1.1 Trái phiếu 1.1.1 Đặc điểm chung của trái phiếu Định nghĩa về trái phiếu Trái phiếu là một chứng khoán nợ có đặc điểm là khi phát hành, người phát hành được hiểu là người đi vay ca
Trang 1ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA TÀI CHÍNH
BÀI DỊCH CHƯƠNG 1
Môn học: CHỨNG KHOÁN CÓ THU NHẬP CỐ ĐỊNH
Giảng viên: TS NGUYỄN THỊ UYÊN UYÊN
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1
1 Nguyễn Đoàn Nhựt Băng 31201022796 thutran.31201022796@st.ueh.edu.vn
2 Phạm Vũ Nhật Linh 31201023939 bangnguyen.31201023939@st.ueh.edu.vn
3 Trần Lê Anh Thư (Nhóm Trưởng) 31201022384 linhpham.31201022384@st.ueh.edu.vn
4 Nguyễn Lê Uyên Trang 31201022373 trangnguyen.31201022373@st.ueh.edu.vn
Trần Lê Anh Thư (Nhóm Trưởng)
Nguyễn Lê Uyên Trang
P : Vắng có phép
x : Có tham gia đầy đủ
V : Vắng không phép
Trang 3
Trái phiếu và Chứng khoán có thu nhập cố định khác
trên Thị trường Tiền tệ
Trên thị trường tiền tệ có rất nhiều công cụ Trong chương này, chúng ta sẽ tập trung vào công cụ phổ biến nhất là trái phiếu Bên cạnh đó chương này cũng sẽ đi vào nghiên cứu các chứng khoán có thu nhập cố định khác được lưu hành trên thị trường tiền tệ
1.1 Trái phiếu
1.1.1 Đặc điểm chung của trái phiếu
Định nghĩa về trái phiếu
Trái phiếu là một chứng khoán nợ có đặc điểm là khi phát hành, người phát hành được hiểu
là người đi vay cam kết trả lại cho người nắm giữ trái phiếu hoặc người cho vay số tiền mặt
đã vay, được gọi là tiền gốc, cộng với tiền lãi định kỳ được tính trên số tiền này trong một khoảng thời gian nhất định Trái phiếu có thể có cấu trúc chuẩn hoặc không Trái phiếu tiêu chuẩn là trái phiếu được trả lãi theo lãi suất cố định không có bất kỳ quyền chọn kèm theo nào, được trả lãi coupon vào các ngày định kỳ và tiền gốc vào ngày đáo hạn
Ví dụ trái phiếu Kho Bạc Hoa Kỳ với lãi suất coupon 3,5%, ngày đáo hạn 15/11/2006 và
số tiền phát hành danh nghĩa là 18,8 tỷ đô la, trả lãi nửa năm 1 lần là 329 triệu đô la (18,8
tỷ đô la × 3,5%/2), 6 tháng 1 lần cho đến ngày 15/11 /2006, cũng như 18,8 tỷ USD vào ngày đáo hạn Một ví dụ khác là trái phiếu Kho Bạc châu Âu với lãi suất 4%, ngày đáo hạn 04/07/2009 và phát hành giá trị danh nghĩa là 11 tỷ Eur, trả lãi hàng năm là 440 triệu Eur (11 tỷ Eur × 4%) mỗi năm cho đến ngày 04/07/2009, cũng như 11 tỷ Euro vào ngày đáo hạn
Mục đích của tổ chức phát hành trái phiếu (Bộ Tài chính, tổ chức Chính Phủ hoặc Tập Đoàn) là tài trợ cho ngân sách hoặc các dự án đầu tư (xây dựng đường xá, trường học, phát
1
Trang 4triển sản phẩm mới, nhà máy mới) với mức lãi suất dự kiến là thấp hơn tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ít nhất là trong khu vực tư nhân) Thông qua việc phát hành trái phiếu, điều này giúp nhà phát hành tiếp cận trực tiếp với thị trường và do đó tránh được việc vay từ các ngân hàng đầu tư với lãi suất cao hơn Trong bối cảnh phi trung gian hóa tài chính, hành vi này có xu hướng gia tăng nhanh chóng Một điểm cần nhấn mạnh là người nắm giữ trái phiếu có tư cách là chủ nợ, không giống như người nắm giữ cổ phần có tư cách là chủ sở hữu của công ty phát hành Đây là lý do tại sao trái phiếu ít rủi ro hơn vốn cổ phần
Thuật ngữ và quy ước
Một đợt phát hành trái phiếu có đặc trưng bởi các thành phần sau:
• Tên tổ chức phát hành Ví dụ: Bundesrepublik Deutschland đối với trái phiếu Kho
Bạc được phát hành ở Đức
• Loại công ty phát hành Đây chủ yếu là lĩnh vực hoạt động của công ty, ví dụ: lĩnh
vực dầu mỏ, nếu Total Fina Elf là công ty phát hành trái phiếu
• Thị trường phát hành trái phiếu Có thể là thị trường nội địa Mỹ, khu vực đồng
tiền chung Châu Âu, thị trường nội địa của bất kỳ quốc gia nào, thị trường đô la châu
Âu, tương ứng với trái phiếu bằng USD và được phát hành ở bất kỳ quốc gia nào khác ngoài Mỹ
• Địa chỉ pháp lý của người phát hành
• Mệnh giá tiền tệ của trái phiếu Một ví dụ là US$ cho trái phiếu Kho Bạc Hoa Kỳ
• Phương pháp được sử dụng để tính giá/lợi suất trái phiếu Phương pháp này phụ
thuộc vào loại trái phiếu Đối với trái phiếu Kho Bạc Hoa Kỳ, phương pháp được sử dụng là quy ước đường phố, là phương pháp tính toán tiêu chuẩn được thị trường sử dụng
• Loại bảo đảm Đây là loại bảo đảm cơ sở cho người nắm giữ trái phiếu Loại bảo
lãnh có thể là thế chấp, vay mua ô tô, bảo lãnh của Chính Phủ
• Ngày đáo hạn Đây là ngày mà số tiền gốc đến hạn
• Loại coupon Coupon có thể trả lãi theo hình thức cố định, thả nổi, hỗn hợp (kết hợp
giữa cố định và thả nổi hoặc cố định khác nhau) Ví dụ, trái phiếu lãi suất tăng dần
là một loại trái phiếu nhiều lãi suất với lãi suất trái phiếu tăng theo các khoảng thời gian xác định trước
Trang 5• Lãi suất coupon Lãi suất coupon được thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm của số tiền
gốc
• Tần suất trả lãi coupon Tần suất trả lãi coupon đối với trái phiếu Kho Bạc là nửa
năm một lần ở Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Nhật Bản, và hàng năm ở khu vực đồng Euro, ngoại trừ Ý là nửa năm một lần
• Loại tính ngày Các loại tính ngày phổ biến nhất là Thực tế/Thực tế, Thực tế/365,
Thực tế/360 và 30/360 Thực tế/Thực tế (Thực tế/365, Thực tế/360) có nghĩa là tiền lãi tích lũy giữa hai ngày nhất định được tính bằng cách lấy số ngày thực tế được trả lãi chia cho 365,360 Đối với cơ sở đếm ngày 30/360 có nghĩa là số ngày theo lịch giữa hai ngày được trả lãi với quy ước giả định rằng mỗi tháng được tính là 30 ngày
Ví dụ: sử dụng cơ sở đếm ngày 30/360, có 84 ngày (2 × 30 +24) từ 01/01/2001 đến 25/03/2001 và 335 (11 × 30 + 5) từ 01/01/ 2001 đến 12/06/2001 Sử dụng cơ sở đếm ngày Thực tế/Thực tế hoặc Thực tế/365 ngày, có 83 ngày từ 01/01/2001 đến 25/03/2001 và 339 ngày từ 01/01/2001 đến 06/12/2001 Sử dụng cơ sở Số ngày thực tế/Số ngày thực tế, khoảng thời gian từ 01/08/1999 đến 03/09/2001 quy đổi theo năm
là 152/365 + 1 + 246/365 = 2.0904 Sử dụng cơ sở Thực tế/365 ngày, giai đoạn từ 01/08/1999 đến 03/09/2001 quy đổi ra năm là 764/365 = 2.0931 Theo cơ sở tính ngày thực tế/360 ngày, khoảng thời gian từ 01/08/1999 đến 03/09/2001 quy đổi ra năm là 764/360 = 2.1222 Sử dụng cơ sở tính ngày 30/360, khoảng thời gian từ 01/08/1999 đến 03/09/2001 quy đổi ra năm là 752 /360 = 2.0888
• Ngày công bố Đây là ngày trái phiếu được công bố và chào bán ra công chúng
• Ngày tích lũy lãi Đây là ngày mà tiền lãi bắt đầu tích lũy
• Ngày thanh toán Đây là ngày đến hạn thanh toán để đổi lấy trái phiếu, thường bằng
ngày giao dịch cộng với một số ngày làm việc Ví dụ: ở Nhật Bản, ngày thanh toán đối với trái phiếu Kho Bạc và tín phiếu Kho Bạc bằng ngày giao dịch cộng với ba ngày làm việc Mặt khác, tại Hoa Kỳ, ngày thanh toán đối với trái phiếu Kho Bạc và tín phiếu Kho Bạc bằng ngày giao dịch cộng với một ngày làm việc Tại Vương quốc Anh, ngày thanh toán đối với trái phiếu Kho Bạc và tín phiếu Kho Bạc lần lượt bằng ngày giao dịch cộng với một và hai ngày làm việc Ở khu vực đồng Euro, ngày thanh toán đối với trái phiếu Kho Bạc bằng ngày giao dịch cộng với ba ngày làm việc, vì
Trang 6có thể là một, hai hoặc ba ngày làm việc đối với tín phiếu Kho Bạc, tùy thuộc vào quốc gia được xem xét
• Ngày trả lãi đầu tiên Đây là ngày trả lãi đầu tiên
• Giá phát hành Đây là tỷ lệ phần trăm giá thanh toán khi phát hành
• Mức chênh lệch khi phát hành Đây là mức chênh lệch tính theo điểm cơ bản đối
với trái phiếu Kho Bạc chuẩn (xem phần tiếp theo có tên là “Báo giá thị trường”)
• Mã định danh Các mã phổ biến nhất là ISIN (Số nhận dạng Chứng khoán Quốc tế)
và số CUSIP (Ủy ban về Thủ tục Nhận dạng Chứng khoán Thống nhất)
• Xếp hạng Nhiệm vụ của các cơ quan xếp hạng bao gồm việc đánh giá xác suất vỡ
nợ của các công ty thông qua xếp hạng Xếp hạng là xếp hạng chất lượng của trái phiếu, dựa trên các tiêu chí như danh tiếng, quản lý, bảng cân đối kế toán của tổ chức phát hành và thành tích trả lãi và gốc của trái phiếu đó Hai công ty lớn là Moody's
và Standard and Poor's (S&P) Thang đánh giá của họ được liệt kê trong Bảng 1.1 Chúng ta sẽ quay lại những vấn đề này chi tiết hơn trong Chương 13
Bảng 1.1 Thang đánh giá của Moody’s và S&P
Mood S&P Định nghĩa
Cấp độ đầu tư (Độ tín nhiệm cao)
Aaa AAA Có uy tín chất lượng hàng đầu, chất lượng tốt nhất, uy tín tín dụng cực kỳ
Trang 7B2 B Mang tính đầu cơ cao, dễ bị mất thanh toán hơn
B-CCC+
Caa CCC Rủi ro đáng kể, trong tình trạng kém, hiện dễ bị mất khả năng thanh toán
CCC-Ca CC Có thể vỡ nợ, cực kỳ đầu cơ, hiện rất dễ bị mất thanh toán
C C Thậm chí nhiều suy đoán hơn
• Số tiền chưa xử lý Đây là số tiền của đợt phát hành còn tồn đọng, thể hiện trong
hàng nghìn đồng tiền phát hành trên Bloomberg
• Số tiền tối thiểu và số tiền gia tăng tối thiểu có thể được mua Số tiền gia tăng tối
thiểu là số tiền bổ sung nhỏ nhất của trái phiếu có thể được mua trên số tiền tối thiểu
• Mệnh giá hoặc giá trị danh nghĩa hoặc số tiền gốc Đây là mệnh giá của trái phiếu
Lưu ý rằng giá trị danh nghĩa được sử dụng để tính trái phiếu coupon Ví dụ: hãy xem xét một trái phiếu có lãi suất trái phiếu cố định 5% và giá trị danh nghĩa là 1.000
đô la Lãi suất coupon bằng 5% × $1.000 = $50
• Giá trị hoàn lại Được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm của giá trị danh nghĩa, đó là giá
mà trái phiếu được mua lại vào ngày đáo hạn Trong hầu hết các trường hợp, giá trị mua lại bằng 100% giá trị danh nghĩa của trái phiếu
Sau đây, chúng tôi đưa ra một số ví dụ về hình ảnh mô tả trái phiếu Bloomberg (chức năng DES), đối với trái phiếu Kho Bạc và Trái phiếu Doanh Nghiệp
Trang 8Ví dụ 1.3 Mô tả trái phiếu công ty Elf Aquitaine trên Bloomberg
So với hai trái phiếu trước đó, trái phiếu Elf Aquitaine (nay là Total Fina Elf) (Hình 1.3) có xếp hạng Aa2 của Moody, thuộc lĩnh vực dầu mỏ Số tiền phát hành là 1 tỷ Eur
và số tiền tối thiểu có thể mua được là 1.000 Eur Giá lúc phát hành là 98.666 Trái phiếu thanh toán lãi suất coupon 4,5% cố định hàng năm Ngày đáo hạn của nó là 23/03/09 Mức chênh lệch khi phát hành của nó lên tới 39 điểm cơ bản so với trái phiếu Kho Bạc Pháp (Obligation Assimilable du Tre ́sor (OAT)) với lãi suất coupon 4% và ngày đáo hạn là 25/04/2009
Ví dụ 1.2 Mô tả Trái phiếu Chính Phủ Đức trên Bloomberg
So với trái phiếu Kho Bạc Mỹ trước đây, trái phiếu Kho Bạc Đức (gọi là Bund) (Hình 1.2) với lãi suất trái phiếu 4% và ngày đáo hạn 04/07/2009 có trái phiếu hàng năm với
cơ sở tính theo ngày thực tế/thực tế Chúng được phát hành trên thị trường của khu vực đồng tiền chung Châu Âu, với số tiền 11 tỷ Euro, vào ngày 26/03/1999 Giá lúc phát hành là 100,17 Số tiền tối thiểu có thể được mua bằng 0,01 Eur Ngày thanh toán lãi coupon đầu tiên là 04/07/2000 Số tiền tối thiểu có thể được mua bằng 0,01 Eur Trái phiếu này được xếp hạng AAA
Ví dụ 1.1 Mô tả trái phiếu Kho Bạc Mỹ trên Bloomberg
Trái phiếu Kho Bạc (Hình 1.1), với lãi suất trái phiếu 3,5% và ngày đáo hạn là 15/11/2006, trái phiếu trả lãi nửa năm một lần với cơ sở tính theo ngày thực tế/thực tế
Số tiền phát hành tương đương 18,8 tỷ USD; số tiền còn nợ cũng vậy Số tiền tối thiểu
có thể được mua là 1.000 đô la Trái phiếu Chính Phủ được phát hành vào ngày 15/11/2001 trên thị trường Mỹ và lãi bắt đầu được cộng dồn kể từ ngày này Giá lúc phát hành là 99.469 Ngày lãi suất đầu tiên là ngày 15/05/02, tức là 6 tháng sau ngày tính lãi (coupon bán niên) Trái phiếu này được xếp hạng AAA
Trang 9Hình 1.1 c 2003 Bloomberg L.P Bảo lưu mọi quyền In lại với sự cho phép.
Báo giá thị trường
Trái phiếu có bảo đảm thường được báo giá, sản lượng hoặc chênh lệch so với một trái phiếu cơ sở
Giá niêm yết của trái phiếu Giá niêm yết (hoặc giá thị trường) của một trái phiếu thường
là giá sạch, nghĩa là giá gộp trừ đi lãi tích lũy Giá của một trái phiếu luôn được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm giá trị danh nghĩa 1của trái phiếu Khi một nhà đầu tư mua một trái phiếu, nhà đầu tư thực sự có quyền nhận tất cả các dòng tiền trong tương lai của trái phiếu này, cho đến khi nhà đầu tư không còn sở hữu nó nữa Nếu nhà đầu tư mua trái phiếu giữa hai ngày thanh toán lãi coupon, thì về mặt logic, nhà đầu tư phải trả nó ở mức giá phản ánh phần nhỏ của lãi coupon tiếp theo mà người bán trái phiếu có quyền nhận được vì đã giữ
1 Khi giá trái phiếu được đưa ra dưới dạng số tiền $ (hoặc Eur hoặc £ ), nó trực tiếp bằng giá trị danh nghĩa của trái
Trang 10trái phiếu đó cho đến khi bán Giá này được gọi là giá gộp (hoặc giá bẩn hoặc giá đầy đủ), được tính bằng tổng của giá sạch và phần của lãi coupon phải trả cho người bán trái phiếu Phần này được gọi là tiền lãi tích lũy Lưu ý rằng tiền lãi tích lũy được tính từ ngày thanh toán trở đi
Hình 1.2 c 2003 Bloomberg L.P Bảo lưu mọi quyền In lại với sự cho phép
Trang 11Ví dụ 1.4 Một nhà đầu tư mua vào ngày 10/12/01 một lượng trái phiếu Kho Bạc Mỹ
với lãi suất coupon 3,5% và đáo hạn vào 15/11/2006 Giá thuần hiện tại là 96,15625
Do đó, giá trị thị trường của mệnh giá 1 triệu USD của trái phiếu này bằng 96,15625%
× 1 triệu USD = 961.562,5 USD Thời gian tính lãi cộng dồn là 26 ngày Đây là số ngày theo lịch giữa ngày thanh toán (12/11/2001) và ngày thanh toán lãi coupon cuối cùng (15/11/2001) Do đó, tiền lãi tích lũy bằng với lần thanh toán lãi coupn cuối cùng (1,75,
vì tần suất lãi coupon là nửa năm một lần) nhân 26 chia cho số ngày dương lịch giữa ngày thanh toán lãi coupon tiếp theo (15/05/2002) và ngày thanh toán lãi coupon cuối cùng (15/11/2001) Trong trường hợp này, tiền lãi tích lũy bằng 1,75 × (26/181) = 0,25138 Tổng giá sau đó là 96,40763 Nhà đầu tư sẽ trả 964.076,3 USD (96,40763% ×
1 triệu USD) để mua trái phiếu này
Lưu ý rằng giá sạch của một trái phiếu bằng với giá gộp vào mỗi ngày thanh toán lãi coupon và giá trái phiếu của Hoa Kỳ thường được niêm yết bằng /32ths
Trang 12Hình 1.3 c 2003 Bloomberg L.P Bảo lưu mọi quyền In lại với sự cho phép
Lợi suất định giá trái phiếu Lợi suất định giá của trái phiếu là lợi suất chiết khấu làm cân
bằng tổng giá của nó nhân với giá trị danh nghĩa của trái phiếu bằng tổng các dòng tiền chiết khấu của nó (xem Chương 2 để biết định nghĩa toán học về lợi suất trái phiếu và cách tính toán)
Ví dụ 1.6 Báo giá lợi suất trái phiếu trên Bloomberg
Trong ví dụ trước, biểu đồ dòng tiền của trái phiếu có mệnh giá 1 triệu USD như sau:
Ví dụ 1.5 Một trái phiếu T báo giá 98–28 có giá thực tế là 98 + 28/32 = 98,875.
Trang 13Hình 1.4 c 2003 Bloomberg L.P Bảo lưu mọi quyền In lại với sự cho phép
Chênh lệch định giá trái phiếu Trái phiếu Doanh Nghiệp thường được định giá theo giá
và chênh lệch so với một trái phiếu chuẩn nhất định hơn là theo lợi suất Để thu lại lợi suất tương ứng, bạn chỉ cần thêm mức chênh lệch này vào lợi suất của trái phiếu chuẩn cơ sở
Bảng sau đây hiển thị hình ảnh phân tích lợi suất Bloomberg (chức năng YA) (Hình 1.4) liên quan đến trái phiếu này Lợi suất được trích dẫn của nó bằng 4,375% (xem quy ước đường phố) Lợi suất kép tương đương 1 năm của trái phiếu này bằng 4,423% (xem Chương 2 về điểm này)
Trang 14Hình 1.5 c 2003 Bloomberg L.P Bảo lưu mọi quyền In lại với sự cho phép
Lưu ý rằng cách báo giá cuối cùng này đối với trái phiếu Kho Bạc là khá phổ biến trên thị trường trái phiếu Thật vậy, trong trường hợp này, trái phiếu Kho Bạc cơ sở được xác định
rõ ràng, trong khi sử dụng phép nội suy trên đường cong trái phiếu Kho Bạc có thể dẫn đến các kết quả khác nhau tùy thuộc vào hai trái phiếu cũng như loại nội suy được xem xét Cuối cùng, điều đáng nói là mọi trái phiếu được giao dịch đều có giá chào mua cũng như
Ví dụ 1.7 Bảng dưới đây đưa ra một ví dụ về phân tích lợi suất và chênh lệch trái phiếu
như có thể thấy trên hình ảnh Bloomberg (Hình 1.5) Trái phiếu có mức chênh lệch 156,4 điểm cơ bản (xem chức năng Chênh lệch nội suy (ISPRD)) so với lợi suất hoán đổi đô la Mỹ được nội suy, trong khi nó có mức chênh lệch 234 điểm cơ bản so với lợi suất trái phiếu chuẩn của Kho Bạc Hoa Kỳ được nội suy Hơn nữa, mức chênh lệch của
nó đối với trái phiếu chuẩn của Kho Bạc Hoa Kỳ với kỳ hạn gần nhất lên tới 259,3 điểm
cơ bản (chức năng Mức chênh lệch (SPRD)) Nó lần lượt là 191 và 144 điểm cơ bản so với trái phiếu chuẩn Kho Bạc 10 năm và trái phiếu chuẩn Kho Bạc 30 năm
Trang 15giá chào bán Giá dự thầu là giá mà nhà đầu tư có thể bán trái phiếu, trong khi giá yêu cầu
là giá mà người ta có thể mua nó Giá chào bán tất nhiên cao hơn giá chào mua, có nghĩa là lợi suất chào bán thấp hơn lợi suất chào mua Sự khác biệt giữa hai lợi suất được gọi là chênh lệch giá mua-giá bán Nó là một loại chi phí giao dịch Nó rất nhỏ đối với các trái phiếu có tính thanh khoản cao như trái phiếu Kho Bạc của Mỹ hoặc Euro và rất lớn đối với các trái phiếu có tính thanh khoản kém Giá trung bình của trái phiếu chỉ đơn giản là mức trung bình của giá mua và giá bán Điều tương tự cũng xảy ra đối với năng suất trung bình
Ví dụ 1.8 Minh họa về chênh lệch giá mua-bán trên thị trường trái phiếu Kho Bạc Mỹ
Minh họa về chênh lệch giá mua-bán trên thị trường trái phiếu Kho Bạc Mỹ hình ảnh Bloomberg sau đây (Hình 1.6) cho thấy mức chênh lệch giá mua-bán đối với một số trái phiếu Kho Bạc Mỹ được niêm yết trên thị trường Trong cột 2 và 3, bạn có thể thấy lãi suất trái phiếu và kỳ hạn của công cụ Chênh lệch giá mua-giá bán xuất hiện trong hai cột tiếp theo Lưu ý rằng giá được trích dẫn trong 32ths Cột 6 cung cấp lợi suất đáo hạn (YTM) cho mỗi công cụ (xem Chương 2 để biết những phát triển lớn liên quan đến lợi suất đáo hạn) trong khi cột 7 cung cấp thời lượng (xem Chương 5) Nguồn định giá là BGN (Giá trị chung của Bloomberg) Đó là mức giá trung bình được đưa ra bởi năm nhà cung cấp tích cực nhất trên thị trường
Trang 16Hình 1.6 c 2003 Bloomberg L.P Bảo lưu mọi quyền In lại với sự cho phép.
Trái phiếu phi tiêu chuẩn
Tiếp theo, chúng ta sẽ thảo luận về trái phiếu có lãi suất thả nổi và trái phiếu hiệu chỉnh lạm phát Trái phiếu có thể chuyển đổi và trái phiếu có quyền chọn kèm theo sẽ được thảo luận sâu trong Chương 14
Strips Strips (Giao dịch tách biệt tiền lãi và tiền gốc đã đăng ký) là trái phiếu không lãi suất
chủ yếu được tạo ra bằng cách tước bỏ trái phiếu Chính Phủ của các nước G72 Chương trình Strips được Bộ Tài chính Hoa Kỳ tạo ra vào năm 1985 để đáp lại các ngân hàng đầu
tư, những người mà ngay từ đầu những năm 1980, đã mua trái phiếu Kho Bạc dài hạn và sau đó phát hành trái phiếu không lãi suất của riêng họ, được thế chấp bằng các khoản thanh toán cho trái phiếu Kho Bạc cơ bản Cái gọi là số 0 thương hiệu này đã thành công, nhưng
do tính thanh khoản cao hơn của các strips nên chúng đã bị chi phối bởi chúng
2 Strips cũng được giao dịch ở các quốc gia khác và đặc biệt là ở New Zealand
Trang 17Dòng tiền duy nhất được phân phối theo dải là tiền gốc vào ngày đáo hạn
Một trái phiếu như vậy không sinh lãi coupon trong suốt thời gian đầu tư có vẻ khá đặc biệt
và kém hấp dẫn Trên thực tế, nó thường chịu lãi vào ngày đáo hạn vì nó được mua với giá thấp hơn giá đáo hạn của nó Các nhà đầu tư mua những trái phiếu này thường là các nhà đầu tư dài hạn như quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm, và có ít nhất một mục đích chính là đảm bảo lợi nhuận trong thời gian đầu tư dài hạn của họ Để hiểu điểm này, hãy xem xét một nhà đầu tư được cho là đảm bảo 6% mỗi năm trong vòng 20 năm cho các khoản nợ của mình Nếu anh ta mua và nắm giữ một trái phiếu có kỳ hạn bằng với thời hạn đầu tư của
nó, tức là 20 năm, và YTM là 6%, thì anh ta hoàn toàn đạt được mục tiêu của mình vì anh
ta biết hôm nay tỷ suất sinh lợi hàng năm của trái phiếu đó là 6% Ngược lại, trái phiếu có lãi suất không cho phép anh ta làm như vậy, bởi vì thứ nhất, chúng chịu rủi ro tái đầu tư bằng lãi suất và thứ hai, thời hạn của chúng hầu như không bao giờ, nếu không muốn nói
là không bao giờ, đạt đến 20 năm (xem Chương 5 về điểm này)
Có 2 loại Strips - Giao dịch tách riêng tiền lãi và giao dịch tách riêng vốn gốc Giao dịch tách biệt tiền lãi và tiền gốc được xây dựng bằng cách tước bỏ các lãi suất coupon và tiền gốc của một trái phiếu mang lãi suất tương ứng Các ứng cử viên chính cho việc tước bỏ là trái phiếu Chính Phủ (Trái phiếu Kho Bạc và trái phiếu cơ quan Chính Phủ)
Các strips không thanh khoản như trái phiếu có lãi suất Mức chênh lệch giá mua-giá bán của họ thường cao hơn
Trái phiếu lãi suất thả nổi
Định nghĩa và đặc điểm Trái phiếu lãi suất thả nổi (FRN) là trái phiếu có lãi suất coupon
thả nổi Trên thực tế, mệnh giá chung này bao gồm hai loại trái phiếu:
• Trái phiếu lãi suất thả nổi
Ví dụ 1.9 Một nhà đầu tư mua trái phiếu Kho Bạc với giá 20.000 USD với thời gian đáo
hạn là 15/05/30 và giá trị danh nghĩa là 100.000 USD Với tư cách là trái chủ, anh ta có quyền nhận lại 100.000 đô la vào ngày 15/05/30, nếu anh ta tất nhiên không bán trái phiếu trong thời gian đó
Trang 18• Trái phiếu có lãi suất thay đổi hoặc trái phiếu có lãi suất có thể điều chỉnh
Loại thứ nhất biểu thị trái phiếu có lãi suất coupon được lập chỉ mục theo tham chiếu ngắn hạn có thời hạn dưới 1 năm, như Libor 3 tháng, trong khi loại thứ hai chỉ định trái phiếu có lãi suất coupon được lập chỉ mục trên tham chiếu dài hạn hơn với kỳ hạn cao hơn 1 năm, chẳng hạn như lợi suất trái phiếu Kho Bạc có kỳ hạn không đổi (CMT) 10 năm (xem ví dụ sau có tên “Mô tả trái phiếu CMT 10 năm của Pháp trên Bloomberg”) Lãi suất coupon của trái phiếu được trả lãi suất theo hình thức thả nổi được thiết lập lại hơn một lần mỗi năm Đây không nhất thiết là trường hợp đối với trái phiếu có lãi suất thay đổi, có thể có tần suất đặt lại vượt quá 1 năm Thông thường, tần suất đặt lại bằng với tần suất thanh toán lãi suất coupon
Hơn nữa, các FRN khác nhau về bản chất của việc lập chỉ mục lãi suất trái phiếu Lãi suất coupon có thể được xác định theo ba cách:
• Đầu tiên, là sản phẩm của giá trị chỉ số tham chiếu cuối cùng và biên độ nhân
• Thứ hai, là tổng của giá trị chỉ số tham chiếu cuối cùng và biên độ cộng
• Thứ ba, là sự kết hợp của hai phương pháp trước đó
Lưu ý rằng khi dấu của biên độ nhân là âm, trái phiếu được gọi là số floater nghịch đảo Lãi suất trái phiếu di chuyển theo hướng ngược lại với chỉ số tham chiếu Để ngăn biên độ nhân trở thành âm, một mức sàn được xác định thường bằng không Những trái phiếu như vậy
đã trở nên khá phổ biến trong bối cảnh lãi suất giảm Bây giờ chúng ta hãy phát triển một
số ví dụ
Ví dụ 1.10 Một nhà đầu tư mua trái phiếu lãi suất thả nổi có lãi suất trái phiếu bằng
Libor 3 tháng + 20 bp có quyền nhận, vào mỗi khoảng thời gian được xác định trong hợp đồng (thường là 3 tháng một lần), khoản thanh toán trái phiếu tỷ lệ nghịch với tần suất hàng năm của nó và trả gốc vào ngày đáo hạn Lãi suất coupon sẽ được đặt lại 3 tháng một lần để phản ánh mức mới của Libor 3 tháng
Trang 19Ví dụ 1.12 Mô tả trái phiếu CMT 10 năm của Pháp trên Bloomberg
Trái phiếu CMT kỳ hạn 10 năm của Pháp (Hình 1.7) với ngày đáo hạn là 25/10/2006 có lãi suất coupon thả nổi hàng quý được lập chỉ mục trên TEC 10 TEC 10 là tham chiếu Kho Bạc có kỳ hạn 10 năm không đổi của Pháp Nó được xác định trên cơ sở hàng ngày
là lợi suất nội suy 10 năm giữa hai lợi suất trái phiếu Kho Bạc đang hoạt động có ngày đáo hạn rất gần Lãi suất coupon bằng TEC10−100 bp và cho phép trái chủ nhận hàng quý vào ngày 25 tháng 1, ngày 25 tháng 4, ngày 25 tháng 7 và ngày 25 tháng 9 thanh toán lãi suất coupon bằng (1 + TEC10 − 100 bp) 1/4 − 1 và thanh toán gốc vào ngày 25/10/2006 Tỷ lệ lãi suất coupon được đặt lại mỗi quý với cơ sở Số ngày thực tế/Thực
tế Ví dụ: lãi suất coupon được thanh toán vào ngày 25 tháng 4 được xác định bằng cách
sử dụng chỉ số TEC 10 năm ngày làm việc trước ngày 25 tháng 1 Số tiền phát hành tương đương với 11,888 tỷ Euro, giống như số tiền chưa thanh toán Số tiền tối thiểu có thể được mua bằng Eur1 Trái phiếu được phát hành trong khu vực đồng Euro Nó có xếp hạng AAA Giá của nó khi phát hành là 101,55 Giá mua-bán vào ngày 13/12/01 là 99,504/99,5665
Ví dụ 1.11 Một nhà đầu tư mua trái phiếu thả nổi nghịch đảo có lãi suất trái phiếu bằng
16% - 2x, trong đó x là lãi suất Trái phiếu T kỳ hạn 2 năm, có quyền nhận được trái phiếu trong mỗi kỳ hạn được xác định trong hợp đồng (thường là hàng năm) thanh toán tỷ lệ nghịch với tần suất hàng năm và thanh toán gốc vào ngày đáo hạn Lãi suất trái phiếu sẽ được thiết lập lại 2 năm một lần để phản ánh mức lãi suất trái phiếu 2 năm mới
Trang 20Sử dụng Khi mua một FRN, một nhà đầu tư thường được bảo vệ để chống lại sự dịch
chuyển song song của đường cong lãi suất vì lãi coupon của trái phiếu phản ánh mức lãi suất thị trường mới vào mỗi ngày thiết lập lại Vì vậy, FRN thường hoạt động tốt hơn trái phiếu có lãi suất cố định có cùng kỳ hạn khi lãi suất tăng lên và hoạt động kém hơn khi lãi suất giảm xuống Đối với các công cụ nợ với lãi suất thả nổi đảo ngược, vấn đề phức tạp hơn do cách chúng được cấu trúc Việc giảm lãi suất sẽ không nhất thiết dẫn đến việc tăng giá của các công cụ nợ với lãi suất thả nổi đảo ngược mặc dù lãi suất trái phiếu tăng Hiệu suất của chúng thực sự phụ thuộc vào sự phát triển của hình dạng đường cong lãi suất
Hình 1.7 c 2003 Bloomberg L.P Bảo lưu mọi quyền In lại với sự cho phép
Trái phiếu hiệu chỉnh lạm phát
Định nghĩa và Đặc điểm Trái phiếu hiệu chỉnh lạm phát phát hành với lãi suất coupon và
tiền gốc được lập chỉ mục dựa trên tỷ lệ lạm phát trong tương lai Trái phiếu hiệu chỉnh lạm phát phát được cấu trúc để bảo vệ và tăng sức mua của nhà đầu tư và chủ yếu được phát hành bởi các Chính Phủ để làm rõ rằng họ sẵn sàng duy trì mức lạm phát thấp Loại trái phiếu này khá phát triển ở Vương quốc Anh, đại diện cho hơn 20% trái phiếu Kho Bạc đang
Trang 21lưu hành Tại Hoa Kỳ, trái phiếu hiệu chỉnh lạm phát chỉ chiếm 7% tổng số nợ Kho Bạc được phát hành vào năm 1999 Tại Pháp, chỉ có ba trái phiếu hiệu chỉnh lạm phát (OATi) vào tháng 12 năm 2001.
Tỷ lệ lạm phát giữa ngày t và ngày t + 1, ký hiệu là IRt, t+1, được định nghĩa là
Với: CPIt là chỉ số giá tiêu dùng vào ngày t
Đặc điểm chính của Trái phiếu hiệu chỉnh lạm phát là chúng phát hành coupon và tiền gốc liên quan đến sự gia tăng chỉ số CPI Sau đây, chúng ta sẽ xử lý trường hợp trái phiếu theo chỉ số lạm phát của Kho Bạc Pháp được gọi là OATi:
• Tham chiếu lạm phát hàng ngày vào ngày t, ký hiệu là DIRt, được tính bằng cách sử dụng phép nội suy tuyến tính của hai CPI như sau:
Với:
CPIm là chỉ số giá tiêu dùng của tháng m
NDm là số ngày của tháng m
nt là ngày của ngày t (ví dụ ngày 26/04/01 là 26)
• Khoản thanh toán coupon của một OATi nhận được vào ngày t, ký hiệu là Ct, là
Với:
Trang 22FV là mệnh giá
RC là lãi suất coupon thực
DIRinitial là tham chiếu lạm phát hàng ngày vào ngày đầu tiên, là ngày thay đổi theo từng OATi
Ví dụ 1.13 Ngày đầu tiên của OATi đáo hạn vào ngày 25/07/29 là ngày 25/07/99.
• Giá trị quy đổi của OATi nhận được vào ngày T, được ký hiệu là RVT, được tính bằng công thức sau:
• Tiền lãi tích lũy của một OATi vào ngày t, ký hiệu là ACt, là
Sử dụng Một trái phiếu có chỉ số lạm phát có thể được sử dụng để phòng ngừa rủi ro cho
một danh mục đầu tư, để đa dạng hóa danh mục đầu tư hoặc để tối ưu hóa việc quản lý tài sản có
nợ-Ví dụ 1.14 Mô tả trái phiếu Kho Bạc được lập chỉ số lạm phát của Pháp trên Bloomberg
OATi, với coupon thực tế 3% và ngày đáo hạn là 25/07/2012, có coupon hàng năm với
cơ sở Số ngày thực tế/Số ngày thực tế Số tiền phát hành tương đương với 6,5 tỷ Euro, giống như số tiền chưa thanh toán Số tiền tối thiểu có thể được mua bằng Eur1 Ngày coupon đầu tiên là 25/07/02 Trái phiếu này được xếp hạng AAA Giá mua-bán vào ngày 13/12/01 là 99,09/99,22 (Hình 1.8)
Trang 23• Khi mua một trái phiếu được hiệu chỉnh lạm phát, nhà đầu tư thường được bảo vệ trước sự gia tăng của tỷ lệ lạm phát
• Trái phiếu này thể hiện mối tương quan yếu với các tài sản khác như cổ phiếu, trái phiếu lãi suất cố định và tiền mặt, khiến nó trở thành một tài sản hiệu quả để đa dạng hóa danh mục đầu tư
Hình 1.8 c 2003 Bloomberg L.P Bảo lưu mọi quyền In lại với sự cho phép
• Các công ty bảo hiểm có thể sử dụng trái phiếu này để phòng ngừa rủi ro lạm phát trong khoảng thời gian từ khi nguy cơ xuất hiện cho đến khi nó được trả cho khách hàng; một số quỹ hưu trí đảm bảo hiệu quả hoạt động được lập chỉ mục dựa trên lạm phát cho khách hàng của họ, và do đó, mua trái phiếu chỉ mục lạm phát để giảm bớt
sự chênh lệch giữa tài sản có và tài sản nợ
1.1.2 Trái phiếu của các tổ chức phát hành
Trái phiếu Chính Phủ và Trái phiếu Đô Thị
Đặc điểm chính của thị trường Hoa Kỳ
Trang 24• Trái phiếu Chính Phủ có thể được chia thành hai loại: trái phiếu Kho Bạc và trái phiếu Cơ quan Liên bang Trường hợp của thị trường Hoa Kỳ sẽ được thảo luận dưới đây.
– Trái phiếu Kho Bạc được phát hành bởi Bộ Tài chính Hoa Kỳ và được bảo đảm bằng niềm tin tưởng hoàn toàn và uy tín tín dụng của Chính phủ Hoa Kỳ Thị trường trái phiếu Kho Bạc là thị trường sôi động nhất trên thế giới, nhờ vào khối lượng lớn tổng nợ được giao dịch và quy mô lớn của bất kỳ đợt phát hành nào Số lượng tín phiếu Kho Bạc Hoa Kỳ
có thể bán được trên thị trường là rất lớn, lên đến 3,0 nghìn tỷ đô la tính đến ngày 31 tháng
12 năm 2000 Thị trường Kho Bạc là thị trường nợ có tính thanh khoản cao nhất, tức là nơi
mà việc định giá và giao dịch có hiệu quả nhất Chênh lệch giá mua-giá bán thấp hơn nhiều
so với phần còn lại của thị trường trái phiếu Tín phiếu Kho Bạc được phát hành gần đây được gọi là trái phiếu đang lưu hành, ngược lại với trái phiếu sắp hết hạn, là trái phiếu đã phát hành cũ
Đặc biệt phải đề cập đến trái phiếu chuẩn, được công nhận là chỉ số thị trường Thường tồn tại một trái phiếu như vậy trên mỗi điểm đường cong sau: 2 năm, 5 năm, 10 năm và 30 năm
– Trái phiếu đại lý được phát hành bởi các tổ chức khác nhau, bảy trong số đó thống trị thị trường về dư nợ: Hiệp hội thế chấp quốc gia liên bang (Fannie Mae), Hệ thống ngân hàng cho vay mua nhà liên bang (FHLBS), Tổng công ty thế chấp cho vay mua nhà liên bang
Ví dụ 1.15 Vào ngày 7/12/2001, trái phiếu Kho Bạc Mỹ kỳ hạn 5 năm có lãi suất trái
phiếu là 3,5% và ngày đáo hạn là 15/11/2006 Nó đã được ban hành vào ngày 15/11/2001 Ngược lại, trái phiếu Kho Bạc Mỹ kỳ hạn 5 năm có lãi suất trái phiếu là 7%
và ngày đáo hạn là 15/07/2006 Ngày phát hành của nó là 15/07/1996 Lưu ý sự khác biệt của mức coupon giữa hai Có hai lý do giải thích cho điều đó: thứ nhất, trái phiếu Kho Bạc kỳ hạn 5 năm ban đầu là trái phiếu Kho Bạc kỳ hạn 10 năm Mức coupon của
nó phản ánh mức lợi suất 10 năm tại thời điểm đó Thứ hai, mức của đường cong lợi suất của Chính Phủ Hoa Kỳ vào ngày 15/07/96 cao hơn ít nhất 200 điểm cơ bản so với mức của đường cong lợi suất của Chính Phủ Hoa Kỳ vào ngày 15/11/2001 Hơn nữa, vào ngày 07/12/2001, lợi suất của trái phiếu sắp phát hành là 4,48% so với lợi suất 4,45% của trái phiếu chuẩn, điều này minh họa mức độ phong phú tương đối của trái phiếu sau này (xem Chương 2 để biết thêm chi tiết về khái niệm lợi suất trái phiếu)
Trang 25(Freddie Mac ), Hệ thống tín dụng trang trại (FCS), Hiệp hội tiếp thị khoản vay sinh viên (Sallie Mae), Công ty tài trợ giải pháp (REFCO) và Cơ quan quản lý thung lũng Tennessee (TVA) Các cơ quan có ít nhất hai đặc điểm chung Đầu tiên, các cơ quan được tạo ra để thực hiện mục đích chung Ví dụ, Fannie Mae và Freddie Mac nhằm mục đích cung cấp tính thanh khoản cho thị trường thế chấp nhà ở FCS nhằm mục đích hỗ trợ cho vay về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và nông thôn REFCO nhằm mục đích cung cấp sự tài trợ tài chính để giải quyết các cuộc khủng hoảng tiết kiệm Thứ hai, nợ của hầu hết các cơ quan không được bảo đảm bởi Chính Phủ Hoa Kỳ Trong khi trái phiếu đại lý được liên bang tài trợ (Fannie Mae, FHLBS, Freddie Mac, FCS, Sallie Mae, REFCO) thường không được hỗ trợ bởi niềm tin và sự tín nhiệm hoàn toàn từ Chính Phủ Hoa Kỳ, và do đó loại trái phiếu này có phí bảo hiểm tín dụng, thì các tổ chức trái phiếu liên quan đến liên bang (GNMA: Hiệp hội thế chấp quốc gia của Chính Phủ) thường được bảo đảm bằng niềm tin tưởng hoàn toàn và uy tín tín dụng của Chính phủ Hoa Kỳ, nhưng vì chúng là những vấn
đề tương đối nhỏ nên chúng có phí bảo hiểm thanh khoản cao Các cơ quan được tổ chức khác nhau Trong khi Fannie Mae, Freddie Mac và Sallie Mae thuộc sở hữu của các cổ đông thuộc khu vực tư nhân, thì Hệ thống tín dụng trang trại và Hệ thống ngân hàng cho vay mua nhà liên bang là các hợp tác xã thuộc sở hữu của các thành viên và người đi vay Một cơ quan khá lớn, Cơ quan Thung lũng Tennessee, thuộc sở hữu của Chính Phủ Hoa
là trái phiếu có tiền gốc và tiền lãi được bảo đảm bằng niềm tin tưởng hoàn toàn và uy tín tín dụng từ người phát hành và thường được bảo lãnh bởi quyền đánh thuế không giới hạn hoặc hạn chế của người phát hành Loại thứ hai là Trái phiếu Đô Thị có tiền gốc và tiền lãi được đảm bảo bằng doanh thu từ các dự án đang hoạt động tạo ra mà được tài trợ bằng số
Trang 26tiền thu được từ việc phát hành trái phiếu Nhiều trái phiếu trong số này được phát hành bởi các cơ quan đặc biệt được tạo ra nhằm mục đích này.
Bảng 1.2 Phân tích ngành của Chỉ số cấp độ đầu tư rộng rãi của Hoa Kỳ kể từ ngày 30 tháng
Nguồn: Salomon Smith Barney.
Chúng tôi cung cấp trong Bảng 1.2 phân tích theo ngành của chỉ số cấp độ đầu tư rộng rãi của Hoa Kỳ tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2001
Trang 27số nhiều đặc điểm pháp lý của khoản nợ của các Cơ quan Chính Phủ, người ta có thể thấy rằng
– giám đốc của các cơ quan được bổ nhiệm bởi Tổng thống Hoa Kỳ,
– việc phát hành chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận của Bộ Tài chính Hoa Kỳ,
– trái phiếu được phát hành và thanh toán thông qua Hệ thống Dự trữ Liên bang,
– trái phiếu là tài sản thế chấp đủ điều kiện cho các khoản tạm ứng và chiết khấu của Ngân hàng Dự trữ Liên bang,
- trái phiếu đủ điều kiện để mua trên thị trường mở
• Các vấn đề về nợ của đô thị, khi được xếp hạng, có xếp hạng từ triple-A, đối với những khoản nợ tốt nhất, đến C hoặc D, đối với những khoản nợ tồi tệ nhất Bốn tiêu chí cơ bản được các cơ quan xếp hạng sử dụng để đánh giá xếp hạng Trái phiếu Đô Thị:
– cơ cấu nợ của tổ chức phát hành;
– khả năng và kỷ luật chính trị của tổ chức phát hành để duy trì hoạt động ngân sách lành mạnh;
– thuế địa phương và các nguồn thu liên Chính Phủ của tổ chức phát hành;
– môi trường kinh tế xã hội tổng thể của tổ chức phát hành
Các đặc điểm khác Trái phiếu của Chính Phủ và Đô Thị có thể được phân biệt theo loại
dòng tiền, thời gian đáo hạn, loại kỳ hạn và loại lãi suất của chúng
Về loại dòng tiền, tồn tại các loại trái phiếu như là: trái phiếu chiết khấu, trái phiếu trả lãi theo hình thức cố định và thả nổi Đối với mức kỳ hạn, kỳ hạn 1 năm là ranh giới phân biệt các công cụ thị trường tiền tệ (có kỳ hạn dưới mức này) với các công cụ trái phiếu (có kỳ hạn trên mức này) Ví dụ, trái phiếu Kho Bạc có kỳ hạn gốc bằng hoặc dưới 1 năm được gọi là tín phiếu Kho Bạc; chúng là trái phiếu chiết khấu Trái phiếu Kho Bạc có kỳ hạn gốc
từ 2 năm đến 10 năm gọi là trái phiếu Kho Bạc, trái phiếu Kho Bạc có kỳ hạn gốc trên 10 năm gọi là trái phiếu Kho Bạc; cả hai đều là trái phiếu coupon, và một số trong số chúng bị tước bỏ Theo loại kỳ hạn, trái phiếu có thể được thu hồi hoặc không trước khi đáo hạn Trái phiếu có kỳ hạn duy nhất được gọi là trái phiếu có thời hạn trong khi trái phiếu có thể được thu hồi trước khi đáo hạn được gọi là trái phiếu có thể thu hồi Mặc dù Chính Phủ Hoa Kỳ không còn phát hành trái phiếu có thể thu hồi, nhưng vẫn còn những vấn đề tồn
Trang 28đọng với quy định này Ngoài ra, trái phiếu Kho Bạc là trái phiếu đạn, có nghĩa là chúng không có khoản thanh toán khấu hao Liên quan đến loại lãi suất, trái phiếu đại lý, trái phiếu thành phố và hầu hết trái phiếu Kho Bạc là trái phiếu mang lãi suất danh nghĩa Chỉ một số trái phiếu Kho Bạc được liên kết với lạm phát, nghĩa là chúng có lãi suất coupon thực Chúng được gọi là TIPS (Chứng khoán được Bảo vệ khỏi Lạm phát Kho Bạc)
Thị trường Trái phiếu Kho Bạc được giao dịch trên bốn thị trường sau: thị trường sơ cấp,
thị trường thứ cấp, thị trường trái phiếu Kho Bạc khi phát hành và thị trường repo
• Thị trường sơ cấp là thị trường nơi trái phiếu mới phát hành được bán lần đầu tiên thông qua đấu giá được thực hiện trên cơ sở chào mua cạnh tranh Quá trình đấu giá diễn ra giữa Kho Bạc và các đại lý chính/không chính theo chu kỳ thông thường đối với các trái phiếu
có kỳ hạn cụ thể Các chu kỳ đấu giá như sau: trái phiếu 2 năm được đấu giá hàng tháng
và kết thúc vào ngày 15 Trái phiếu 5 năm được bán đấu giá hàng quý vào tháng 2, tháng
5, tháng 8 và tháng 11 hàng năm và thanh toán vào cuối tháng Trái phiếu 10 năm được bán đấu giá hàng quý vào tháng 2, tháng 5, tháng 8 và tháng 11 hàng năm và kết thúc vào ngày 15 của tháng Trái phiếu kỳ hạn 30 năm được bán đấu giá nửa năm một lần vào tháng 2 và tháng 8 hàng năm và thanh toán vào ngày 15 của tháng Việc đấu giá do Kho Bạc thông báo trước một tuần, ngày phát hành được ấn định sau đấu giá từ một đến năm ngày
• Thị trường thứ cấp là thị trường mua và bán các trái phiếu đã phát hành trước đó, một nhóm các đại lý trái phiếu của Chính Phủ Hoa Kỳ đưa ra giá mua và bán liên tục đối với các trái phiếu Kho Bạc đang lưu hành cụ thể Đó là một thị trường tự do
• Thị trường trái phiếu Kho Bạc khi phát hành là thị trường nơi trái phiếu Kho Bạc được giao dịch trên cơ sở kỳ hạn trước khi chúng được Kho Bạc phát hành
• Cuối cùng, thị trường repo là thị trường mà trái phiếu được dùng làm tài sản đảm bảo cho các khoản vay Cần phải phân biệt giữa lãi suất repo thế chấp chung (GC) và lãi suất repo đặc biệt
Tỷ lệ repo GC áp dụng cho phần lớn trái phiếu Kho Bạc Tỷ lệ repo đặc biệt là tỷ lệ repo
cụ thể Họ thường quan tâm đến các trái phiếu đang lưu hành và rẻ nhất để phân phối, vốn rất đắt đỏ Đây là lý do tại sao lãi suất repo đặc biệt thấp hơn lãi suất repo của GC Thật
Trang 29vậy, vì những trái phiếu này có nhu cầu rất cao nên người vay những trái phiếu này trên thị trường repo nhận được lãi suất repo tương đối thấp hơn so với trái phiếu Kho Bạc thông thường.
Bảng 1.3 Chỉ số Trái phiếu Chính Phủ Toàn cầu của JP Morgan Trọng số Quốc gia tính đến ngày 1 tháng 6 năm 2001 và ngày 1 tháng 9 năm 1997
Tỷ trọng thị trườngtính đến ngày 01/06/01 (%)
Tỷ trọng thị trườngtính đến ngày 01/09/97 (%)
Diễn biến của trọng số giữa 09/97 và 06/01 (%)
Tổng quan về các tổ chức phát hành chính Bốn tổ chức phát hành trái phiếu Chính Phủ
lớn (ở đây đề cập đến trái phiếu Chính Phủ là loại trái phiếu do Kho Bạc của mỗi quốc gia phát hành) trên thế giới là Euroland, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh Bảng 1.3 đưa
ra phân tích phần trăm quốc gia về Chỉ số Trái phiếu Chính Phủ Toàn cầu của JP Morgan, đây là chỉ số chuẩn cho các thị trường nợ Chính Phủ phát triển Lưu ý rằng nếu chúng tôi
đề cập bao gồm các quốc gia EMU (Liên minh tiền tệ châu Âu) còn lại, tỷ trọng của Euroland sẽ cao hơn một chút
Điều đáng chú ý là từ năm 1997 đến 2001, trọng lượng của Nhật Bản đã tăng hơn gấp đôi, trong khi trọng lượng của Hoa Kỳ đã giảm khoảng một phần ba và trọng lượng của Vương
Trang 30quốc Anh đã giảm gần 15% Trong khi đó, trọng lượng của Euroland đã tăng nhẹ Những
lý do điển hình cho điều này là thặng dư ngân sách của Hoa Kỳ và chương trình mua lại của Bộ Tài chính, cũng như tình hình khủng hoảng tín dụng ở Nhật Bản, đã dẫn đến các chương trình phát hành JGBs (Trái phiếu Chính Phủ Nhật Bản) khổng lồ
Trái phiếu Doanh Nghiệp
Đặc điểm chính Trái phiếu Doanh Nghiệp được phát hành bởi các tổ chức (công ty, ngân
hàng) thuộc khu vực tư nhân Trái phiếu Doanh Nghiệp đại diện cho cái mà những người tham gia thị trường gọi là thị trường tín dụng Chúng kém thanh khoản hơn nhiều so với trái phiếu Chính Phủ: chúng chịu chênh lệch giá mua-giá bán cao hơn
Đối với trái phiếu Chính Phủ và Trái phiếu Đô Thị, tổ chức phát hành trái phiếu Doanh Nghiệp có nghĩa vụ tôn trọng các cam kết của mình với trái chủ
Việc không trả lại tiền lãi hoặc tiền gốc theo các điều khoản của thỏa thuận sẽ cấu thành điều được gọi là vỡ nợ Về cơ bản, có hai nguồn vỡ nợ Đầu tiên, các cổ đông của một Tập Đoàn có thể quyết định phá vỡ hợp đồng nợ Điều này xuất phát từ tình trạng trách nhiệm hữu hạn của họ: họ chỉ chịu trách nhiệm về những tổn thất của công ty đối với khoản đầu
tư của họ vào đó Họ không phải trả lại cho chủ nợ khi điều đó ảnh hưởng đến tài sản cá nhân của họ Thứ hai, các chủ nợ có thể thúc đẩy phá sản khi các điều khoản bảo vệ khoản
nợ cụ thể, được gọi là các giao ước, bị vi phạm
Trái phiếu Doanh Nghiệp được cho là bị ảnh hưởng bởi rủi ro vỡ nợ hoặc tín dụng Lợi suất của chúng bao gồm phí bảo hiểm vỡ nợ so với trái phiếu Kho Bạc, chiếm tổng rủi ro vỡ nợ
Ví dụ 1.16 Vào ngày 10/12/2001, chênh lệch giá chào mua đối với trái phiếu Chính Phủ
6% 15/08/2009 là 1,5 xu, trong khi đối với trái phiếu công ty Ford 7,375% 28/10/2009
là 60 xu Nguồn định giá được sử dụng là BGN, là giá trung bình của những người đóng góp tích cực nhất Đó là một mức giá đồng thuận thị trường