuậtlâm sinh trong trồng rừng thâm canh, đã có nhiều tác giả nghiên cứu và tổngkết được, mới đây chúng tôi thấy một tổng kết tương đối đầy đủ của tác giả
Võ Đại Hải, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam là đầy đủ và rõ ràng
Võ Đại Hải, 2005 [13] kết luận rằng: Các thành tựu trong nghiên cứutrồng rừng sản xuất đã được ứng dụng trong thực tiễn, đặc biệt đối với cácnhóm loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu, gỗ nhỏ có chu kỳ ngắn.Thông qua các chương trình, dự án, đáng lưu ý là dự án trồng rừng KFW1 ởcác tỉnh vùng Đông Bắc, các dự án trồng rừng nguyên liệu giấy ở vùng TrungTâm, Tây Nguyên và Vùng Đông Nam Bộ, Các kỹ thuật tiến bộ này đã đượcchuyển giao và áp dụng rất có hiệu quả, nhờ đó năng suất và chất lượng rừngtrồng từ bình quân chỉ khoảng 8-9 m3/ha/năm đã nâng lên một cách đáng kể, cụ
Trang 34thể: Rừng trồng Bạch đàn Urophylla bằng cây mô đạt năng suất 16 m3/ha/năm
ở tuổi 7 - 8 ở Bắc Bộ và Trung Bộ; rừng Bạch đàn Camaldulensis trồng bằnghạt đạt 15 m3/ha/năm ở tuổi 8 - 9 ở Miền Trung và hơn 16 m3/ha/năm ở ĐôngNam Bộ; rừng Keo tai tượng Acacia mangium Wild trồng bằng hạt cho năngsuất 17 - 18 m3/ha/năm ở tuổi 8 ở miền Bắc, thâm canh cao ở Miền Nam có thểđạt 20 - 25 m3/ha/năm; Keo lai trồng bằng hom ở nhiều vùng đã đạt năng suất
20 m3/ha/năm ở tuổi 7 và có những khu thí nghiệm đạt 30 - 35 m3/ha/năm
Các tác giả còn đưa ra nhận xét về những thành tựu đã đạt được mộtcách cải thiện, tuy nhiên còn nhiều khâu quan trọng chưa được chú ý, vẫn cònnhiều khoảng trống chưa được giải quyết thậm chí còn bế tắc như: Nhiều quytrình quy phạm đã được xây dựng và ban hành nhưng không được ứng dụngmột cách nghiêm túc trong sản xuất vì thiếu cơ chế và biện pháp giám sát.Công nghệ sinh học chưa thực sự trở thành động lực chính thúc đẩy trồngrừng sản xuất Rất nhiều cơ sở sản xuất vẫn còn sử dụng giống không cónguồn gốc rõ ràng, không sử dụng cây con sản xuất bằng công nghệ mô hom
vì lý do giá thành cao
Tóm lại: Điểm qua các công trình nghiên cứu có liên quan trong nước
và trên thế giới cho thấy việc nghiên cứu về trồng rừng Keo lai đã có nhiềunghiên cứu khá toàn diện Đặc biệt trong những năm gần đây do nhu cầu sửdụng gỗ ngày càng tăng mà khả năng cung cấp gỗ từ rừng tự nhiên càng ngàycàng hạn chế, các công trình nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng thâm canh vàthâm canh rừng trồng cho một số loài cây trồng rừng nguyên liệu ngày càngtăng Tuy nhiên, mỗi một loài cây trên mỗi dạng lập địa khác nhau thì kỹthuật thâm canh cũng khác nhau Hơn nữa, các công trình nghiên cứu về kỹthuật thâm canh rừng trồng mới tập trung trong một vài năm gần đây, thờigian theo dõi thí nghiệm chưa dài, các kết quả mới chỉ là bước đầu, nên cầnphải có các công trình nghiên cứu kế tiếp để có những kết quả nghiên cứu
Trang 35chính xác và hoàn thiện hơn Chính vì vậy, tiếp tục nghiên cứu, đánh giá hiệntrạng ứng dụng TBKT trong trồng rừng nguyên liệu ván dăm bằng cây Keolai ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất rừng trồng.
Để góp phần xây dựng và hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây Keolai ở huyện Đồng Hỷ nói riêng tỉnh Thái Nguyên và khu vực Đông Bắc Bộnói chung
2.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Đồng Hỷ
- Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai-Thái Nguyên huyện Chợ Mới-Bắc Kạn
- Phía Đông giáp huyện Yên Thế - Bắc Giang
- Phía Tây giáp huyện Phú Lương
- Phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình
2.2.1.2 Địa hình
Đồng Hỷ thuộc tiểu vùng 1 của tỉnh Thái Nguyên, có kiểu địa hình đồiđộc lập và núi thấp Phía Đông và Đông Bắc có dãy núi Tèn và núi Bắc Lâukéo dài tạo thành bức tường ngăn cách 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn Độcao trung bình của huyện là 350m, cao nhất là đỉnh núi Tèn 759m Địa hìnhchia cắt mạnh ở phía Bắc và thấp dần từ Bắc xuống Nam, có độ cao tuyệt đối
từ 50m đến 750m so với mực nước biển Nhìn chung địa hình huyện Đồng Hỷ
có thể chia làm 2 vùng: Phía Bắc là núi thấp và núi trung bình, còn lại là vùngđồi Tuy nhiên, đây lại là vùng thượng lưu của sông Cầu nên vai trò của thảm
Trang 36thực vật rất quan trọng, có tác dụng điều tiết dòng chẩy và cung cấp nươc chosản xuất và sinh hoạt.
Độ ẩm không khí trung bình (%) Ghi chú
(Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên, năm 2010)
Qua bảng 2.2 cho thấy điều kiện khí hậu thời tiết năm 2010 ở huyệnĐồng Hỷ khá thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển Song lượng mưathường tập trung vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm 91% lượngmưa trung bình (1585 - 2110 mm) Tháng 7 có lượng mưa lớn nhất từ 380 -
480 mm nên rất dễ gây ra lũ lụt làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượngcây trồng Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là thời gian ít
Trang 37mưa, thậm chí không có mưa lại chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc kèmtheo những đợt rét đậm từ 5 - 70C Tháng 12 lượng mưa bình quân khá thấpchỉ đạt 10mm - 15mm làm ảnh hưởng khá lớn đến năng suất cũng như chấtlượng cây trồng Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm dao động từ 75,5 - 85,5%,trong đó tháng 3 là tháng có độ ẩm cao nhất: 85,5%; tháng 12 có độ ẩm thấpnhất: 75,5%.
Hình 2.1 Giản đồ vũ nhiệt Gaussen -Walter huyện Đồng Hỷ
Võ Nhai qua các xã Quang Sơn, Khe Mo và Linh Sơn đổ ra sông Cầu Do cấutạo địa hình có độ dốc lớn, tốc độ dòng chảy mạnh nên có nhiều bất lợi cho
16.0 17.5 19.5 23.5
350
205
125
40 12.5
P(mm)
Trang 38việc vận chuyển thuỷ của một số nhánh suối lớn Lưu tốc dòng chảy từ 600 800m/s, thường tập trung vào mùa mưa, có ảnh hưởng không tốt cho sản xuấtnông lâm nghiệp.
-2.2.1.5 Địa chất, thổ nhưỡng
Kết quả điều tra lập địa xây dựng bản đồ dạng đất tỉnh Thái Nguyêncủa phân viện điều tra quy hoạch rừng Đông Bắc Bộ năm 2001 [28], đất đaihuyện Đồng Hỷ được hình thành bởi quá trình phong hoá của loại đá mẹchính là đá vôi Gi ét với 2 loại đất chính:
- Đất Feralit phát triển trên phiến thạch sét (Fs) có mầu vàng đỏ, độ dầytầng đất ở mức trung bình > 60cm, độ PH = 4-5
- Đất Feralit phát triển trên đá Macma chua có mầu vàng nhạt, độ dầytầng đất từ 40cm đến 50cm, độ PH = 5-6
Hai loại đất này phù hợp cho trồng cây lâm nghiệp và cây công nghiệp
2.2.2 Điều kiện dân sinh - kinh tế xã hội của huyện Đồng Hỷ
2.2.2.1 Đặc điểm dân số, lao động, kinh tế
- Dân số: Tổng dân số toàn huyện tính đến tháng 31/12/2010 là 114.893người Mật độ dân số bình quân 251 người/km2, thấp nhất là xã Văn Lăng 69người/km2, cao nhất là thị trấn Chùa Hang 3.278 người/km2 (Chi cục thống kêhuyện Đồng Hỷ, 2010 [6])
- Lao động: Toàn huyện có khoảng 63.000 người lao động chiếm54,8% dân số Trong đó, lao động nông thôn chiếm trên 67% tổng số laođộng, lao động phi nông nghiệp chiếm gần 35% tổng số lao động Qua sốliệu thống kê hàng năm cho thấy: Người lao động chỉ sử dụng khoảng 70%quỹ thời gian lao động do thiếu việc làm, có khoảng 3-5% lao động thườngxuyên không có việc làm và có khoảng 30% lao động nông nghiệp không cóviệc làm khi kết thúc thời vụ nông nghiệp chính (Chi cục thống kê huyệnĐồng Hỷ, 2010 [6])
Trang 39- Kinh tế:
+ Nông nghiệp: Trong nhưng năm ngần đây ngành nông nghiệp đạtđược tốc độ tăng trưởng ổn định từ 3-5% đã giải quyết được nhu cầu lươngthực, thực phẩm của nhân dân Giá trị kinh tế nghành trồng trọt chiếm 63%trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp; giá trị kinh tế ngành chăn nuôi chiếm 35%giá trị sản xuất nông nghiệp Có được kết quả như trên là nhờ huyện Đồng Hỷ
đã có những biện pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng cáctiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
+ Lâm nghiệp và hiện trạng tài nguyên rừng
Tình hình sản xuất lâm nghiệp của huyện Đồng Hỷ trong những nămngần đây đã có những bước tiến đáng kể Người dân đã phần nào nhận thứcđược vai trò, lợi ích của rừng trong vấn đề bảo vệ môi trường và phát triểnkinh tế xã hội Do đó, ngày càng có nhiều hoạt động tích cực hơn trong côngtác gây trồng và quản lý bảo vệ rừng Chính vì vậy, diện tích rừng trồng ngàycàng tăng thêm, diện tích đất trống đồi núi trọc thu hẹp lại, chất lượng rừngcũng được nâng lên đáng kể
Theo đánh giá tiềm năng sản xuất lâm nghiệp của phân viện điều traqui hoạch rừng Đông Bắc Bộ huyện Đồng Hỷ với trên 50% diện tích đất đai
có khả năng tham gia vào sản xuất lâm nghiệp, chính là thế mạnh của ngànhlâm nghiệp trên địa bàn huyện nói riêng và toàn tỉnh Thái Nguyên nói chung
Các định hướng sử dụng tối ưu nhất phần diện tích đất này làkhoanh nuôi bảo vệ nghiêm ngặt những diện tích đã có rừng và trồng rừngtrên đất trống IA, IB theo hướng thâm canh năng suất rừng trồng (đối vớirừng sản xuất)
Trang 40Tính đến 31/12/2010 tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện Đồng Hỷ:24.692,73 ha (chiếm 53,94% diện tích tự nhiên của huyện; chiếm 13,74%diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh) trong đó:
- Rừng sản xuất: 19.106,41 ha, trong đó: