Rất rất hay!
Trang 1- CIFOR: Centre for International Forestry Research -Trung tâm nghiên
cứu lâm nghiệp quốc tế
- CSA: Canadian Standards Association - Hội Tiêu Chuẩn Canada
- C&I: Criteria & Indicators - Tiêu chí và chỉ số
- CoC Chain of Custody: Chuỗi hành trình sản phẩm
- ĐVQLR: Đơn vị quản lý rừng
- EU: European Union Liên minh Châu Âu
- FAO: United Nations Food and Agriculture Organization - Tổ chức
lương nông của Liên Hợp Quốc
- FSC: The Forest Stewardship Council - Hội đồng quản trị rừng quốc tế
- FSC P&C: FSC Principles & Criteria - Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng của Hội
đồng quản trị rừng quốc tế
- GEF: Global Environment Facilities - Quỹ môi trường toàn cầu
- GIS: Geographical Information Systems - Hệ thống thông tin địa lý
- GFTN: Global Forest and Trade Network - Mạng lưới rừng và thương
mại toàn cầu
- GTZ: Deutsche Gesellschaft fur Technische Zusammenarbeit - Tổ
- ISO: International Organization for Standardization - Tổ chức quốc tế
về tiêu chuẩn hoá
- ITTO: International Tropical Timber Organization - Tổ chức gỗ nhiệt
đới quốc tế
- IUCN: World Conservation Union - Liên minh bảo tồn quốc tế
- IUFRO: International Union of Forest Research Organization - Liên đoàn
quốc tế các tổ chức nghiên cứu rừng
- KHQLR: Kế hoạch quản lý rừng
- KTXH: Kinh tế xã hội
Trang 2- LEI: Lembaga Ecolabel Indonesia - Viện nhãn sinh thái Indonexia
- MTCC: Malaysian Timber Certification Council - Hội đồng chứng chỉ gỗ
Mã Lai
- NGO: Non-governmental organization - Tổ chức phi chính phủ
- NWG: National Working Group (on QLRBV) - Tổ công tác quốc gia
quản lý rừng bền vững và CCR
- NN&PTNN: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
- PEFC: Programme for the Endorsement of Forest Certification Schemes
- Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng
- P&C&I VN: Vietnam Principles & Criteria & Indicators - Bô tiêu chuẩn
FSC Việt Nam
- QLRBV: Quản lý rừng bền vững
- RBTC: Rừng có giá trị bảo tồn cao
- SCS: Scientific Certification Systems - Hệ thống chứng chỉ khoa học
- SFI: Sustainable Forestry Initiative - Sáng kiến lâm nghiệp bền vững
Bắc Mỹ SFR Sản phẩm rừng
- SGS: Société Général de Surveillance - Tổ chức chứng chỉ
QUALIFOR Nam Phi
- TCCC: Tổ chức chứng chỉ
- TCQG: Tiêu chuẩn quốc gia
- TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
- TFT: Tropical Forest Trust - Quỹ Rừng nhiệt đới
- UBND: Uỷ ban nhân dân
- UNCED: United Nations Conference on Environment and Development
-Công ước Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển
- UNDP: United Nations Development Programme - Chương trình phát
triển của Liên Hợp Quốc
- UNEF: United Nations Environment Programme - Chương trình môi
trường của Liên Hợp Quốc
- USD: Đô la Mỹ
- VIFA: Vietnam Forest Science and Technology Association - Hội Khoa
học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam
- WB: World Bank - Ngân Hàng Thế Giới
- WTO: World Trade Organization - Tổ chức thương mại thế giới
- WWF: World Wide Fund for Nature - Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Biểu 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai tại công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo 36
Biểu 3.2 Tổng hợp diện tích rừng trồng theo tuổi, loài 37
Biểu 3.3 Số liệu sản xuất kinh doanh trong 05 năm (từ 2006-2010) 44
Biểu 4.1 Tổng hợp các lỗi không tuân thủ và giải pháp khắc phục 52
Biểu 4.2 Hiện trạng quy hoạch đất của Công ty Lâm nghiệp Ngòi sảo 60
Biểu 4.3 Phân chia chức năng rừng và quy hoạch biện pháp sử dụng 62
Biểu 4.4 Điều chỉnh diện tích khai thác rừng trồng Keo, Bồ đềgiai đoạn 2011 - 2018 65
Biểu 4.5 Kế hoạch khai thác một chu kỳ kinh doanh rừng trồng 67
Biểu 4.6 Kế hoạch khai thác rừng trồng Keo, Bồ đề năm 2011 67
Biểu 4.7 Tổng hợp chi phí khai thác giai đoạn 2011 -2018 69
Biểu 4.8 Kế hoạch trồng rừng giai đoạn 2011 - 2018 71
Biểu 4.9 Kế hoạch trồng rừng Keo tai tượng năm 2011 72
Biểu 4.10 Kế hoạch chăm sóc trong 1 luân kỳ trồng rừng 73
Biểu 4.11 Chi phí chăm sóc rừng cho 1 chu kỳ 73
Biểu 4.12 Kế hoạch sản xuất cây giống và vốn đầu tư giai đoan 2011-2018 74
Biểu 4.13 Kế hoạch khoanh nuôi, bảo vệ rừng giai đoạn 2011 - 2018 75
Biểu 4.14 Kế hoạch duy tu bảo dưỡng đường hàng năm 77
Biểu 4.15 Tổng hợp vốn đầu tư giai đoan 2011-2018 87
Biểu 4.16: Tổng hợp chỉ tiêu kinh tế đánh giá hiệu quả kinh doanh 1ha rừng 89
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢN ĐỒ
Hình 1.1 Sơ đồ Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) 13
Hình 2.1: Quy trình đánh giá QLR tại Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo 27
Hình 3.1: Cơ cấu tổ chức Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo 41
Hình 4.1 Chuỗi hành trình sản phẩm chính của Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo 56
Hình 4.2 Sơ đồ lập kế hoạch khai thác Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo 63
Hình 4.3 Biểu đồ hiện trạng rừng trồng Keo, Bồ đề 64
Hình 4.4 Biểu đồ điều chỉnh diện tích khai thác rừng, giai đoạn 2011-2018 66
Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo 36
Bản đồ quy hoạch đất trồng rừng giai đoạn 2011-2018 72
Trang 5ĐẶT VẤN đề
Rừng là tài nguyờn vụ cựng phong phỳ và vụ cựng quý giỏ đối với con người
và xó hội Tỏc dụng của rừng là rất đa dạng đối với nền kinh tế quốc dõn Rừng khụngchỉ cú giỏ trị to lớn về mặt kinh tế mà cũn cú ý nghĩa về mặt mụi trường và xó hội, rừngvừa là đối tượng lao động, vừa giữ vai trũ là một tư liệu sản xuất chủ yếu của ngànhlõm nghiệp Nhưng hiện nay, do những tỏc động của con người như khai thỏc lõm sản(hợp phỏp và bất hợp phỏp), chuyển đổi đất lõm nghiệp sang cụng nghiệp, xõy dựng,
đụ thị húa,… nờn diện tớch rừng tự nhiờn đó và đang bị giảm đi đỏng kể Theo ước tớnhcủa FAO, hàng năm diện tớch rừng tự nhiờn trờn toàn cầu mất đi khoảng 9 triệu ha songđến năm 2001 diện tớch rừng chỉ cũn khoảng 11,3 triệu ha và diện tớch đất khụng cúrừng khoảng 8 triệu ha Mụi trường sống của nhiều loài động vật, thực vật rừng cũngkhụng biến mất hoặc bị thoỏi húa nghiờm trọng
Thực tế cho thấy nếu chỉ cú cỏc biện phỏp truyền thống như tăng cường luậtphỏp, tham gia cỏc cụng ước thỡ khụng thể bảo vệ được diện tớch rừng tự nhiờnhiện cũn của nhõn loại, nhất là rừng nhiệt đới tập trung chủ yếu ở cỏc nước đangphỏt triển Một trong những biện phỏp quan trọng hiện nay, được cả cộng đồng quốc
tế cũng như từng quốc gia đặc biệt quan tõm, kết hợp với cỏc giải phỏp truyền thốngnờu trờn là cần phải thiết lập quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
Năm 1992 Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế (International Tropical TimberOrganisation - TTTO) đó đưa ra quan điểm: “Quản lý rừng bền vững là quỏ trỡnhquản lý cỏc khu rừng cố định nhằm đạt một hoặc nhiều hơn cỏc mục tiờu quản lý đóđược đề ra một cỏch rừ ràng như đảm bảo sản xuất liờn tục những sản phẩm và dịch
vụ của rừng mà khụng làm giảm đỏng kể những giỏ trị di truyền và năng suất tươnglai của rừng và khụng gõy ra những tỏc động khụng mong muốn đối với mụi trường
và xó hội” [3] Trong đú theo tiến trỡnh Helsinki: “Quản lý rừng bền vững là sựquản lý rừng và đất rừng theo cỏch thức và mức độ phự hợp để duy trỡ tớnh đa dạngsinh học, năng suất, khả năng tỏi sinh, sức sống của rừng và duy trỡ tiềm năng củarừng trong hiện tại và tương lai, cỏc chức năng sinh thỏi, kinh tế, xó hội của chỳng ởcấp địa phương, quốc gia và toàn cầu, khụng gõy ra những tỏc hại đối với hệ sinhthỏi khỏc”
Như vậy, cú thể khỏi quỏt rằng quản lý rừng bền vững phải đạt được sự bềnvững trờn cả ba phương diện: Kinh tế, Mụi trường và Xó hội
Chứng chỉ rừng (Forest Certification) chớnh là sự xỏc nhận bằng văn bản xỏc nhận rằng một đơn vị quản lý rừng được cấp chứng chỉ đó được sản xuất trờn cơ
-sở rừng được tỏi tạo lõu dài, khụng làm ảnh hưởng đến cỏc chức năng sinh thỏi của
Trang 6rừng và môi trường xung quanh và không làm suy giảm tính đa dạng sinh học Cóthể nói chứng chỉ rừng không chỉ làm thay đổi giá trị của hàng hóa mà trong nhiềutrường hợp nó còn làm thay đổi thái độ của doanh nghiệp với rừng nói riêng và môitrường nói chung.
Quá trình sản xuất từ khai thác, chế biến và sản xuất sơ cấp, thứ cấp, phân
phối và tiêu thụ được gọi là chuỗi hành trình sản phẩm (Chain of Custody - CoC).
Kiểm chứng từng bước trong quá trình này sẽ giúp cho đơn vị chứng minh được vớikhách hàng rằng các sản phẩm đã được chứng chỉ mà họ bán thực sự có nguồn gốc
từ các khu rừng được cấp chứng chỉ
Trong Quản lý rừng bền vững (QLRBV) việc lập kế hoạch quản lý rừng(KHQLR) là một hoạt động không thể thiếu, điều này được chỉ rõ trong bộ tiêuchuẩn Quốc gia QLRBV của Việt Nam Đây là công việc đầu tiên cần tiến hànhtrước khi thực hiện quản lý một khu rừng đồng thời các hoạt động xây dựng, pháttriển, sử dụng rừng đều tuân theo kế hoạch quản lý rừng được lập Trong bộ tiêu
chuẩn Việt Nam về QLRBV (gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí) có nhiều tiêu chuẩn và
tiêu chí liên quan đến lập kế hoạch quản lý rừng, trong đó tiêu chuẩn 7 yêu cầu chủrừng phải xây dựng kế hoạch quản lý
Ở Việt Nam khái niệm QLRBV, chứng chỉ rừng, chứng chỉ CoC còn rất mới
mẻ và ít kinh nghiệm Tính tới tháng 5/2010, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu
gỗ mới chỉ được cấp gần 205 chứng chỉ CoC, nhưng mới chỉ có 1 chứng chỉ FSC vềQLRBV cho Công ty TNHH rừng trồng Quy Nhơn Còn lại phần lớn các đơn vịkinh doanh lâm nghiệp vẫn chưa được cấp chứng chỉ rừng vì hoạt động sản xuấtkinh doanh của các đơn vị này vẫn chưa đạt được các tiêu chuẩn tối thiểu theo quyđịnh để được FSC cấp chứng chỉ rừng và chứng chỉ CoC Do đó để các đơn vị kinhdoanh đảm bảo sản xuất bền vững, cạnh tranh hội nhập được với thế giới thì đòi hỏicác đơn vị cần nhận thức được vấn đề này
Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo là đơn vị hoạt động sản xuất trong lĩnh vựclâm nghiệp thuộc tỉnh Hà Giang Công ty mong muốn được cấp chứng chỉ rừng,giúp công ty quản lý rừng theo hướng tiên tiến, bền vững lâu dài, tuy nhiên các hoạtđộng sản xuất công ty chưa được đánh giá theo các tiêu chuẩn QLRBV và chuỗihành trình sản phẩm Để góp phần giải quyết những tồn tại trên cả về mặt lý luận và
thực tiễn tác giả tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý rừng tiến tới chứng chỉ rừng tại Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo, tỉnh Hà Giang”.
Trang 7Chương 1TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU1.1 TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1 Phát triển bền vững và quản lý rừng bền vững
1.1.1.1 Phát triển bền vững: Tiền đề và nội dung khái niệm
Sau đại chiến thế giới II, chủ nghĩa tư bản tự do phát triển mạnh ở các quốc giaphương Tây, với chiến lược khai thác nhanh nguồn tài nguyên không được tái tạo,nhằm có được khoản lợi nhuận khổng lồ trong một thời gian ngắn nhất, sự gia tăngdân số, đặc biệt tại các nước thuộc thế giới thứ III đã tiêu thụ nguồn năng lượng lớnchưa kịp tái tạo Đây là hai trong số các sự kiện tạo nên động thái mới trên thế giớiđương đại: "Khủng hoảng môi trường tự nhiên, đói nghèo, và gia tăng khác biệt xãhội" Thực tế này đòi hỏi phải có một sự điều chỉnh hành vi của con người
Những ý tưởng hàm ý phát triển bền vững sớm xuất hiện trong xã hội loàingười nhưng phải đến thập niên đầu của thế kỷ XX, những hàm ý này mới pháttriển, chuyển hoá thành hành động và cao hơn là phong trào xã hội Tiên phong chocác trào lưu này phải kể đến giới bảo vệ môi trường ở Tây Âu và Bắc Mỹ Uỷ banbảo vệ môi trường Canada được thành lập năm 1915, nhằm khuyến khích con ngườitôn trọng những chu kỳ tự nhiên và cho rằng mỗi thế hệ có quyền khai thác lợi ích
từ nguồn vốn thiên nhiên, nhưng nguồn vốn này phải được duy trì nguyên vẹn chonhững thế hệ tương lai để họ hưởng thụ và sử dụng theo một cách thức tương tự.Trong báo cáo với nhan đề "Toàn thế giới bảo vệ động vật hoang dã", tại Hội nghịParis (Pháp) năm 1928, Paul Sarasin - nhà bảo vệ môi trường Thuỷ Sĩ đã đề cập đếnviệc cần phải bảo vệ thiên nhiên Mối quan hệ giữa bảo vệ thiên nhiên và sử dụng tàinguyên thiên nhiên cũng là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức quốc tế từ sau đạichiến thế giới II (UNDP, UNESCO, WHO, FAO, và ICSU) Các tổ chức này đã phốihợp chặt chẽ trong việc tìm hiểu diễn biến môi trường tự nhiên, từ đó đưa ra chươngtrình hành động hướng các quốc gia phát triển theo mô hình bền vững Năm 1951,UNESCO đã xuất bản một tài liệu đáng lưu ý với tiêu đề "Thực trạng bảo vệ môitrường thiên nhiên trên thế giới vào những năm 50" Tài liệu này được cập nhật vàonăm 1954 và được coi là một trong số những tài liệu quan trọng của "Hội nghị về môitrường con người" (1972) do Liên hiệp quốc tổ chức tại Stockholm (Thuỵ Điển) vàcũng được xem như là "tiền thân" của báo cáo Brunđtland
Đến đầu thập niên 80, thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên được sử dụngtrong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyênthiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình môi trườngLiên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO với nội dung rất
Trang 8đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế
mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" Tuy nhiên, khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên thếgiới từ sau báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủyban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) năm
1987 Theo Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu
cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo
tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thốngtrợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật Qua cácbản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nókhông chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người,
nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ Nhưvậy, khái niệm "Phát triển bền vững" được đề cập trong báo cáo Brundtlanđ với mộtnội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế và môi trường, haythậm chí phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Nội dung khái niệm cònbao hàm những khía cạnh chính trị xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội Với ý nghĩanày, nó được xem là "tiếng chuông" hay nói cách khác là "tấm biển hiệu” cảnh báohành vi của loài người trong thế giới đương đại Kể từ khi khái niệm này xuất hiện,
nó đã gây được sự chú ý và thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại (các tổ chứcquốc tế, tổ chức phi chính phủ, đảng phái chính trị, các nhà tư tưởng, các phong trào
xã hội, và đặc biệt là giới khoa học với việc làm dấy lên các tranh luận về khái niệmnày mà đến nay vẫn chưa ngã ngũ) Khái niệm phát triển bền vững trở thành kháiniệm chìa khoá giúp các quốc gia xây dựng quan điểm, định hướng, giải pháp tháo
gỡ bế tắc trong các vấn đề phát triển Đây cũng được xem là giai đoạn mở đườngcho "Hội thảo về phát triển và môi trường của Liên hiệp quốc và Diễn đàn toàn cầuhoá được tổ chức tại Rio de Janeiro (1992) và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về pháttriển bền vững tại Johannesburg (2002)
1.1.1.2 Quản lý rừng bền vững
Các sản phẩm rừng, đặc biệt là gỗ tiêu thụ trên thị trường có thể được sản xuất
ra một cách an toàn đối với môi trường như không làm mất rừng hay suy giảm chấtlượng rừng, hoặc ngược lại, một cách không an toàn tức là tác động xấu đến môi
trường Khái niệm thương mại và phát triển bền vững được hình thành trên cơ sở
cho rằng có thể sử dụng các biện pháp thương mại để kiểm soát một cách có hiệuquả các tác hại về môi trường: phát triển một hệ thống thị trường chỉ chấp nhận tiêuthụ các sản phẩm có chứng chỉ an toàn môi trường Cuối những năm 1980 nhiều tổ
Trang 9chức phi chính phủ vận động tẩy chay gỗ rừng nhiệt đới để giảm nhu cầu trên thịtrường thế giới Sau đó chính quyền nhiều thành phố lớn ở Hà Lan, Đức, Hoa Kỳcũng có lệnh cấm sử dụng gỗ rừng nhiệt đới trong những công trình xây dựng bằngvốn ngân sách Đến 1990 Quốc hội Australia ban hành luật hạn chế nhập khẩu gỗ từnhững nước không thực hiện QLRBV Biện pháp cấm và tẩy chay thương mại và sửdụng gỗ rừng nhiệt đới cũng thường xuyên được thảo luận ở Hội đồng gỗ nhiệt đớiquốc tế (ITTO) trong suốt những năm 1988-1992 Nhiều thị trường rộng lớn Châu
Âu và Bắc Mỹ bắt đầu thực hiện chính sách chỉ cho phép gỗ có chứng chỉ đượctham gia Đến đầu những năm 2000 Nhóm G8 (các nước giàu nhất) tuyên bố cácchính phủ thành viên cam kết tìm biện pháp đáp ứng những nhu cầu về gỗ vànguyên liệu giấy của mình chỉ từ những nguồn hợp pháp và bền vững Những camkết này sau đó đã trở thành chính sách của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vàLiên minh Châu Âu (EU) Gần đây EU đã đề ra Kế hoạch hành động thi hành Luậtlâm nghiệp, Quản trị và Thương mại, trong đó công cụ thương mại được coi là chìakhoá để thực hiện cam kết của các nước thành viên Trên thị trường nảy sinh vấnđề: người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi sản phẩm mà họ mua phải có nguồn gốc
từ rừng đã được quản lý bền vững, người sản xuất muốn chứng minh rừng của mình
đã được quản lý bền vững
Theo tài liệu Tài nguyên rừng toàn cầu của Liên Hợp Quốc năm 2010, hiệnnay diện tích rừng của toàn thế giới có khoảng hơn 4 tỷ ha, trung bình 0,6 ha/người.Các nước có diện tích rừng lớn nhất là Liên bang Nga, Braxin, Canada, Mỹ vàTrung Quốc Có 10 nước và vùng lãnh thổ không có rừng, 54 quốc gia có diện tíchrừng chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 10% tổng diện lãnh thổ Trong 10 năm gần đây, tỷ lệ mấtrừng là khoảng 13 triệu ha mỗi năm, trong khi đó phần lớn diện tích rừng còn lại bịthoái hóa nghiêm trọng cả về đa dạng sinh học và chức năng sinh thái[1] Nguyênnhân chủ yếu do con người khai thác lâm sản quá mức và do chuyển đổi mục đích
sử dụng đất từ đất rừng sang đất sản xuất nông nghiệp nên diện tích rừng tự nhiên
đã bị suy giảm nghiêm trọng Mặt khác “Con người luôn luôn mong muốn sử dụng tối đa tiềm năng của rừng để phục vụ cho mình, lại muốn việc sử dụng tối đa đó ổn định lâu dài” Do đó, vấn đề mà toàn thế giới và từng quốc gia đều có sự quan tâm
đặc biệt hiện nay là làm thế nào để quản lý rừng cho tốt để đảm bảo bền vững việccung cấp tối ưu 3 mặt: Kinh tế - Môi trường và Xã hội mà trong đó các giá trị môitrường của rừng đối với con người là không thể thay thế
Trước tình hình chặt phá và khai thác rừng bừa bãi, năm 1992 lần đầu tiên
Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) mới đề ra những tiêu chí cơ bản cho việcquản lý bền vững cho rừng nhiệt đới và kêu gọi các tổ chức quốc tế tham gia
Trang 10Hưởng ứng mạnh mẽ các vấn đề quản lý rừng bền vững ngay sau đó các hiệp hội
về rừng đã ra đời:
- Hội tiêu chuẩn Canada (CSA) Năm 1993
- Hội đồng quản trị rừng (FSC) Năm 1994
- Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (SFI) năm 1994
- Tổ chức nhãn sinh thái Indonesia (LEI) năm 1998
- Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia (MTCC) năm 1998
- Chứng chỉ rừng Chi lê (CertforChile) năm 1999
- Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC) năm 1999
Từ đó, phương thức QLRBV đã trở thành cao trào, được hầu hết các nướcnông nghiệp tiên tiến và hàng loạt các quốc gia đang phát triển có rừng cần QLBV,
tự nguyện tham gia, mặc dù không ai bắt buộc Đây là vấn đề nhận thức của cácquốc gia nhằm làm sao bảo vệ được rừng mà vẫn sử dụng tối đa các lợi ích từ rừng,nhận thức của chủ rừng về quyền xuất khẩu vào mọi thị trường thế giới và quyềnbán lâm sản với giá cao Vai trò của rừng đối với cuộc sống của con người hiện tạiđược đánh giá và được thiết kế trong rất nhiều chương trình, hiệp ước, công ướcquốc tế (CITES-1973, RAMSA-1998, UNCED-1992, CBD-1994, UNFCCC-1994,UNCCD-1995) Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nhờ sáng kiến của những người sửdụng và kinh doanh gỗ về việc chỉ buôn bán sử dụng gỗ có nguồn gốc từ các khu
rừng đã được QLBV, từ đó một loạt tổ chức QLBV (gọi tắt là quá trình hay process) đã ra đời và có phạm vi hoạt động khác nhau trên thế giới và đề xuất tiêu
chuẩn QLRBV với nhiều những tiêu chí như sau:
- MONTREAL cho rừng tự nhiên ôn đới, gồm 7 tiêu chí;
- ITTO cho rừng tự nhiên, gồm 7 tiêu chí;
- PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki) gồm 6 tiêu chí;
- AFRICAL TIMBER ORGANIZATION INITIATIVE cho rừng khô châu Phi;
- CIFOR cho rừng tự nhiên nói chung, gồm 8 tiêu chí;
- FSC cho mọi kiểu rừng toàn thế giới, gồm 10 nguyên tắc;
Trong số này, Hội đồng quản trị rừng thế giới (Forest Sterwardship Council - FSC)
là tổ chức uy tín nhất và có phạm vi rộng nhất toàn thế giới được thành lập năm
1993, bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 25 quốc gia, bao gồm đạidiện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, ngànhcông nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ Đặc biệt, FSC có đối tượng áp dụng cảcho rừng tự nhiên và rừng trồng, rừng ôn đới, nhiệt đới và mọi đối tượng khác Chứngchỉ QLRBV của FSC được các thị trường khắt khe trên thế giới như Bắc Mỹ, Tây Âuđều chấp nhận thông thương với giá bán cao, do đó tuy các tiêu chí QLRBV của
Trang 11FSC cao, tỷ mỉ nhưng vẫn được nhiều nước từ nước đang phát triển đến nước côngnghiệp tiên tiến hưởng ứng tự nguyện tham gia và đang trở thành cao trào QLRBVtrong hội nhập quốc tế Tiêu chuẩn QLRBV của FSC có 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí.Hiện đã có 26 bộ tiêu chuẩn quốc gia hoặc vùng trên thế giới được FSC phê duyệtcho áp dụng Theo FSC Newsletter xuất bản ngày 31/8/2005, đã có 77 nước được
cấp chứng chỉ QLRBV cho 731 khu rừng (đơn vị QLR) với diện tích 57.264.882 ha.
Tại khu vực Đông Nam Á, xuất phát từ xu hướng mất rừng và bị thị trường thếgiới từ chối nếu gỗ không có chứng chỉ QLRBV của một tổ chức độc lập quốc tế
Do vậy để bảo vệ và phát triển diện tích rừng nên hợp tác lâm nghiệp trong khốiASEAN đã phát triển mạnh mẽ, thể hiện trong giai đoạn từ 1995-2000 ASEAN
đã hoàn thành dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV chung vào năm 2000 tại thành phố
Hồ Chí Minh và được phê duyệt tại Hội nghị Bộ trưởng Nông - Lâm nghiệpPhnom-penk 2001 Song, do bộ tiêu chuẩn QLRBV của ASEAN soạn thảo theo 7tiêu chí của ITTO, nên gặp khó khăn khi xin cấp chứng chỉ của tổ chức FSC Tuyvậy, các nước có nền lâm nghiệp mạnh trong ASEAN như: Indonesia (Kim ngạchxuất khẩu gỗ 5-5,5 tỷ USD/năm), Malaysia (4,7-5 tỷ USD/năm), sau đó đếnPhilippines, Thailand cũng đã được cấp chứng chỉ QLRBV của FSC trong các năm
từ 2002-2005, tuy rằng diện tích được cấp còn hạn chế Tại Indonesia, một tổ chứcphi chính phủ (NGO) là "Viện sinh thái Lambaga" (viết tắt là LEI) ra đời để hướngdẫn và hỗ trợ kỹ thuật cho các chủ rừng nâng cao năng lực QLRBV đến khi đạtchứng chỉ gỗ quốc tế Malaysia thành lập tổ chức NGO có tên "Hội đồng chứng chỉ
gỗ quốc gia" (NTCC) nay đổi tên là "Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia" (MTCC) đểđảm nhiệm chức năng hỗ trợ Chứng chỉ rừng (CCR) Malaysia đang thử nghiệm đi
theo 2 bước (chứng chỉ quốc gia và chứng chỉ quốc tế) Chứng chỉ quốc gia không
có giá trị trên thị trường thế giới, nhưng là một mức đánh giá năng lực quản lý củachủ rừng đã đạt mức xấp xỉ để xin thẩm định quốc tế Năm 2005 đoàn tham quanhọc tập của Cục Lâm nghiệp và các tỉnh có rừng tổ chức tham quan tại Malaysia đãrất ấn tượng cách làm này LEI và MTCC là tổ chức NGO nhưng do chính phủ tàitrợ và có sự đóng góp của các chủ rừng nên hoạt động rất mạnh và hiệu quả caonhất trong các nước thuộc khối ASEAN
1.1.2 Chứng chỉ rừng và chuỗi hành trình sản phẩm (FSC/CoC)
1.1.2.1 Tổ chức cấp chứng chỉ và chứng chỉ rừng(FSC)
Chứng chỉ rừng là sự xác nhận bằng giấy chứng chỉ rằng đơn vị quản lý rừngđược chứng chỉ đã đạt những tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững do tổ chức chứngchỉ hoặc được uỷ quyền chứng chỉ quy định Theo ISO (1991) chứng chỉ là sự cấpgiấy xác nhận một sản phẩm, một quá trình hay một dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu
Trang 12nhất định Chứng chỉ rừng có đối tượng chứng chỉ là chất lượng quản lý rừng Hiện
có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng đều bao hàm hai nội dung cơ bản là:
a) Đánh giá độc lập chất lượng quản lý rừng theo một bộ tiêu chuẩn quy định.b) Cấp giấy chứng chỉ có thời hạn
Nói cách khác, chứng chỉ rừng là quá trình đánh giá quản lý rừng để xác nhậnrằng chủ rừng đã đạt các yêu cầu về quản lý rừng bền vững
Tổ chức cấp chứng chỉ rừng là một tổ chức có đủ tư cách pháp nhân, có nănglực chuyên môn và trình độ nghiệp vụ về quản lý rừng được công nhận bởi các tổchức kinh tế, môi trường và xã hội, bên cạnh đó đạt được sự tín nhiệm của các Hiệphội sản xuất và người tiêu dùng trong khu vực và trên thế giới Hiện nay, các tổchức cấp chứng chỉ rừng chính trên phạm vi toàn cầu là:
+ Hội đồng quản trị rừng thế giới (Forest Sterwardship Council- FSC) quytrình quốc tế
+ Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (Programme for theEndorsement of Forest Certification Schemes, PEFC) - quy trình quốc tế
+ Tổ chức cấp chứng chỉ rừng quốc gia Malaisia và Kerhout: hoạt động chủyếu trong khu vực nhiệt đới, đây là quy trình quốc gia
+ Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (Sustainable Forestry Initiative, SFI) - quytrình vùng (Mỹ và Canada)
Trong đó, có 2 quy trình chứng chỉ rừng quốc tế có uy tín lớn nhất hiện nay làFSC và PEFC Hiện nay nhằm tăng số lượng cấp chứng chỉ rừng FSC đã thực hiệnchính sách ủy quyền cho các tổ chức chứng chỉ, các sáng kiến quốc gia và các tiêuchuẩn quốc gia và khu vực Tính đến 10/2005 đã có 15 tổ chức được FSC uỷ quyền là:
- Nam Phi: QUALIFOR, SGS South Africa
- Anh quốc: Hiệp hội đất - Chương trình Woodmark
- Anh quốc: BM TRADA Certification Ltd (TT)
- Pháp: Centre Technique du Bois et de l’Ameublement (CTBA)
- Pháp: Eurocertifor - BVQI Program of BVQI France
- Mexico: Fundación vida para el bosque A.C (VIBO)
- Italya: Certiqualiti CQ)
- Italya: Instituto per la Certificazone e i Servizi per Imprese dell’ Arrendementoe
del Legno (ICILA)
- Mỹ: Hệ thống chứng chỉ khoa học - Chương trình bảo tồn rừng
- Mỹ: Liên minh về rừng nhiệt đới - Chương trình Smartwood
- Hà Lan: Skal International (SKAL)
- Canada: Silva Forest Foundation
Trang 13- Canada: KMPG Forest Certification Services Inc.
- Đức: GFA Terra Systems (FGA)
- Thụy Sĩ: Institut Marktokologic (IMO)
Tại Châu Á-Thái Bình Dương, Công ty SmartWood/Rainforest Allliance vàSGS Forestry đã thực hiện phần lớn việc đánh giá và cấp chứng chỉ rừng (FSC).Đây cũng chính là các tổ chức đảm nhiệm việc cấp FSC tại Việt Nam [1]
Số lượng ít ỏi các cơ quan được cấp chứng chỉ rừng do FSC ủy quyền trướcđây là một hạn chế trong việc phát triển vấn đề cấp chứng chỉ gỗ
Nhãn Logo FSC và nhãn dán trên sản phẩm sẽ giúp người tiêu dùng trên toànthế giới có thể nhận biết được các tổ chức hay sản phẩm ủng hộ chương trình quản
lý rừng có trách nhiệm Có 02 loại chứng nhận FSC đang được các Tổ chức chứngnhận cung cấp là:
+ Forest Management Certificate (FSC-FM) - Chứng nhận Quản lý rừng:
yêu cầu cho một khu rừng xác định phải tuân thủ các yêu cầu liên quan đến các tiêuchuẩn về môi trường, xã hội và kinh tế
+Chain of Custody Certificate (FSC-CoC) - Chứng nhận Chuỗi hành trình sản phẩm: yêu cầu các tổ chức chứng minh các sản phẩm gỗ được giao dịch
từ các nguồn gốc được chứng nhận, các sản phẩm này có thể được sử dụng nhãnFSC và dấu chứng nhận của Tổ chức chứng nhận
+ Chain of Custody/Control Wood Certificate (FSC-CoC/CW) - Chứng nhận Chuỗi hành trình sản phẩm FSC/Đánh giá nguồn gốc gỗ có kiểm soát FSC:
yêu cầu các tổ chức chứng minh các sản phẩm gỗ được giao dịch từ các nguồn gốcđược chứng nhận FSC và các nguồn gốc gỗ có kiểm soát FSC, các sản phẩm này cóthể được sử dụng nhãn FSC và dấu chứng nhận của Tổ chức chứng nhận
Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) là con đường mà nguyên liệu thô từ rừngphải trải qua để đến với người tiêu dùng, bao gồm những giai đoạn liên tục của việcchế biến, vận chuyển, sản xuất và phân phối Là quá trình nhận dạng gỗ từ khu rừngđược chứng nhận cho tới khi sản phẩm được gắn nhãn Mục đích của Chuỗi hànhtrình sản phẩm là nhằm cung cấp các chứng cứ xác thực về việc sản phẩm gỗ đượcchứng nhận đã sản xuất từ các nguồn nguyên liệu được chứng nhận Các tiêu chuẩnFSC áp dụng cho chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm FSC- CoC hiện đang ápdụng, như:
- FSC-STD-40-004 tiêu chuẩn chuỗi hành trình sản phẩm của FSC áp dụng
cho nhà sản xuất
- FSC-STD-40-005 tiêu chuẩn Gỗ có kiểm soát áp dụng cho các công ty COC
- FSC-STD-30-010 tiêu chuẩn Gỗ có kiểm soát áp dụng cho nhà quản lý rừng
- FSC-STD-40-020 các yêu cầu về dán nhãn trên sản phẩm của FSC
Trang 14Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế (ITTO) đã thừa nhận FSC “Gần như là chương trình duy nhất về gắn nhãn hiệu và ủy quyền đối với lâm phẩm trên toàn thế giới”
Hiện nay, số chứng chỉ rừng và chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) đã được cấp
ở các Châu lục theo các quy trình chứng chỉ với số lượng như sau:
* Tại Châu Âu
+ Quy trình FSC: Đến tháng 11 năm 2005 diện tích rừng do FSC cấp chứng
chỉ ở Châu Âu đã lên đến 34.150.976 ha với 327 giấy chứng chỉ, chủ yếu là rừngtrồng và rừng nửa tự nhiên, trong đó Đức, Lít-va, Thụy sỹ, Anh, Thụy điển là nhữngnước đứng đầu về số diện tích được cấp chứng chỉ Về chứng chỉ CoC do FSC cấp:hiện có 2.566 giấy chứng chỉ, trong đó Đức, Anh, Ba lan và Hà lan là những nước
có số chứng chỉ cao nhất trong các quốc gia Châu Âu
+ Quy trình PEFC: có 57.804.810 ha rừng được cấp chứng chỉ Trong đó
Phần lan, Đức, Na Uy và Thụy điển là những nước có diện tích rừng được PEFCcấp chứng chỉ cao nhất
* Tại Bắc Mỹ
+ Quy trình FSC: Châu Mỹ đến thời điểm tháng 12 năm 2005, diện tích rừng
được FSC cấp chứng chỉ là 29.252.921 ha với 332 chứng chỉ, trong số này Canadadẫn đầu với 15.231.115 ha và 26 giấy chứng chỉ, tiếp theo là Mỹ với 5.671.251 ha
và 97 chứng chỉ và Braxin với 3.455.582 ha và 60 chứng chỉ Các diện tích đượccấp chứng chỉ cũng chủ yếu là rừng trồng và rừng nửa tự nhiên Về chứng chỉ CoC,hiện Châu Mỹ có 941 giấy chứng nhận trong đó Mỹ dẫn đầu với 475 giấy, tiếp sau
đó là Chi Lê và Braxin
+ Quy trình PEFC: Chỉ có Canada được cấp chứng chỉ với 70.918.506 ha rừng + SFI: Hiện có 56.430.012 ha rừng tham gia chương trình QLRBV SFI để
được cấp chứng chỉ tại Mỹ
* Tại Nam Mỹ
+ Quy trình FSC: Có tổng số hơn 7 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ FSC,
trong đó Bolivia, Braixin là 2 quốc gia có diện tích rừng được cấp CCR lớn nhất,chủ yếu là rừng trồng và rừng nửa tự nhiên Hiện nay Braxin, Bolivia, Costa Rica,Uruguay, Guatêmala là các quốc gia xuất khẩu một khối lượng lớn nhất thế giới gỗ
có chứng chỉ FSC, mà Việt Nam là một trong những thị trường nhập khẩu lớn nhất
+ Quy trình PEFC: Có 1,55 triệu ha rừng ở Chi lê được cấp chứng chỉ PEFC
* Tại Châu Á - Thái Bình Dương
+ Quy trình FSC: Châu Á - Thái Bình Dương hiện có 63 giấy chứng chỉ FSC
cho 2.577.151 ha rừng, trong số đó Úc, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản Australia
và New Zealand là những quốc gia dẫn đầu về diện tích và số chứng chỉ được cấp
Trang 15Số giấy chứng chỉ CoC do FSC cấp tại Châu Á - Thái Bình Dương là 702, trong đódẫn đầu là Nhật bản với 289 CoC và Việt Nam là 86 giấy chứng chỉ CoC, tiếp đó làMalaysia với 58 chứng chỉ.
Một số nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia cũng đã xây dựng các quytrình CCR quốc gia, đồng thời họ cũng đã có một số khu rừng tự nhiên được FSCcấp chứng chỉ Ngoài ra các nước khác như Papua Niu- Ghi nê, Quần đảo Solomoncũng đã có nhiều khu rừng được cấp chứng chỉ, mà hiện cung cấp khá nhiều gỗ cóchứng chỉ FSC cho các doanh nghiệp sản xuất đồ mộc xuất khẩu của Việt Nam Cácnước khác như Thái Lan cũng có một vài diện tích rừng nhỏ được FSC cấp chứngchỉ gần đây
+ Quy trình PEFC: Chỉ có Úc với 5,166 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ
PEFC (tính đến tháng 11 năm 2005)
* Tại Châu Phi
Ở Châu Phi tính có 1.690.281 ha được cấp chứng chỉ FSC, với 33 giấy chứngchỉ, chiếm 2% tổng số diện tích rừng được FSC cấp chứng chỉ trên thế giới, trong
đó Nam Phi đứng đầu có 1.426.362 ha với 23 chứng chỉ, sau đó là Zim-Ba -Uê với
127 ngàn ha Về chứng chỉ CoC, ở Châu Phi hiện tại có 120 chứng chỉ, trong đóNam Phi dẫn đầu với 107 chứng chỉ CoC Châu Phi cho đến nay không có rừngđược chương trình PEFC cấp chứng chỉ [1]
Như vậy, nhờ xu hướng tẩy chay các sản phẩm gỗ không được quản lý bềnvững mà hàng loại các tổ chức Quản lý rừng bền vững đã ra đời và có các phạm vihoạt động khác nhau trên thế giới và đề xuất các tiêu chuẩn quản lý rừng với cáctiêu chí khác nhau, song mọi tiêu chuẩn đều được đề xuất đòi hỏi tính bền vững của
3 lĩnh vực: Kinh tế, Xã hội, Môi trường Trong đó, FSC là tổ chức được đánh giá là
có uy tín nhất và chứng chỉ FSC được mọi thị trường chấp nhận
1.1.2.2 Chuỗi hành trình sản phẩm (Chain of Custody - CoC)
Yếu tố quyết định để người tiêu dùng ở các nước lựa chọn một sản phẩm gỗchế biến không chỉ là chất lượng hay mẫu mã mà còn là xuất xứ của nguồn nguyênliệu tạo ra sản phẩm đó Đây là xu hướng của người tiêu dùng thế giới, đối tượngchính của sản phẩm gỗ và cũng là mối quan tâm hàng đầu hiện nay của nhiều doanhnghiệp chế biến gỗ Đã có hơn 300 người hoạt động về môi trường kéo đến biểutình ôn hoà trong một Hội chợ gỗ Quốc tế được tổ chức ở Đức Những người nàykêu gọi người tiêu dùng trên thế giới không ủng hộ và sử dụng những sản phẩm gỗkhông có chứng chỉ FSC, thay vào đó nên chọn những sản phẩm thân thiện với môitrường Đây là hình ảnh làm nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ ở các nước lo ngại vìnếu không có chứng chỉ FSC thì người tiêu dùng sẽ tẩy chay sản phẩm của họ
Trang 16Từ một cây gỗ, để có thể trở thành một thành phẩm gỗ cần phải trải qua nhiềubước, bao gồm: từ khai thác, chế biến, sản xuất sơ cấp và thứ cấp, phân phối và tiêuthụ Quá trình này được gọi là chuỗi hành trình sản phẩm Bằng cách kiểm địnhtừng bước trong quá trình này, chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) đảm bảovới khách hàng rằng các sản phẩm đã được chứng chỉ mà họ mua thực sự có nguồngốc từ một khu rừng đã được chứng chỉ Hiện có hơn 8.000 sản phẩm trên khắp thế
giới có mang biểu trưng của chứng chỉ rừng FSC (Hội đồng quản trị rừng thế giới)
từ cửa gỗ đến lược chải đầu, từ văn phòng phẩm đến giấy toilet Ngày nay, mạnglưới lâm sản toàn cầu, một nhóm các tổ chức và công ty cam kết sản xuất và buônbán gỗ và lâm sản đã được chứng chỉ, đã có mạng lưới ở 18 quốc gia khác nhau trênkhắp thế giới với hơn 600 thành viên Các mạng lưới bán lẻ rất lớn từ Anh và Mỹcũng hoạt động với vai trò xúc tác cho những thay đổi bởi họ đang gia tăng yêu cầucung cấp gỗ đã được chứng chỉ
Bước đầu tiên cho một công ty muốn thực hiện chứng chỉ chuỗi hành trình sảnphẩm là phải xác định tất cả điểm kiểm soát gỗ tập kết (CCP’s) Điểm kiểm soát gỗtập kết là điểm mà gỗ nguyên liệu đã được chứng chỉ và chưa được chứng chỉ cókhả năng bị trộn lẫn với nhau Ở mỗi điểm đã xác định sẽ cần sự kiểm soát để đảmbảo rằng gỗ sẽ không bị trộn lẫn Cách thức mà CCp’s có thể ngăn cản được việctrộn lẫn gỗ đã được chứng chỉ và chưa được chứng chỉ là thông qua việc kết hợpxác nhận và xác minh gỗ, phân loại gỗ và chứng từ phù hợp, cùng với việc đào tạochuyên môn đầy đủ Hướng dẫn chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm thay đổi tùytheo các cơ quan cấp chứng chỉ khác nhau và các chi tiết cần dẫn chiếu đến các cơquan cấp chứng chỉ có liên quan Do đó, mục tiêu của việc chứng chỉ chuỗi hànhtrình sản phẩm là cung cấp bằng chứng rằng sản phẩm được chứng chỉ có nguồngốc từ các khu rừng đã được cấp chứng chỉ và quản lý tốt và xác minh rằng các sảnphẩm đó không lẫn lộn với các sản phẩm từ các khu rừng chưa được chứng chỉ ởbất kỳ điểm nào của chuỗi cung cấp, trừ phi dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của cơchế nhãn sinh thái tỷ lệ (%) mà sản phẩm đang được áp dụng Nhãn sinh thái dựatrên tỷ lệ là một cơ chế mà lâm sản chỉ chừa một tỷ lệ nhỏ nguyên liệu gỗ đượcchứng chỉ vẫn có thể được dán nhãn nêu lên rằng chúng có nguồn gốc từ các khurừng được quản lý tốt Cơ quan chứng chỉ được ủy nhiệm đang tiến hành hoặc quản
lý chương trình chứng chỉ này sẽ đưa ra hướng dẫn và giới hạn về các tuyên bố nàytrên nhãn sinh thái Vì vậy, chuỗi hành trình sản phẩm được coi là công cụ chủ yếuđấu tranh với việc khai thác gỗ bất hợp pháp và buôn bán gỗ lậu, đồng thời đượcdùng để tăng cường hiệu lực luật lâm nghiệp, bảo đảm rằng tất cả quyền lực chínhphủ và thuế đã được áp dụng và để chứng tỏ rằng các sản phẩm được dán nhãn có
Trang 17nguồn gốc từ các khu rừng đã được cấp chứng chỉ ở trong khuôn khổ hệ thốngchứng nhận tự nguyện rừng.
Liên minh Châu Âu EU gần đây giới thiệu 1 hệ thống giấy phép như một phầncủa công tác tăng cường hiệu lực luật rừng, sáng kiến hành chính và thương mại(FLEGT) Theo hệ thống này nhập khẩu gỗ vào EU phải chứng minh nguồn gốc
hợp pháp (xác định bởi các nước xuất khẩu trên cơ sở luật pháp hiện hành) Do
vậy, dây chuyền cung cấp sản phẩm gỗ từ rừng thông qua việc vận chuyển, lưu kho
và chế biến cần được công khai và kiểm tra tới tận biên giới của EU
Phần lớn các nước nhiệt đới dùng hệ thống theo dõi hành trình dựa trên giấy
tờ thông thường với các nhãn vật lý trên sản phẩm gỗ, nhưng gần đây các hệ thốngthuận lợi hơn đã được phát triển chứng tỏ tính hiệu quả và đáng tin cậy của dâychuyền cung cấp
Hình 1.1 Sơ đồ Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC)
(Nguồn: cẩm nang lâm nghiệp 2006)
Hệ thống chuỗi hành trình sản phẩm của FSC có 5 yêu cầu: về hệ thống chấtlượng; về nguồn cung cấp; kiểm tra sản xuất, ghi chép và dán nhãn sản phẩm Hiệnnay trên thị trường có một số hình thức CoC, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu mà
doanh nghiệp sở hữu (mua vào và xuất ra) Hình thức CoC được lựa chọn sẽ quyết
định việc xây dựng và thực hiện hệ thống CoC cho doanh nghiệp đó Quy trình FSC
có hai hình thức CoC chính là:
- Doanh nghiệp sử dụng 100 % nguyên liệu có chứng chỉ FSC
- Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có sử dụng một tỷ lệ % nguyên liệu chưa
có chứng chỉ FSC trộn lẫn với nguyên liệu đã có chứng chỉ FSC
Tuy nhiên, cho dù đơn vị sản xuất 100% gỗ có nguồn gốc FSC và sản xuấtriêng gỗ không có chứng chỉ FSC thì việc xác nhận và truy tìm nguồn gốc(identification and traceability) vẫn phải bắt buộc được thực hiện, cụ thể:
Trang 18Hệ thống kiểm tra đối với quá trình sản xuất sử dụng 100% nguyên liệu
có chứng chỉ: Hệ thống bảo đảm tại mỗi khâu quan trọng đã được xác định trong
dây chuyền là việc sử dụng cách thức để riêng rẽ, đánh dấu và ghi chép lập tài liệu
sẽ không để xảy ra sự lẫn lộn giữa 2 loại nguyên liệu và sản phẩm có và chưa cóchứng chỉ
Hệ thống kiểm tra đối với quá trình sản xuất sử dụng nguyên liệu pha trộn: đối với quá trình sản xuất sản phẩm có sử dụng tỷ lệ phần trăm nguyên liệu
chưa có chứng chỉ thì việc kiểm tra nguyên liệu có chứng chỉ từ nơi nó được phatrộn với nguyên liệu chưa có chứng chỉ, cũng cần tinh toán chính xác tỷ lệ phầntrăm nguyên liệu pha trộn trong sản phẩm Trong thực tế sẽ có thể có 3 trường hợpxảy ra
- Tỷ lệ phần trăm cho một loại sản phẩm: nghĩa là trong một loại sản phẩm sẽ
có sự pha trộn của 2 loại nguyên liệu, việc theo dõi kiểm tra cần được tiến hànhtrong toàn bộ dây chuyền Tỷ lệ phần trăm trong mỗi sản phẩm cũng cần được tínhtoán dựa vào khối lượng hoặc trọng lượng của nguyên liệu có chứng chỉ được sửdụng trong dây chuyền sản xuất loại sản phẩm đó
- Tỷ lệ phần trăm trong cả dây chuyền: việc kiểm tra này cũng được yêu cầu
cho các khâu nơi mà nguyên liệu có chứng chỉ được đưa vào dây chuyền sản xuất.Nếu việc kê khai, đăng ký dán nhãn cho sản phẩm chỉ rõ một tỷ lệ phần trăm tốithiểu của nguyên liệu có chứng chỉ trong sản phẩm thì việc kiểm tra cần phải đảmbảo được tỷ lệ này trong dây chuyền Tỷ lệ phần trăm của nguyên liệu có chứng chỉcho từng lô hàng được dựa trên tỷ lệ nguyên liệu được dùng để sản xuất trong lôhàng đó
- Tỷ lệ phần trăm nguyên liệu đầu vào - tỷ lệ sản phẩm đầu ra: áp dụng hình
thức này thì yêu cầu của việc kiểm tra là cho khối lượng nguyên liệu có và chưa cóchứng chỉ được đưa vào sản xuất, để tạo cơ sở cho việc tính toán tỷ lệ sản phẩm sẽđược dán nhãn là “có chứng chỉ”
Việc kiểm tra kỹ hơn và cần nhiều văn bản hơn xảy ra ở cả nơi xuất và nhậpkhẩu gỗ bao gồm cả sự kiểm tra của viên chức Hải quan Việc kiểm tra đo lườngngặt nghèo và văn bản tại chỗ có thể theo dõi gỗ từ nguồn gốc rừng hoặc thậm chí
từ nguồn gốc cây theo phương thức hiệu quả và minh bạch
ITTO hiện đang tiếp tục hỗ trợ các nước sản xuất tìm kiếm các phương phápcải tiến phù hợp luật pháp được củng cố Các công ty gỗ nên được khuyến khíchgiới thiệu các hệ thống kiểm tra chuỗi hành trình của riêng mình, nhưng điều nàycòn đòi hỏi chính phủ thiết lập hoặc cải tiến cơ cấu kiểm tra và giám sát
Trang 191.1.3 Lập kế hoạch quản lý rừng
Việc lập kế hoạch quản lý rừng (KHQLR) là một hoạt động không thể thiếutrong QLRBV, là công việc đầu tiên cần tiến hành trước khi thực hiện quản lý mộtkhu rừng Trong bộ tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững của FSC có 10 tiêu chuẩn
và 56 tiêu chí thì việc lập kế hoạch quản lý rừng được quy định tại tiêu chuẩn 7 nhưsau: Có kế hoạch quản lý phù hợp với quy mô và cường độ hoạt động lâm nghiệp, vớinhững mục tiêu rõ ràng và biện pháp thực thi cụ thể và được thường xuyên cập nhật
Hội nghị thượng đỉnh về trái đất của UNCED năm 1992 nhận định “Nguồn tài nguyên rừng và đất rừng chỉ được quản lý bền vững khi đáp ứng được nhu cầu về kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần của loài người trong thời điểm hiện tại và cho
cả các thế hệ mai sau”.
QLRBV đòi hỏi một phương pháp lập kế hoạch quản lý rừng lồng ghép vàviệc giám sát chặt chẽ các hoạt động lâm nghiệp Bao gồm các nhiệm vụ chính như:+ Đánh giá tiềm năng nguồn rừng
+ Khảo sát chuyên đề: đa dạng sinh học (động, thực vật) và đánh giá tác động
về mặt xã hội để xác định vùng có giá trị bảo tồn cao
+ Lập bản đồ chức năng rừng dựa trên các kết quả khảo sát chuyên đề và ảnh
+ Thực hiện và giám sát kế hoạch từng lô
+ Đánh giá nội bộ các hoạt động lâm nghiệp và đánh giá tiến độ thực hiện giữa kỳ + Đánh giá độc lập về tính bền vững
1.2 Ở VIỆT NAM
1.2.1 Phát triển bền vững và phương thức QLRBV ở Việt Nam
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào những nămcuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưngđược giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh chóng Đã có hàng loạt công trình nghiêncứu liên quan được tiến hành như "Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trungtâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội Công trình này đã tiếp thu
và thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiếntrình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt
Trang 20nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật "Nghiên cứu xâydựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) doViện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuậtViệt Nam tiến hành Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững củaBrundtland và kinh nghiệm các nước, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể vềphát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội vàbền vững môi trường Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêuchí phát triển bền vững cho Việt Nam "Quản lý môi trường cho sự phát triển bềnvững" (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quanđiểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững
Nhìn chung các công trình nghiên cứu này có một điểm chung là thao tác hoákhái niệm phát triển bền vững theo Brundtland, tuy nhiên những thao tác này cònmang tính liệt kê, tính thích ứng của các chỉ báo với thực tế Việt Nam, cụ thể là ởcấp độ địa phương, vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vẫnchưa được làm rõ
Đối với ngành lâm nghiệp, khái niệm “bền vững” được thế giới bắt đầu sửdụng từ những năm đầu thế kỷ 18 để chỉ lượng gỗ lấy ra khỏi rừng không vượt quálượng gỗ mà rừng có thể sinh ra, tạo tiền đề cho quản lý rừng bền vững sau này thì
ở Việt Nam mãi đến cuối thế kỷ 20 mới dùng khái niệm “Điều chế rừng” để quản
lý, kinh doanh lâm nghiệp với hy vọng sản lượng rừng được duy trì ở những lầnkhai thác tiếp theo Phương án điều chế rừng đầu tiên của Việt Nam (được thực hiện7/1989) là Phương án điều chế rừng lâm trường Mã Đà (Đồng Nai) với sự trợ giúpcủa chuyên gia nước ngoài (Dự án VIE/82/002 do UNDP/FAO trợ giúp) Nhiệm vụchính là xây dựng một mẫu phương án tiêu chuẩn; hướng dẫn lập kế hoạch điều chế
và đưa ra những đề xuất cho việc điều chế rừng lâm trường Mã Đà Cho đến nay,ngành lâm nghiệp vẫn đang dùng thuật ngữ “Điều chế rừng”, coi nó như một công
cụ, một phương pháp truyền thống để quản lý của các chủ rừng Nghĩa là, tất cả cácchủ rừng cho đến nay đều quản lý rừng theo cách lập phương án điều chế được thựchiện theo những quy định tại Quyết định 40/2005/QĐ-BNN, ngày 7/7/2005 của BộNN-PTNT về Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác [7]
Khái niệm quản lý rừng bền vững đến nay đối với cả cán bộ lâm nghiệp vẫncòn khá mơ hồ về mục đích và các hoạt động của quản lý rừng bền vững Qua kếtquả điều tra mới đây của ORGUT cho thấy: có 85% số người được phỏng vấn trảlời là có biết về thuật ngữ Quản lý rừng bền vững Nhưng khi được hỏi tiếp là:Những hoạt động chính để tiến tới quản lý rừng bền vững là gì? thì có tới 75% trong
số đó trả lời là không biết (theo Báo cáo Đánh giá nhu cầu đào tạo về quản lý rừng
Trang 21bền vững của Việt Nam do ORGUT thực hiện trong khuôn khổ Chương trình quản
lý bền vững rừng tự nhiên và tiếp thị lâm sản - GTZ tài trợ).
Như trên đã nêu, Chứng chỉ rừng đã được các nước trên thế giới biết đến và sửdụng từ gần 20 năm nay, trong khi đó ở Việt nam hiện nay khái niệm nay đang còn
là rất mới mẻ với cán bộ, người dân hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp Vì vậytrong chiến lược LNQG 2006-2020 chương trình QLRBV là chương trình đượcphân kỳ thành giai đoạn 2006-2010, 2011-2020 và xác định từng bước đi cho tới kếtquả đạt chứng chỉ cho các đơn vị quản lý rừng sản xuất theo một lộ trình xác địnhtrong từng kế hoạch 5 năm Đây là chương trình rất cơ bản để đưa quản lý lâmnghiệp Việt Nam vào ổn định, hiệu quả, đem lại không chỉ lợi ích kinh tế rõ rệt chochủ rừng mà còn đảm bảo ổn định diện tích, chất lượng rừng cùng các lợi ích môitrường, xã hội cho cộng đồng và quốc gia trong quá tình hội nhập quốc tế
Tiến trình QLRBV vẫn đang tiến triển và đã vào giai đoạn không thể chậmchễ so với các nước bạn bè ASEAN cả vệ bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, mà cònphải nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường xuất khẩu hàng hoá chế biến
1.2.2 Tổ công tác quốc gia quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
Ngay khi Việt Nam gia nhập khối ASEAN từ 1995 nhu cầu hợp tác vềQLRBV trong khối trở thành một trong các nội dung chính của các cuộc họp hàngnăm của các chuyên gia cao cấp về lâm nghiệp (ASOF) Qua nhiều cuộc thảo luận
về việc làm sao xây dựng được một bộ tiêu chuẩn QLRBV cho ASEAN và đẩymạnh việc QLRBV trong mỗi nước thành viên, thì nhu cầu hình thành một tổ chức
để xúc tiến quá trình này ở Việt Nam trở nên bức xúc Sau một thời gian chuẩn bị,tháng 12/1998 một hội thảo quốc gia về QLRBV do Bộ NN & PTNT, Quỹ quốc tế
về bảo vệ thiên nhiên (World Wide Fund for Nature - WWF), Đại sứ quán vươngquốc Hà Lan tại Hà Nội và Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) đồng tài trợ và tổchức tại TP.HCM Trong hội thảo đã có nhiều báo cáo, thảo luận về khái niệmQLRBV, đánh giá hiện trạng về rừng và quản lý sản xuất lâm nghiệp tại Việt Nam
Hội thảo đã thành lập một Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR (NWG) (nay là Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng) và đề xuất một chương trình hoạt
động trong 5 năm đầu tiên Các đại biểu đã đi tham quan tình hình sản xuất và quản
lý của Lâm trường Tân Phú, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên và khu rừng phòng hộCần Giờ
NWG ban đầu do Cục Phát triển lâm nghiệp quản lý, nhưng từ năm 2001 doHội KHKTLN quản lý NWG liên tục mở rộng và củng cố về tổ chức phù hợp vớihướng dẫn của FSC, gồm 3 ban: kinh tế, môi trường và xã hội, với sự tham gia rấtrộng rãi của các thành viên từ các cơ quan, đoàn thể và nhiều nhà khoa học, nhà
Trang 22quản lý ở Trung ương và địa phương đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu Năm 2002,
có 10 người trong của NWG đã trở thành thành viên của FSC quốc tế FSC cũng đã
cử 1 thành viên làm Đại diện cho FSC quốc tế tại Việt Nam, gọi là ”Đầu mối quốcgia (Contact Person)” Kinh phí hoạt động của NWG thu hút từ các nguồn tài trợkhông cố định như hỗ trợ ban đầu của Đại sứ quán Hà Lan, FSC quốc tế, dự án cảicách hành chính lâm nghiệp (REFAS), WWF Đông Dương và 1 dự án nhỏ thựchiện trong 2 năm 2002 - 2003 do Quỹ Ford (The Ford Foundation RepresentativeOffice for Vietnam and Thailand) tài trợ Giai đoạn 5 năm đầu các hoạt động củaNWG tập trung vào các nội dung:
a) Tuyên truyền, phổ cập, giới thiệu về QLRBV
b) Xây dựng Bộ tiêu chuẩn FSC Việt Nam về QLRBV và CCR
c) Khảo sát tình hình QLR tại các đơn vị và đánh giá tính khả thi của các chỉ
số của Bộ tiêu chuẩn FSC Việt Nam do NWG dự thảo trên cơ sở 10 tiêu chuẩn và
dự án hỗ trợ kỹ thuật cho một số chủ rừng xây dựng mô hình CCR Từ năm 2004,các tổ chức này đã đẩy mạnh các hoạt đông theo từng chương trình riêng trong việc
hỗ trợ các đơn vị quản lý rừng (thường là đơn vị lâm trường) tiếp cận các tiêu chuẩnQLRBV của FSC, trong khi NWG gặp khó khăn về nguồn tài trợ nên phải giảmthiểu hoạt động để tổ chức lại NWG đã liên tục tổ chức một loạt hoạt động tuyêntruyền phổ cập về QLRBV như:
- Các hội nghị, hội thảo về nhận thức và lập kế hoạch quản lý rừng: Vùng miềnTrung, Huế 12-1999; tỉnh Nghệ An - Vinh 2000; QLR và chế biến gỗ Miền NamTrung bộ - Quy Nhơn 2001; Tây Nguyên - Buôn Mê Thuột 2001; Tây Nguyên ,Gia Lai 2002; Hội thảo quốc gia chỉnh sửa tiêu chuẩn lần 7- Hà nội 2003; và lần 8 -
Hà Nội 2005
- Tuyên truyền phổ cập QLRBV và CCR trên các phương tiện truyền thôngnhư báo chí, Radio, TV, và trong nhiều hội nghị hội thảo về nông nghiệp, lâmnghiệp, môi trường, dân tộc, miền núi,…
- Nói chuyện ngoại khoá và phổ cập kiến thức quản lý rừng cho các lớp caohọc của Đại học lâm nghiệp Xuân Mai, Đại học Tây Nguyên, và cùng chuyên giaGFA Terra phổ cập kiến thức cho các dự án trồng rừng do KfW tài trợ
Trang 23Cùng với các hoạt động khảo sát nhằm phổ cập nhận thức cho các thành viêncủa NWG và các cổ đông như chủ rừng, quan chức quản lý lâm nghiệp cấp trungương và cấp tỉnh, NWG cũng đã thực thi một số chương trình hỗ trợ chứng chỉ rừngsau đây:
- Dự án điều tra xây dựng kế hoạch QLRBV tại huyện Kon-Plong (Kontum)2000- 2002 do JICA tài trợ trên 2 triệu USD, đã kết thúc năm 2003 Hiện nay giaiđoạn 2 nhằm tăng cường các hoạt động khuyến nông khuyến lâm và xây dựng môhình quản lý rừng cho cộng đồng, đã bắt đầu triển khai từ 2005 với kinh phí trên 1triệu USD
- Dự án hỗ trợ cải thiện quản lý rừng ở lâm trường Hà Nừng và lâm trường Sơpai (Gia Lai) do WWF Đông dương tiến hành 2003 - 2005 với số vốn 490 nghìnUSD do Thuỵ Sĩ tài trợ
- Chương trình hỗ trợ QLRBV và CCR của dự án GTZ/REFAS đối với 2 lâmtrường Ma- Drak và NamNung (Đắc Lắc) 2005 Từ 2006 mở rộng ra Quảng Bình,Ninh Thuận, Yên Bái với kinh phí 4,5 triệu Euro cho 4 hợp phần, trong đó có hợpphần hỗ trợ QLRBV và CCR mà chưa xác định vốn cho mỗi hợp phần
- Một phong trào rộng rãi các cơ sở chế biến lâm sản xuất khẩu, đặc biệt là tạicác tỉnh Nam bộ, các tỉnh duyên hải Nam trung bộ và Tây Nguyên đã tự nâng cấpquản lý dây chuyền công nghệ từ nguyên liệu gỗ đến sản phẩm cuối cùng Từ 2002đến nay đã có 84 cơ sở đạt chứng chỉ CoC
- Kế hoạch hỗ trợ CCR và tiếp thị của Quỹ rừng nhiệt đới (TFT) tại Việt Namkhông công bố thành một chương trình mà chỉ hỗ trợ từng phần và cho từng đơn vịQLR như tại Lâm trường Trường Sơn (Long Đại, Quảng Bình), Công ty lâm nghiệp
Hộ trồng rừng thuộc Chi hội đã đáp ứng được các tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam
ở các mức độ khác nhau Mặt khác các khiếm khuyết trong quản lý rừng có thể khắcphục được, tuy nhiên một số tiêu chí và chỉ số trong quản lý chưa phù hợp với chủrừng, nên việc sử dụng nó để đánh giá còn có chênh lệch Bên cạnh đó thông quađánh giá, Viện cũng đưa ra được các biện pháp khắc phục các khiếm khuyết
Ngay sau khi được thành lập, NWG đã ưu tiên việc dự thảo Bộ tiêu chuẩnFSC Việt Nam (P&C&I VN) để làm căn cứ đánh giá và cấp chứng chỉ rừng cho cácđơn vị QLR tại Việt Nam Có hai hoạt động được thực hiện song song:
Trang 24- Phối hợp với các nước ASEAN xây dựng bộ tiêu chuẩn chung cho các nướcASEAN trên cơ sở 7 tiêu chí của ITTO Hội nghị cấp Bộ trưởng năm 2001 tạiPhnom-penh Song bộ tiêu chuẩn này kém khả thi trong thực tế vì ITTO chỉ đề xuất
7 tiêu chí QLRBV mà không phải là quy trình chứng chỉ nên chỉ có thể áp dụng đểthẩm định, đánh giá mức độ QLRBV mà không có hiệu lực CCR quốc tế
- Quá trình dự thảo P&C&I Việt Nam trên cơ sở các tiêu chuẩn và tiêu chí củaFSC cũng được tiến hành ngay từ khi thành lập bằng cách hàng năm vừa dự thảo,vừa khảo sát áp dụng thử và chỉnh sửa trong 8 lần Bản dự thảo được chỉnh sửa lầnthứ 8 cũng đã nhận được nhận xét, đánh giá bằng văn bản của các cơ quan chínhphủ, các đoàn thể và các tổ chức quốc tế liên quan đang hoạt động tại Việt Nam.P&C&I Việt Nam dự thảo tuân thủ 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí của FSC và đã có 147chỉ số được đề xuất để thể hiện các tiêu chí và để kiểm tra đánh giá mức độ phù hợpcủa tiêu chuẩn đối với thực tiễn QLR ở Việt Nam Các chỉ số đề xuất này đã xemxét tới tính phù hợp với các cơ sở pháp luật, chính sách và điều kiện thực tiễn ViệtNam Mặc dù bộ tiêu chuẩn dự thảo năm 2004 được sự nhận xét và đồng tình từ 14
cơ quan tổ chức hữu quan, nhưng nó chưa được trình FSC để xem xét và phê duyệt.Tuy vậy P&C&I VN đã được WWF Đông Dương, TFT, Viện Điều tra quy hoạchrừng và dự án REFAS tham khảo sử dụng khi hỗ trợ các lâm trường thực hiện
QLRBV và cũng đã được NWG sử dụng để đánh giá QLR ở 4 chủ rừng (Lâm trường Con Cuông, Công ty Lâm công nghiệp Long Đại, Công ty lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn, Xí nghiệp trồng rừng tư nhân 327 Đỗ Thập, Yên Bái) được
chọn để xây dựng mô hình QLRBV
Đến nay, Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng đã xây dựng xong bộtiêu chuẩn số 9C gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí dựa trên bộ tiêu chuẩn của FSC làmcăn cứ để các chủ rừng tự đánh giá và khắc phục những khiếm khuyết trong quản lýrừng để có thể đề xuất các tổ chức cấp chứng chỉ rừng quốc tế đến đánh giá, cấpchứng chỉ rừng Tuy nhiên, FSC cũng chỉ rõ là tất cả các bộ tiêu chuẩn quốc gia kể
cả khi đã được FSC công nhận và áp dụng vẫn cần được xem xét sửa đổi bổ sungthường xuyên cho phù hợp với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội và trạngthái rừng Bộ tiêu chuẩn này nhằm giúp cho các đơn vị và cá nhân quan tâm đếnquản lý rừng có được các nhận thức cơ bản thế nào là một đơn vị quản lý rừng đạtđến mức quản lý bền vững theo các tiêu chuẩn quốc tế
Gần đây, hàng loat đơn vị quản lý rừng tự nhiên và trồng rừng sản xuất, rấtnhiều công ty, xí nghiệp chế biến xuất khẩu lâm sản đang có nhu cầu tự nguyệntham gia quá trình QLRBV và yêu cầu SFMI hướng dẫn, hỗ trợ, tư vấn để tự đánhgiá năng lực quản lý rừng, năng lực giám sát chuỗi hành trình, song tính tới tháng
Trang 255/2010, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ mới chỉ được cấp gần 205 chứngchỉ CoC, nhưng mới chỉ có 1 chứng chỉ FSC về QLRBV Đó là Công ty TNHHtrồng rừng Quy Nhơn với 9781 ha đất lâm nghiệp phân bố tại 8 huyện của tỉnh BìnhĐịnh, một tỉnh duyên hải miền trung của Việt Nam
Để hướng đến một nền lâm nghiệp bền vững, trong những năm gần đây Đảng
và Nhà nước cũng tích cực sửa đổi và ban hành nhiều chủ trương, chính sách có tácđộng mạnh tới việc phát triển lâm nghiệp bền vững, như: Luật đất đai, năm 2003;Luật bảo vệ và phát triển rừng, năm 2004; Luật bảo vệ môi trường, năm 2005; Đặcbiệt là Quyết định số 18/2007/QĐ- TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng chính phủ
đã phê duyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020, trong đó cómột Chương trình ưu tiên phát triển được đặt lên hàng đầu là “Chương trình quản lý
và phát triển rừng bền vững” với mục tiêu phấn đấu tới năm 2020 sẽ tạo ra một lâmphận ổn định gồm các khu rừng chất lượng cao, phân bố hợp lý, trong đó 30% diệntích rừng sản xuất đạt được tiêu chuẩn QLRBV và được cấp chứng chỉ, với tổngkinh phí chương trình dự toán là 23.000 tỷ đồng, tương đương 1,5 tỷ USD và đượcphân kỳ thành 3 kế hoạch 5 năm Tuy nhiên việc phát triển QLRBV và CCR ở ViệtNam đang có những trở ngại như: Trình độ quản lý rừng còn thấp, sự hiểu biết vềQLRBV và CCR còn rất hạn chế cả ở cấp trung ương và địa phương, diện tích nhỏ,phân tán, địa bàn hoạt động khó khăn phức tạp; Lượng gỗ khai thác từ rừng tự nhiên
ít không đủ làm động lực thị trường chứng chỉ rừng, đồng thời cơ chế đầu tư, hỗ trợcủa Nhà nước còn nhiều hạn chế Do đó, chương trình quản lý rừng bền vững củaNhà nước 2006-2020 chỉ có thể đạt được mục tiêu khi các thách thức trên đượcquan tâm giải quyết một cách đồng bộ
1.2.3 Thực trạng công tác lập kế hoạch quản lý rừng ở Việt Nam
Việc lập kế hoạch quản lý rừng ở Việt Nam được thực hiện theo Chỉ thị số
15-LS/CNR, ngày 19/7/1989 của Bộ Lâm nghiệp “Về công tác xây dựng phương án điều chế rừng đơn giản cho các Lâm trường” Đây là một trong bốn chương trình
mục tiêu của ngành Lâm nghiệp đã khởi động và hoàn thành được những công việcquan trọng của giai đoạn xây dựng các tiền đề điều chế: Phân công phân cấp quản lýrừng, phân chia 3 loại rừng, ban hành các qui chế sử dụng rừng, quy phạm kỹ thuậtlâm sinh Giai đoạn tiếp theo là xây dựng cho mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh rừngmột phương án điều chế rừng chính thức, nhưng công việc này đòi hỏi nhiều thờigian và chi phí Để khắc phục khó khăn trên, Bộ ban hành bản quy định xây dựngphương án điều chế rừng đơn giản để các lâm trường có thể tự xây dựng và nhanhchóng có một phương án tổ chức rừng đảm bảo được nguyên tắc cao nhất là sảnxuất lâu dài, liên tục trên cơ sở ổn định vốn rừng, sử dụng hợp lý tài nguyên, có lịch
Trang 26tác nghiệp cụ thể, dễ điều hành, dễ thực thi Trong phương án điều chế rừng của cácLâm trường phải thể hiện 3 nội dung chính sau:
- Phần hiện trạng phải làm rõ các vấn đề: Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế,
xã hội; Hiện trạng sử dụng đất đai và Phương thức quản lý kinh doanh trước đây
- Phần quy hoạch thể hiện được nội dung phân chia các đơn vị sản xuất nhưPhân trường, tiểu khu, khoảnh, lô Xác định được các biện pháp khai thác, trồngrừng, nuôi dưỡng rừng, làm giầu rừng, nông lâm kết hợp cho từng đối tượng Xácđịnh mạng lưới đường vận xuất, vận chuyển
- Phần tác nghiệp thể hiện khái quát trình tự mở mang toàn khu điều chế, cho ýniệm về quá trình định hình và vạch ra sơ đồ toàn cảnh việc sắp xếp tổ chức lại rừng
về sinh vật học và về công nghệ, về sản xuất Nông Lâm Công nghiệp và xây dựng hạtầng cơ sở Trong phần 5 năm đầu phải hình thành các chỉ tiêu kế hoạch hàng nămcủa lâm trường Kế hoạch này được xây dựng trên cơ sở các kế hoạch chi tiết sau:
1 Kế hoạch hàng năm về tác nghiệp lâm sinh (khai thác, làm giầu, cải tạo,trồng rừng) thể hiện bằng khối lượng sản phẩm, khối lượng công việc (ha, công) vàtới từng địa chỉ cụ thể (diện tích từng khoảnh)
2 Kế hoạch sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) và sản xuất NôngLâm kết hợp
3 Kế hoạch lao động (sử dụng tại chỗ, điều chỉnh, thu hút thêm từ nơi khácđến), tỷ lệ lao động sử dụng giữa nông lâm
4 Kế hoạch tài chính và vật tư, tiêu thụ sản phẩm
5 Kế hoạch phát triển các công trình công cộng, xây dựng hạ tầng cơ sở
Kế hoạch sản xuất hàng năm thể hiện được đầy đủ khối lượng công việc (tấnsản phẩm, ha rừng tác động, công lao động ) và vị trí tác động tới địa chỉ từngkhoảnh, tuân thủ sự ổn định về mặt lâm sinh của phương án điều chế đồng thời phảithực sự là một kế hoạch có đầy đủ khả năng thực hiện và cụ thể đến mức trả lờiđược những câu hỏi của người thực hiện: khi nào? làm gì? ở đâu? bao nhiêu ? Tạicác tiểu khu dựa vào tác động trong năm kế hoạch, phải xác minh lại rừng, phânchia thành các khoảnh và lô kinh doanh, thiết kế sản xuất cho từng khâu công việc,
từ đó mới xây dựng được các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất hàng năm cụ thể
Tuy nhiên phương án điều chế rừng đơn giản còn tồn tại những khiếm khuyếttrong việc lập và thực hiện kế hoạch khai thác như: Mới chú trọng quản lý rừng vềmặt kinh tế, còn bền vững về mặt xã hội và môi trường chưa được quan tâm đầy đủ;
Về mặt kỹ thuật, các chỉ tiêu kỹ thuật khai thác mới chỉ được xác định dựa vào kinhnghiệm trong và ngoài nước, chưa được nghiên cứu để có một cơ sở khoa học chắcchắn; Chưa xác định chính xác lượng tăng trưởng rừng và không đủ điều kiện để
Trang 27xác định chính xác tài nguyên rừng (trữ lượng rừng), dẫn đến không xác định được
chính xác lượng khai thác (yếu tố quan trọng bảo đảm khai thác rừng bền vững).
Đặc biệt trong lập kế hoạch chưa chú ý đến xác định các khu vực loại trừ,chưa xácđịa hệ thống đường cho toàn bộ các khu khai thác, mặc dầu đã được quy định tronghướng dẫn xây dựng phương án điều chế Các phương án bảo vệ hệ sinh thái đặcthù, bảo vệ đa dạng sinh học… được xác định rõ ràng
Đến ngày 7/72005, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyếtđịnh số 40/2005/QĐ-BNN, về việc ban hành quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác,trong đó có quy định về xây dựng phương án điều chế rừng (Điều 4-8 Chương 2
Quy chế khai thác) Do vậy, hiện nay nay các chủ rừng đang sử dụng “Điều chế rừng” như một công cụ, một phương pháp truyền thống để quản lý rừng Thực chất
của Phương án điều chế rừng là xây dựng kế hoạch tác nghiệp cụ thể, trong đó đưa
ra thời gian và các biện pháp kỹ thuật thích hợp cho từng khoảnh, tiểu khu trongmột hay nhiều chu kỳ khai thác Tuy nhiên, khi sử dụng “Điều chế rừng” để quản lýrừng cũng bộc lộ nhiều hạn chế nhất định, rõ nét nhất là nội dung phương án điềuchế (Điều 8 của Quyết định 40), chủ yếu là xây dựng kế hoạch khai thác, kinhdoanh rừng từng năm, 5 năm của đơn vị Trong khi đó, hàng loạt các hoạt động liênquan đến mục tiêu bảo vệ môi trường và mục tiêu xã hội lại chưa được Phương ánđiều chế quy định một cách cụ thể Từ đó dẫn đến phương án điều chế rừng hiệnnay của các chủ rừng thường tập trung vào việc đảm bảo mục tiêu kinh tế của rừng,nghĩa là rừng cho nhiều sản phẩm, có năng suất cao và lâu dài liên tục Nên các mụctiêu quan trọng khác như môi trường và xã hội lại chưa được chú ý đúng mức đếntrong phương án điều chế rừng của các đơn vị sản xuất
Khảo sát tình hình tại 5 tỉnh: Hòa Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Đắc Lắc vàNinh Thuận, gần đây cho thấy các đơn vị quản lý cơ sở (lâm trường, công ty lâmnghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ ) chỉ tập trung vào việc lập kế hoạch khai tháchoặc trồng rừng theo các chỉ tiêu kế hoạch được giao từ cấp trên còn các nội dung
xã hội và môi trường thường làm sơ sài Nguyên nhân của tình trạng trên là thiếumột văn bản hướng dẫn lập kế hoạch quản lý rừng bền vững trên cả ba phương diện
kinh tế, xã hội và môi trường cho một đơn vị quản lý rừng cấp cơ sở (Quy phạm thiết kế kinh doanh rừng năm 1984 cũng chỉ hướng dẫn chi tiết về việc lập các kế hoạch tác nghiệp lâm nghiệp) [7]
Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020: Đã khẳng định quanđiểm phát triển lâm nghiệp là: Quản lý, sử dụng và phát triển rừng bền vững là nềntảng cho phát triển lâm nghiệp Các hoạt động sản xuất lâm nghiệp phải dựa trênnền tảng quản lý bền vững thông qua quy hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừngnhằm không ngừng nâng cao chất lượng rừng Đồng thời, trong Chiến lược cũng đã
Trang 28đề ra 5 chương trình hành động, trong đó Chương trình quản lý và phát triển rừngbền vững là Chương trình trọng tâm và ưu tiên số 1
Tất cả những vấn đề trên sẽ là những thách thức đối với các nhà lâm nghiệptrong quá trình chuyển đổi quản lý rừng theo hướng bền vững mà trong đó nghiêncứu để tìm tòi một phương pháp lập kế hoạch quản lý rừng bền vững là bước banđầu rất quan trọng
1.3 Thảo luận
Quản lý rừng bền vững là mục tiêu mà mọi nước đang phấn đấu, sự thực hiện
tự nguyện của chủ rừng, của người sử dụng và buôn bán lâm sản, của cộng đồngdân cư đang sống và hưởng lợi từ rừng Vì vậy, mặc dù QLRBV là cuộc vận độnglớn nhất của ngành lâm nghiệp từ cuối thế kỷ XX và được các tổ chức độc lập quốc
tế như FSC, ITTO vận động hướng dẫn và chứng nhận Song, vai trò của các chínhphủ là rất quan trọng trong từng quốc gia do chính sách khuyến khích QLRBV củamỗi nước khác nhau, và tầm quan trọng của rừng ở mỗi quốc gia có khác nhau CCR
là sự xác nhận khu rừng đã được quản lý bền vững dựa trên các tiêu chuẩn cao vàthống nhất quốc tế về Kinh tế, xã hội và môi trường Chứng chỉ rừng là giải phápkhuyến khích các chủ rừng quản lý bền vững vì ngoài lợi ích quốc gia về đảm bảomôi trường phát triển bền vững và phát triển kinh tế - xã hội, chính chủ rừng đượcđền đáp các chi phí tự nguyên QLRBV Chứng chỉ rừng là hiệu quả cuối cùng củaQLRBV, vì nếu quá trình QLR chưa đạt được các tiêu chuẩn bền vững thì không cóCCR Do đó, hai từ này thường được gắn chặt với nhau
QLRBV và CCR là phương thức quản lý rừng tiên tiến mà thế giới và Việt Namđang hướng tới trong quản lý rừng Mới chỉ trong 15 năm phát động cao trào QLRBV
mà đã có 94 triệu ha rừng đạt chứng chỉ FSC (đến 31-12-2007) và khoảng 140 triệu
ha rừng đạt chứng chỉ rừng của 74 nước trên toàn thế giới Việt Nam, mới trong 10năm từ Tổ công tác quốc gia về QLRBV đã hình thành Viện QLRBV&CCR, đã đưa
ra được các tiêu chuẩn, tiêu chí QLRBV, các yêu cầu về CoC và hàng chục đơn vịquản lý rừng đang trong lộ trình đánh giá, khắc phục các khiếm khuyết trong quản lýrừng để tiến tới được cấp CCR
Chuỗi hành trình sản phẩm là hành trình sở hữu lâm sản từ rừng tới người tiêudùng, bao gồm tất cả các công ty sản xuất, vận chuyển, và phân phối gỗ và các sảnphẩm có liên quan Đạt chứng chỉ CoC là yêu cầu bắt buộc với việc dán nhãn vàbán sản phẩm từ gỗ có chứng chỉ FSC
Từ những nhận thức và tiếp thu các thông tin có liên quan đến QLRBV vàCCR trên sẽ được đề tài vận dụng vào trong quá trình nghiên cứu hỗ trợ cho Công
ty lâm nghiệp Ngòi Sảo đánh giá, khắc phục các khiếm khuyết trong quản lý rừng
để trong tương lai được cấp chứng chỉ rừng
Trang 29Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 MỤC TIÊU
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Giúp Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang thựchiện đánh giá quản lý rừng nhằm tìm ra những lỗi không tuân thủ và giải pháp khắcphục nhằm quản lý rừng bền vững dần từng bước tiến tới chứng chỉ rừng
- Lập được kế hoạch quản lý rừng bền vững trong giai đoạn chu kỳ kinh doanh
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Đánh giá quản lý rừng
- Đánh giá quản lý rừng theo 10 tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam
- Xác định được các lỗi không tuân thủ trong quản lý rừng của Công ty và đề
ra các giải pháp khắc phục khiếm khuyết
2.2.2 Đánh giá quản lý chuỗi hành trình sản phẩm theo hướng dẫn của Việt Nam
- Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) theo hướng dẫn của Việt Nam
- Xác định được các lỗi không tuân thủ trong quản lý chuỗi hành trình sảnphẩm của Công ty và đề ra các giải pháp khắc phục các khiếm khuyết
2.2.3 Đánh giá điều kiện cơ bản và lập kế hoạch QLR cho Công ty
2.2.3.1 Đánh giá các điều kiện cơ bản của Công ty: bao gồm
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình quản lý rừng của Công ty
- Đánh giá thuận lợi khó khăn của các điều kiện cơ bản tới việc quản lý rừng
+ Kế hoạch bảo vệ đa dạng sinh học
+ Kế hoạch giảm thiểu tác động môi trường
+ Kế hoạch giảm thiểu tác động xã hội
+ Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng
Trang 30+ Kế hoạch nguồn nhân lực
+ Kế hoạch đánh giá, giám sát
+ Kế hoạch huy động nguồn vốn
2.2.4 Đánh giá hiệu quả thực hiện kế hoạch quản lý rừng
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Quan điểm, phương pháp luận nghiên cứu
- Quản lý rừng bền vững là phương thức quản lý rừng tiên tiến là mục tiêuchính, chứng chỉ rừng là kết quả của Quản lý rừng bền vững
- Đánh giá quản lý rừng căn cứ vào tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững nhưng
có vận dụng vào các điều kiện thực tế
- Công ty tự đánh giá, có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng đánh giá củacác chuyên gia
- Công ty phải thay đổi phương thức quản lý để có cơ hội nhận chứng chỉ rừng
- Lập kế hoạch quản lý rừng có tham gia (tư vấn và chủ rừng)
2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.3.2.1 Đánh giá quản lý rừng
- Phạm vi đánh giá: đánh giá toàn diện công tác quản lý rừng (bao gồm cảhoạt động sản xuất kinh doanh) thông qua các tiêu chuẩn
- Tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá: Bộ Tiêu chuẩn QLRBV- FSC Việt nam
gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí và 160 chỉ số Các tiêu chuẩn được cụ thể hoá bằngcác tiêu chí và được thể hiện chi tiết bằng các chỉ số và các nguồn kiểm chứng
Nhóm tiêu chuẩn Kinh tế - Xã hội:
1) Tiêu chuẩn 1- Tuân theo pháp luật và tiêu chuẩn FSC
2) Tiêu chuẩn 2-Quyền và trách nhiệm sử dụng đất;
3) Tiêu chuẩn 3- Quyền của người dân sở tại
4) Tiêu chuẩn 4- Quan hệ cộng đồng và quyền của công nhân
5) Tiêu chuẩn 5- Những lợi ích từ rừng
Nhóm tiêu chuẩn lâm nghiệp và môi trường:
6) Tiêu chuẩn 6- Tác động môi trường;
7) Tiêu chuẩn 7- Kế hoạch quản lý;
8) Tiêu chuẩn 8- Giám sát, đánh giá;
9) Tiêu chuẩn 9- Duy trì những khu rừng có giá trị bảo tồn cao
10) Tiêu chuẩn 10 - Rừng trồng
Phương pháp đánh giá quản lý rừng thông qua ba kênh thông tin: đánh giátrong phòng, đánh giá ngoài hiện trường và tham vấn
Trang 31- Thu thập các thông tin về các yếu tố tác động đến quản lý rừng.
Quy trình đánh giá quản lý rừng tại Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo tổng hợp như sau:
Hình 2.1: Quy trình đánh giá QLR tại Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo
1) Lập kế hoạch nội bộ ban đầu
- Tổ chức cuộc họp nội bộ: nắm bắt khái quát quá trình đánh giá; lên thời gianbiểu và phân công nhiệm vụ các nhóm đánh giá; lập danh sách tổ chức cá nhân cầntham vấn; câu hỏi phỏng vấn; lịch phỏng vấn
- Lập danh sách hiện trường
- So sánh văn bản, tài liệu với yêu cầu của bộ Tiêu chuẩn FSC VN
3) Tham vấn các bên liên quan
- Nhóm môi trường: Phòng tài nguyên môi trường, các tổ chức bảo tồn
- Cơ quan nhà nước: Hạt kiểm lâm, Tài chính, Thuế, UBND xã, các phòng banchức năng của Công ty
- Cộng đồng: dân cư sống quanh đơn vị, những hộ được giao đất lâm nghiệpliền kề, những hộ có tranh chấp đất đai với đơn vị
Các câu hỏi đã được lập sẵn xoay quanh các vấn đề quản lý, sử dụng, bảo vệrừng theo các tiêu chuẩn QLRBV của FSC, chuỗi hành trình sản phẩm
Trang 324) Khảo sát hiện trường
Khảo sát hiện trường thực hiện sau khi đã xem xét các kế hoạch quản lý ban đầu
và tham vấn các bên liên quan Không tới hiện trường khi không đủ những thông tin
cơ bản về các hoạt động quản lý rừng Các công việc cần thực hiện như sau:
- Kiểm tra xem những việc làm ngoài hiện trường có đúng như trong kế hoạch,
quy trình hướng dẫn và báo cáo đã cung cấp không
- Phỏng vấn công nhân, người nhận khoán, UBND xã, trưởng thôn, người dân
sở tại
Các tài liệu cần mang: bản đồ hiện trạng, các bản thiết kế trồng rừng, khai
thác, vận chuyển làm cơ sở so sánh Ngoài ra người đánh giá ghi chép đầy đủ các
thông tin về địa điểm đến như: vị trí, thực trạng rừng, đặc điểm đặc trưng
- Khi họp với cơ quan nhà nước cần bao quát các chủ đề pháp luật; sự tuân thủ
của chủ rừng (quy định quản lý đất đai, nộp thuế, BHXH ); danh sách loài quý
hiếm địa phương; danh sách hóa chất bị cấm hoặc hạn chế dùng
- Khi họp với các tổ chức môi trường, cộng đồng cần bao quát vấn đề: những
khu vực có tranh chấp; các trường hợp có tác động liên quan đến hoạt động của chủ
rừng và tổ chức khác; xem xét những loài có nguy cơ bị đe doạ; hóa chất bị cấm;
kết quả nghiên cứu hiện tại có tác dụng gì với việc quản lý của chủ rừng
Các câu hỏi đánh giá:
- Đặt những câu hỏi mở
- Không đặt những câu hỏi dẫn dắt (mớm lời), không thay 180 độ đổi chủ đềkhi câu trả lời chưa rõ ràng
- Kiên nhẫn khi hỏi, đưa cùng một câu hỏi cho nhiều người khác nhau (thu
được ý kiến đa chiều cho cùng một sự việc)
5) Cho điểm các tiêu chuẩn
Xác định kết quả sơ bộ cho mỗi tiêu chuẩn (chấm điểm, cung cấp bằng
chứng) Định ra điểm số ban đầu cho các tiêu chí đánh giá, ngay trong quá trình
thảo luận tại thực địa.Tổng hợp điểm từ:
Điểm bằng chứng chỉ số tiêu chí tiêu chuẩn
Hệ thống chấm điểm
1 Hoàn chỉnh (Việc thực thi rõ ràng, nổi bật) 8,6 - 10
2 Khá (Việc thực thi có triển vọng) 7,1 - 8,5
3 Trung bình ( Việc thực thi đúng) 5,1 - 7,0
4 Kém (Thực thi yếu, cần cải thiện) 4,1 - 5.0
5 Rất kém (Thực thi yếu kém, không có triển vọng,
Trang 33- Cho điểm đánh giá trong phòng: với các tiêu chí liên quan tới thu thập, lưutrữ các tài liệu, văn bản pháp luật; văn bản cam kết; bản đồ; các loại hợp đồng chiếnlược phát triển; kế hoạch quản lý; các báo cáo; danh mục; quy ước,
- Cho điểm đánh giá ngoài hiện trường: với các tiêu chí cần kiểm tra việc thựchiện có đúng với kế hoạch, quy trình hướng dẫn và báo cáo đã nêu trước đó hay không
- Cho điểm tham vấn: với các tiêu chí cần ý kiến của các bên liên quan với chủrừng để kiểm tra tình hình quản lý của chủ rừng như thế nào; kiểm tra mối liên hệgiữa chủ thể và chủ rừng, mối quan tâm của chủ thể và những hoạt động quản lýcủa chủ rừng và chủ rừng đã lý giải như thế nào để giải quyết tranh chấp hoặc làm
rõ những mối liên hệ
Người đánh giá sử dụng Phiếu đánh giá tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số QLRBVcủa Việt Nam để đánh giá và cho điểm
- Thảo luận những tiền đề, điều kiện và khuyến nghị liên quan đến điểm
+ Điều kiện tiền đề: là những cải thiện bắt buộc mà chủ rừng cần có trước khichứng chỉ được cấp
+ Điều kiện hiện tại: là những cải thiện bắt buộc mà chủ rừng phải thực hiệnđầy đủ theo lịch cụ thể trong suốt quá trình cấp chứng chỉ trong 5 năm
+ Khuyến nghị: những cải thiện do nhóm đánh giá gợi ý, mà không bắt buộchoặc yêu cầu
6) Xác định các lỗi không tuân thủ
- Kết luận những nội dung của từng tiêu chuẩn nào chưa làm được, hoặc cònyếu kém và đưa ra khuyến nghị khắc phục
Lỗi lớn: điểm trung bình tiêu chuẩn <5,6 các tiêu chí ít được thực hiện
Lỗi nhỏ: hầu hết các tiêu chí của tiêu chuẩn được thực hiện
7) Viết báo cáo đánh giá
2.3.2.2 Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm CoC
Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) từ khâu khai thác về nơi tiêu thụ (nhàmáy giấy Bãi Bằng) Đánh giá chuỗi hành trình dựa trên 9 yêu cầu của Việt Nam.Phương pháp đánh giá và hệ thông cho điểm của đánh giá chuỗi hành trình sảnphẩm tương tự với phương pháp đánh giá quản lý rừng
2.3.2.3 Lập kế hoạch quản lý rừng
Lập kế hoạch quản lý rừng bao gồm đánh giá các điều kiện cơ bản của Công
ty và kế hoạch quản lý rừng
Trang 34a Đánh giá các điều kiện cơ bản của Công ty
1) Kế thừa tài liệu
Yêu cầu của tài liệu kế thừa do tổ chức có chức năng ban hành; mới nhất; đảmbảo độ chính xác và sát theo yêu cầu của luận văn Các tài liệu gồm:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Công ty
- Tài liệu liên quan đến tình hình quản lý, sử dụng rừng từ trước đến nay
- Về kế hoạch: văn bản kế hoạch hiện có; kế hoạch quản lý, kinh doanh hàngnăm; kế hoạch khai thác vận chuyển; mở mang đường vận chuyển
- Về đất đai tài nguyên: Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng và đất rừng; Diệntích rừng trồng hàng năm, trữ lượng rừng, đánh giá đa dạng sinh học và rừng có giátrị bảo tồn cao,
- Về tổ chức: sơ đồ tổ chức bộ máy, danh sách cán bộ, chức vụ
- Về tài chính: danh sách các khoản nộp thuế ngân sách nhà nước, bảo hiểm xãhội; tổng kết tài chính các năm
- Các chính sách, quy định của Nhà nước và địa phương liên quan đến quản lýrừng đã ban hành
2) Tổng hợp, phân tích, đánh giá thông tin cơ bản của Công ty
- Tổng hợp, phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
- Tổng hợp phân tích hiện trạng tài nguyên rừng
- Tổng hợp phân tích các mặt được và chưa được của tình hình quản lý
3) Đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường do cơ quan dịch vụ có chuyên môn cao tiếnhành Các tác động môi trường gồm: tác động trực tiếp; tác động gián tiếp; tác độngtích cực; tác động tiêu cực Cụ thể:
- Không khí: bụi, tiếng ồn, thành phần CO, CO2, SO2, NH3,… ô nhiễm
- Nước: nước mặt, nước ngầm, số lượng, chất lượng, ô nhiễm, hoá chất ( pH, DO,COD, TDS, SS, SO4, PO4 BOD5, N-NO3, Fe, Hg, As, Cd, Pb,Cu, Zn, Coliform )
- Biến động môi trường như lũ lụt, hạn hán, cháy
- Đất: xói mòn, rửa trôi, bồi lắng, feralit, ô nhiễm hoá chất
- Môi trường sinh thái: đa dạng sinh học, nguy cấp tuyệt chủng, môi trường sống.Đánh giá cụ thể về các tác động trực tiếp và gián tiếp của các hoạt động cụ thể
và mức độ gây hại:
- Tác động có thể xảy ra ở trồng rừng: chất thải vô cơ, khí thải ô nhiễm
- Khai thác rừng: xói mòn
Trang 35- Vận chuyển cây giống, duy tu bảo dưỡng đường: bụi, khí thải, cản trở giaothông đi lại trong khu vực, hư hỏng đường…
- Sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật: chất thải, chất độc…
- Cháy rừng: ô nhiễm không khí, đa dạng sinh học…
4) Đánh giá tác động xã hội
Đánh giá tác động xã hội là sự phân tích những điều xảy ra trong một khoảngthời gian nhất định Nó nhìn lại những tác động xã hội đã xảy ra do các hoạt độngtrước đây gây nên
- Các bước chính để đánh giá tác động xã hội:
+ Thống nhất về các tác động xã hội tích cực mà bạn muốn đạt tới
+ Phát hiện có các tác động xã hội khác và ai ảnh hưởng đến chúng
+ Thảo luận những tác động này với những người bị ảnh hưởng
+ Hành động giảm bớt các tác động tiêu cực theo quản lý rừng
- Các vấn đề cần tìm ra dựa trên tham vấn:
+ Đối tượng nào có thể bị ảnh hưởng
+ Mức độ ảnh hưởng
+ Cách giảm bớt tác động
Tìm hiểu chính xác ảnh hưởng tích cực và tiêu cực mà quá trình sử dụng rừnggây ra đối với người khác Vấn đề đó bao gồm nhiều lĩnh vực như: tuyển dụng, sứckhỏe, sử dụng đất, ô nhiễm, quản lý dòng nước
Tham khảo ý kiến của người dân, những người bị ảnh hưởng trực tiếp từ hoạtđộng lâm sinh, không thu thập những thông tin không cần Thảo luận giải
quyết vấn đề.
b Lập kế hoạch theo phương pháp tham gia
Công ty tự lập kế hoạch quản lý rừng, có sự hỗ trợ tư vấn của chuyên gia theohướng đảm bảo sản lượng rừng ổn định và bền vững KHQLR chủ yếu tập trungvào kế hoạch khai thác và trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy theo phương phápcấp tuổi
Xử lý, tính toán số liệu
Tính hiệu quả kinh tế: coi các yếu tố về chi phí và kết quả là mối quan hệ độngvới mục tiêu đầu tư, thời gian và giá trị đồng tiền
Trang 36Trong đó:
- NPV là giá trị thu nhập hiện tại ròng
- Bt: Giá trị thu nhập tại thời điểm t bao gồm toàn bộ những gì mà DA thu được
- Ct:Giá trị chi phí tại thời điểm t bao gồm những gì mà DA bỏ ra
- t: Thời gian (t = 0, 1, 2, 3, )
- n: Số năm hoạt động trong chu kỳ của dự án (8 năm)
- IRR: Tỷ lệ thu hồi nội bộ là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư có
kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu Khi NPV = 0 thì i = IRR
- BCR: Tỷ lệ thu nhập so với chi phí là hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chấtlượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên đơn vị chi phí sản xuất
2.3.3 Chỉnh lý, tổng hợp tài liệu
1) Chỉnh lý
- Tính các điểm bình quân cho từng chỉ số
- Tính bình quân cho các tiêu chí và bình quân cho từng tiêu chuẩn
Nhận xét:
Tiêu chuẩn 2:
- Tổng hợp các lỗi không tuân thủ trong quản lý rừng và giải pháp khắc phục
Yêu cầu hoạt động
khắc phục
Liên quan đến tiêu chuẩn : Tiêu chí và chỉ số
Lỗi không tuân thủ
Yêu cầu hoạt động khắc phục :
Thời hạn khắc phục: Từ tháng đến tháng năm Bằng chứng hoàn thành khắc phục lỗi CAR: Chờ đợi
b) Yêu cầu quản lý chuỗi hành trình sản phẩm
- Tổng hợp kết quả đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm của Công ty
Trang 37cầu Chỉ số Thực hiện Điểm
Khuyến nghị và giải pháp khắc phục
Thời gian khắc phục
1 1.1.
…
Trang 38Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA CÔNG TY LÂM NGHIỆP NGÒI SẢO3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích đất đai
Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo nằm bên Hữu Ngạn Sông Lô ở phía Đông củahuyện Bắc quang, tỉnh Hà Giang Nằm cách trung tâm huyện lỵ 12 km về phíaĐông Nam trên quốc lộ 279 rất thuận tiện cho việc đi lại và giao lưu hàng hoá
- Về toạ độ địa lý:
+ Từ 220 22/ đến 220 32/ độ vĩ Bắc
+ Từ 1040 32/ đến 1050 06/ độ kinh Đông
- Về ranh giới hành chính:
+ Phía Bắc giáp: xã Bạch Ngọc, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
+ Phía Nam giáp: Xã Yên Thuận, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
+ Phía Đông giáp: Xã Liên Hiệp và Hữu Sản, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang+ Phía Tây giáp: Xã Tân Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
Tổng diện tích đất của Công ty được giao quản lý sử dụng là 4.349,55 hathuộc địa bàn của 06 xã phía Đông của huyện Bắc Quang, gồm:
+ Độ cao trung bình so với mặt nước biển là 140m
- Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm
- Lượng mưa trung bình trong năm là 2.600 mm (có năm lên tới 4.600mm/ năm gọi là dốn mưa của miền Bắc)
- Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau
- Nhiệt độ cao nhất là 380C
Trang 39- Nhiệt độ thấp nhất là 80C
- Nhiệt độ trung bình là 230C
- Độ ẩm trung bình 85%
+ Chế độ gió mùa: Chịu ảnh hưởng của loại gió chính đó là gió mùa Đông Nam
từ tháng 4 đến tháng 9 và gió mùa Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau vàthường có sương muối và gió hại từ tháng 1- 3 hàng năm
- Có nhiều khe, suối và hồ chứa nước nhỏ xen kẽ trong đất lâm nghiệp, lưulượng nước thấp và phân bố không đều
3.1.4 Đất đai - Thổ nhưỡng
Đất ở Bắc Quang - Hà Giang nói chung và khu vực Công ty sản xuất nóiriêng, phân bố chủ yếu là đất Feralit có độ dầy tầng đất trung bình từ 40 - 80 cmthành phần cơ giới thịt trung bình, độ đá lẫn ít, độ ẩm 60%, độ PH<7
- Đối tượng đất gồm 2 loại đất chính đó là:
+ Đất Feralit màu vàng nhạt phát triển trên đá mẹ phiến thạch Mêca
+ Đất Feralit màu vàng nhạt phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét
Qua thực trạng trồng rừng nguyên liệu giấy nhiều năm thì hai loại đất này rấtphù hợp với loài cây Keo tai tượng Nhìn chung về mặt đặc điểm khí hậu, thuỷ văn,địa hình, đất đai trên địa bàn Công ty phù hợp cho trồng rừng nguyên liệu giấy Tuynhiên địa hình đồi núi có độ dốc cao nhiều sông, suối, khe rãnh chia cắt, có nhiềudãy núi cao chia cắt mạnh tạo hướng dòng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông nam,đây cũng là một trở ngại lớn đối với Công ty
3.1.5 Rừng và Tài nguyên thiên nhiên khác
3.1.5.1 Tài nguyên rừng
a) Hiện trạng sử dụng rừng và đất rừng
Biểu 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai tại công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo
Trang 40STT ĐỐI TƯỢNG ĐẤT
C.ty đang quản lý theo sổ đỏ
Đất trả lại địa phương
C.ty còn quản lý trong giai đoạn quy hoạch Tổng diện tích quản lý 4349,55 1.395,75 2.953,8
(Nguồn số liệu: Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo năm 2009)
BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN RỪNG
Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo
Tỷ lệ 1: 10.000
b) Rừng trồng: