ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA ĐỊA LÝ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐỊA LÝ
🙤🙤🙤🙤🙤
BÁO CÁO CUỐI KỲ
MÔN: KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
CHỦ ĐỀ: KINH TẾ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Họ và tên: Đỗ Thị Mỹ Linh
Lớp: Địa Lý Kinh tế - Phát triển vùng K40
GVHD: TS Lê Đức Tuấn
TP Hồ Chí Minh, tháng 12, năm 2022
Trang 2MỤC LỤC CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG VÀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 4
1 Kinh tế môi trường 4
1.1 Môi trường 4
1.2 Kinh tế môi trường 4
1.3 Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu kinh tế môi trường 5
2 Phát triển bền vững 8
2.1 Khái niệm 8
2.2 Phân loại 9
2.3 Tiêu chuẩn chung của phát triển bền vững 10
2.4 Điều kiện để phát triển bền vững 14
2.5 Nguyên tắc để phát triển bền vững 16
2.6 Thước đo phát triển bền vững 19
3 Mối quan hệ giữa kinh tế môi trường và phát triển bền vững 21
3.1 Tác động kinh tế đến môi trường 21
3.2 Tác động môi trường đến sự phát triển bền vững 23
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG KINH TẾ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 24
1 Thực trạng phát triển bền vững ở Việt Nam 24
1.1 Kinh tế: 24
1.2 Xã hội: 25
1.3 Tài nguyên và môi trường 27
2 Thực trạng ô nhiễm môi trường Việt Nam 29
Trang 32.1 Ô nhiễm môi trường nước 29
2.2 Ô nhiễm môi trường không khí 31
2.3 Ô nhiễm môi trường đất 33
3 Nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm môi trường Việt Nam 36
3.1 Nguyên nhân khách quan 36
3.2 Nguyên nhân chủ quan 36
4 Thách thức kinh tế môi trường đối với phát triển bền vững ở Việt Nam 37
5 Định hướng bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững 46
6 Đề xuất giải pháp phát triển bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường ở Việt Nam .49 CHƯƠNG III KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Tài liệu Tiếng Việt 51
Tài liệu Tiếng Anh 52
Trang 4CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT
TRIỂN BỀN VỮNG
1 Kinh tế môi trường
1.1 Môi trường
Theo Masn và Langenhim (1957), môi trường là tổng hợp các yếu tố tồn tại chungquanh sinh vật và ảnh hưởng đến sinh vật Ví dụ: bông hoa mọc trong rừng chịu ảnhhưởng của những điều kiện nhất định như nhiệt độ, ánh sáng, không khí, đất, khoángchất, cây cối bên cạnh, con thú, gió…
Theo Joe Whitenney (1993), môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể có liênquan mật thiết và ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người như đất, nước, không khí, ánhsáng mặt trời, rừng, biển, tầng ozon, đa dạng sinh học…
Môi trường là tổng hợp các điều kiện và ảnh hưởng ngoại cảnh tác động lên sựsống và sự phát triển của cơ thể sống Sự sống được biểu hiện thông qua các quá trìnhtrao đổi chất, năng lượng, thông tin, quá trình biến dị và di truyền, quá trình thích nghi,phát triển và hủy diệt
Một cách khái quát nhất môi trường tự nhiên là một tập hợp của những nhóm yếutố thiên nhiên gồm: một không gian với những yếu tố vật chất biến động trong khônggian đó, một hay nhiều nguồn năng lượng khống chế các yếu tố này và thời gian Các yếutố biến động trong không gian và thời gian đó là: đất, nước, không khí, sinh vật, địa chất,khí hậu
1.2 Kinh tế môi trường
Kinh tế môi trường được xem là phụ ngành nằm giữa kinh tế học và khoa học môitrường Nghĩa là, sử dụng các nguyên lý, công cụ kinh tế để nghiên cứu các vấn đề môitrường và ngược lại, trong nghiên cứu, tính toán kinh tế phải tính các vấn đề về môitrường Như vậy, các vấn đề đặt ra trong kinh tế môi trường nằm giữa kinh tế và hệ tựnhiên nên chúng rất phức tạp và do đó cũng có thể coi kinh tế môi trường như là một phụngành trung gian giữa các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Trang 51.3 Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu kinh tế môi trường
1.3.1 Đối tượng
Kinh tế tài nguyên môi trường vận dụng các lý thuyết kinh tế nhằm tối đa hoáphúc lợi xã hội trong hiên tại và tương lai cho việc khai thác, sử dụng các nguồn tàinguyên có thể tái tạo và không thể tái tạo
Nghiên cứu, đưa ra các lý thuyết tối ưu hoá quá trình ô nhiễm môi trường, cáccông cụ quản lý môi trường đồng thời thiết lập các phương pháp đánh giá môi trường Từ
đó làm phong phú hơn chất lượng của môi trường
1.3.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của Kinh tế tài nguyên môi trường là trang bị cơ sở khoa học kinh tếcho việc nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên, môitrường Nghiên cứu các phương thức kinh tế sử dụng tối ưu tài nguyên và kinh tế ô nhiễmmôi trường đánh giá tác động tiêu cực, tích cực đến môi trường của các chương trình dự
án nhằm bảo vệ tài nguyên, môi trường một cách hiệu quả
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu kinh tế môi trường
a) Phương pháp hệ thống
Trong lĩnh vực kinh tế môi trường, phương pháp này được sử dụng để phân tíchmối quan hệ qua lại giữa phát triển kinh tế và môi trường, kết hợp hiệu quả kinh tế vớihiệu quả môi trường sinh thái trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định
b) Phương pháp phân tích cận biên
Trong kinh tế học hiện đại, phân tích biên dựa trên chi phí biên (MC) và doanh thubiên (MR) Cách tiếp cận từ xem xét sản xuất thêm 1 đơn vị sản phẩm sẽ ảnh hưởng nhưthế nào đến lợi nhuận Thực chất của phân tích biên là giải thích các ñiều kiện tối ưu - cácdạng phương trình vi phân - được xác định từ các mô hình toán kinh tế Trong hoạt động
vi mô, lợi nhuận đạt tối đa khi doanh thu biên bằng với chi phí cận biên, ở đó ta có mứcsản lượng tối ưu Trong kinh tế tài nguyên môi trường, tại điểm tối ưu là đạt lợi ích xã hội
Trang 6tối đa, do đó tổng chi phí biên (đường cung) và tổng doanh thu biên (đường cầu) có tínhđến phạm vi xã hội.
Bất cứ sự lựa chọn kinh tế nào cũng liên quan đến hai vấn đề cơ bản là: chi phí vàlợi ích của sự lựa chọn Cả hai biến số này đều thay đổi khi các thành viên kinh tế đưa racác sự lựa chọn với quy mô khác nhau Mọi thành viên kinh tế đều mong muốn tối đa hoálợi ích ròng (hiệu số giữa lợi ích và chi phí)
Lợi ích ròng = Tổng lợi ích – Tổng chi phí
Giả sử hàm tổng lợi ích là TB = f(Q), hàm tổng chi phí là TC = g(Q) Điều đó cónghĩa là tổng lợi ích thu được cũng như tổng chi phí bỏ ra cho một sự lựa chọn phụ thuộcvào qui mô của sự lựa chọn đó (Q) Khi đó lợi ích ròng là NB = TB – TC = f(Q) – g(Q)
NB đạt giá trị cực đại khi (NB)’ (Q) = 0, ta có:
(NB)’ (Q) = TB’ (Q) – TC’ (Q) = 0
=> MB – MC = 0
=> MB = MC
Vậy lợi ích ròng đạt giá trị cực đại khi MB=MC
– Nếu MB > MC thì mở rộng quy mô hoạt động sẽ làm tăng lợi ích ròng;
– Nếu MB = MC quy mô hoạt động là tối ưu;
– Nếu MB < MC thì thu hẹp quy mô hoạt động sẽ làm tăng lợi ích ròng
Trang 7c) Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí (BCA - Benefit - Cost Analysis)
Hanley và Spash (1994) đề xuất một quy trình thực hiện CBA gồm 8 bước [1] nhưHình 1, và được thể hiện tóm tắt như sau:
Hình 1: Quy trình thực hiện phân tích CBA (Hanley và Spash, 1994)
BCA trong lĩnh vực kinh tế môi trường có nội dung mở rộng, tính toán đầy đủ hơncác lợi ích - chi phí có liên quan đến nhiều cá nhân trong xã hội, được gọi là phân tích lợiích - chi phí xã hội Giữa lợi ích - chi phí doanh nghiệp với lợi ích - chi phí xã hội có thểmâu thuẫn nhau và có nhiều quan điểm khác biệt
Lợi ích - chi phí doanh nghiệp thường được xác định qua giá thị trường, còn lợiích - chi phí xã hội nhiều khi không thể đánh giá qua giá thị trường mà bằng giá xã hội.Giá xã hội phản ánh cả chi phí cơ hội và các chi phí lợi ích do ngoại ứng tạo ra và bằngnhiều phương pháp ước tính, không có sẵn trên thị trường
Quy luật lợi ích - chi phí biểu hiện trong phương trình:
Bước 3: Xác định
những tác động nào là phù hợp về
Bước 6: Chiết
khấu giá trị tiền tệ
các dòng chi phí và
Trang 8Trong đó: B: Lợi ích C: Chi phí.
Một cách khái quát, lợi ích là tăng thoả mãn nhu cầu còn chi phí là giảm mức thoảmãn nhu cầu của con người
Lợi ích được đo bằng sự sẵn lòng trả (WTP) của người tiêu thụ về một mặt hàngnào đó trên thị trường Chi phí được tính bằng số tiền sẵn lòng chấp nhận (WTA) trên thịtrường hoặc nếu có thị trường để đền bù những hàng hoá - dịch vụ mà họ phải bỏ ra hoặc
để chịu đựng những điều họ không thích Để nhấn mạnh chi phí và lợi ích của môitrường, ta tách phân môi trường thành số hạng E Phương trình trên trở thành:
∑
i=0
n [B¿¿i−C i ± E i]
(1+r) i >0 ¿
d) Phương pháp toán học và đồ thị
Kinh tế môi trường sử dụng phương pháp toán học để mô hình hoá các mối quanhệ giữa kinh tế và môi trường, đánh giá và điều khiển tối ưu các quan hệ đó Đây lànhững điều kiện tương thích với mục tiêu phát triển bền vững kết hợp hiệu quả kinh tếvới hiệu quả bảo vệ môi trường Phương pháp đồ thị được ứng dụng rộng rãi trong nghiêncứu và minh hoạ các lý thuyết kinh tế hiện đại, hỗ trợ cho phương pháp toán học
2 Phát triển bền vững
2.1 Khái niệm
Theo Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) (1980), đã đưa ramục tiêu của phát triển bền vững là “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệcác tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ phát triển bền vững ở đây được đề cập tới với mộtnội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọiviệc bảo tồn các tài nguyên sinh vật
Trang 9(IUCN-Theo Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc(1987), Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu của thế hệ hiệntại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Hay nóicách khác nó chính là việc cải thiện chất lượng sống của con người trong khả năng chịuđựng được của hệ sinh thái.
Phát triển bền vững được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môitrường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992 và được bổ sung, hoànchỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg(Cộng hoà Nam Phi) năm 2002: "Phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kếthợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhấtlà tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoáđói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ônhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng;khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)
Tóm lại, Phát triển bền vững là một sự phát triển lành mạnh trong đó sự phát triểncủa cá nhân này không làm thiệt hại ñến lợi ích của cá nhân khác, sự phát triển của cánhân không làm thiệt hại đến sự phát triển của cộng đồng, sự phát triển của cộng đồngngười này không làm ảnh hưởng thiệt hại đến lợi ích của cộng đồng người khác và sựphát triển của thế hệ hôm nay không xâm phạm đến lợi ích của thế hệ mai sau và sự pháttriển của loài người thì không đe doạ sự sống còn hay làm suy giảm điều kiện sống củacác loại sinh vật khác trên hành tinh
Trang 10những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợđiều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất.
Xã hội bền vững: Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú trọngvào sự phát triển sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vựcphát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thânvà có điều kiện sống chấp nhận được
Kinh tế bền vững: Yếu tố kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triểnbền vững Nó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc vớinhững nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tàinguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia xẻ một cách bình đẳng Khẳngđịnh sự tồn tại cũng như phát triển của bất cứ ngành kinh doanh, sản xuất nào cũng đượcdựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnhvượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít,trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơbản của con người
2.3 Tiêu chuẩn chung của phát triển bền vững
Các đặc trưng sinh thái, văn hóa, dân tộc của địa phương được đánh giá đa dạngnhư thế nào thì phát triển bền vững cũng cần phải thỏa mãn các tiêu chuẩn chung đượctrình bày ở bảng dưới đây
Các tiêu chuẩn bền vững và các ngành kinh tế liên quan
Nguồn: Nguyễn Đình Hòe 2002
Tiêu chuẩn phát
triển bền vững
Lĩnh vực quy hoạch phát triển vùng
Trang 11tạo các thế hệ tương lai Một nguyên tắc
chính của phát triển bền vững là sử dụng tài nguyên tái tạo hết sức hợp lý và tiết kiệm
Tài nguyên không tái tạo bao gồm cả cảnh quan, địa chất, sinh thái đơn nhất vàkhông thể thay thể đóng góp vào khả năng sản xuất
Sử dụng tài nguyên
tái tạo dưới
ngưỡng tự tái tạo
Sử dụng và quản lý
các chất độc hại và
chất thải theo
hướng thân thiện
với môi trường
Bảo tồn sinh vật
hoang dại, các sinh
- Môi trường Một nguyên tắc cơ bản nhất là phải duy
trì, cải thiện chất lượng và các nguồn di
Trang 12cảnh và cảnh quan - Nông nghiệp
Duy trì và cải thiện
chất lượng tài
nguyên đất và
Duy trì và cải thiện
chất lượng các tài
nguyên văn hóa và
chất lượng môi
trường địa phương
- Môi trường (đôthị)
Trang 13- Năng lượng
- Thủy lợi
Môi trường địa phương chịu ảnh hưởng rất lớn mỗi khi thay đổi các hoạt động giao thông, công nghiệp, xây dựng, khai
mỏ, phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển
du lịch
Bảo vệ khí quyển
(ví dụ biến đổi khí
Nâng cao nhận
thức,giáo dục và
đào tạo môi
Tăng cường sự
tham gia của cộng
Tất cả các lĩnh vực Tuyên ngôn Rio (UNCED, 1992) xác
định rằng, sự tham gia của cộng đồng,
Trang 142.4 Điều kiện để phát triển bền vững
- Sự phối hợp chặt chẽ giữa các nước để đảm bảo phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu.
Một điều bất cập về phát triển bền vững đối với tất cả các quốc gia là luôn vì lợiích của mình mà quên đi lợi ích chung như việc các nước phát triển thải hoặc bán rẻnhững công nghệ cũ, lạc hậu, gây ô nhiễm cao cho những nước nghèo hoặc bỏ tiền ramua tài nguyên thô của những nước đang phát triển để phục vụ phát triển công nghiệpcủa nước mình Điều này đã đẩy nhanh quá trình làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiênnhiên của những nước nghèo, gây mất cân bằng sinh thái, gây ra thiên tai, lũ lụt, thoáihóa môi trường,…
Với những nước đang phát triển là những nước mới bắt đầu bước ra khỏi sự phụthuộc quá nhiều vào thiên nhiên Chính phủ cũng như người dân những nước khai thác tàinguyên thiên nhiên để tồn tại, họ chỉ thấy lợi trước mắt là việc làm, thu nhập , nên đãkhông có ý thức bảo vệ môi trường Do điều kiện phát triển kinh tế cũng như nhận thứccủa những nước đang phát triển còn kém nên vấn đề bảo vệ môi trường nói riêng cũngnhư phát triển bền vững nói chung là việc khá xa vời Hơn nữa nếu có nhận thức đượcviệc làm đó ảnh hưởng xấu đến môi trường thì những nước này cũng không có kinh tế đểlựa chọn giải pháp khác để khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường do chính họ gây
Trang 15ra.Tác động môi trường không chỉ xảy ra riêng với một quốc gia nào mà xảy ra trên toànthế giới Hiện nay, các nước đã nhận thức về việc bảo vệ môi trường và các hành độngtích cực nhằm phát triển bền vững ngày càng tăng Các nước phát triển đã giúp đỡ cácnước đang phát triển, đặc biệt một số nước nghèo đã khắc phục hậu quả ô nhiễm môitrường và có những nỗ lực lớn trong việc nghiên cứu nguồn nguyên liệu sạch thay thế.Các nước đang phát triển đã sử dụng có chọn lọc công nghệ nhằm giảm thiểu tác độngđến môi trường Các nước đang trong quá trình chuyển đổi đã chuyển đổi đã chuyểnhướng sang mục tiêu phát triển bền vững, hài hòa xã hội
Tăng trưởng kinh tế rất nhanh trong giai đoạn vừa qua có phần bị trả giá bởi tổn thấtvề tài nguyên thiên nhiên, sự xuống cấp của môi trường và gia tăng về khỏang cách giàunghèo cũng như việc không đáp ứng kịp tốc độ sử dụng dịch vụ công gia tăng nhanhchóng của xã hội Sức ép đó đòi hỏi các nước phải đánh giá “toàn diện vai trò của Chínhphủ với phát triển bền vững”, đồng thời đòi hỏi các nước phải có sự phối hợp chặt chẽvới nhau để đảm bảo phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu
- Năng lực của các cơ quan chỉ đạo trong việc điều phối hoạt động phát triển bền vững
Phát triển bền vững đòi hỏi thay đổi mô thức sản xuất, tiêu dùng của con người Conngười buộc phải thay đổi cách thức đối xử với thiên nhiên, công việc này cần thực hiệnlâu dài và phải bắt đầu từ thế hệ thiếu niên, nhi đồng cho tới tầng lớp lãnh đạo ở cấp caocũng như ở lớp người cao tuổi trong xã hội Trong công việc này, vai trò then chốt thuộcđội ngũ tri thức, cán bộ làm công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đội ngũ truyềnthông, báo chí,…
- Thể chế nhà nước cần minh bạch, rõ ràng
Tính bền vững của sự phát triển phụ thuộc lớn vào thể chế và tính bền vững của thểchế Đó là sự minh bạch, rõ ràng, có hiệu lực của hệ thống luật pháp, chính sách, sự đồngthuận của xã hội, sự ổn định về chính trị,… Tính bền vững của thể chế không chỉ thể hiện
ở những giai đoạn kinh tế đang ở thời kỳ hưng thịnh, mà đặc biệt thể hiện rõ ở những giai
Trang 16đoạn kinh tế khó khăn, thậm chí rơi vào khủng hoảng Nhưng nếu quốc gia có thể chếvững chắc thì kinh tế xã hội sẽ mau chóng bình phục và vượt qua khó khăn khăn với mứcchi phí thấp nhất Thực tế cho thấy, những quốc gia có nền kinh tế tăng trưởng nhanh vàbền vững đều có chung đặc điểm cơ bản là ổn định về chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, tỷlệ lạm phát thấp, quản lý nhà nước tốt, môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân.Song những quốc gia có nền kinh tế, chính trị không ổn định sẽ gây khó khăn cho tầnglớp dân cư, đặc biệt là người nghèo, những người ít có khả năng tự bảo vệ mình trướcnhững biến động Đối với nhà nước, chất lượng quản lý được đo lường qua các tiêu chí
cơ bản như ổn định chính trị và không bạo lực, hiệu lực chính phủ, chất lượng luật lệ quyđịnh, quản lý thông qua luật pháp, kiểm soát tham nhũng Những quốc gia có quản lý nhànước mạnh luôn đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh hơn các nước quản trị quốc gia yếukém
2.5 Nguyên tắc để phát triển bền vững
- Nguyên tắc về sự uỷ thác của nhân dân
Nguyên tắc này yêu cầu chính quyền phải hành động để ngăn ngừa các thiệt hại môitrường ở bất cứ đâu khi xảy ra, bất kể đã có hoặc chưa có các điều luật quy định về cáchgiải quyết các thiệt hại đó Nguyên tắc này cho rằng, công chúng có quyền đòi chínhquyền với tư cách là tổ chức đại diện cho họ phải có hành động ứng xử kịp thời các sự cốmôi trường
- Nguyên tắc phòng ngừa
Ở những nơi có thể xảy ra các sự cố môi trường nghiêm trọng và không đảo ngượcđược, thì không thể lấy lý do là chưa có những hiểu biết chắc chắn mà trì hoãn các biệnpháp ngăn ngừa sự suy thoái môi trường Nguyên tắc phòng ngừa được đề xuất từ các bàihọc kinh nghiệm của thế giới về phát minh ra thuốc trừ sâu DDT và tác hại của việc khaithác rừng mưa Brazin Phát minh ra DDT vào những năm 50-60 của thế kỷ 20 được xemlà phát minh vĩ đại của loài người, vì nó đã tạo ra cho con người một loại vũ khí mạnh đểtiêu diệt bệnh sốt rét và các loại côn trùng phá hoại mùa màng Tuy nhiên, việc phát hiện
Trang 17ra tính chất độc hại kéo dài và khả năng tích luỹ của DDT trong các mô mỡ của cơ thểcon người và sinh vật về sau đã dẫn tới việc cấm sử dụng chúng Thí dụ liên quan đếnrừng mưa Brazin cũng xảy ra vào những năm đó, khi chính phủ Brazin được các cố vấnkhoa học tư vấn rằng: để phát triển nhanh về kinh tế, cần phải khai thác khu rừng mưanhiệt đới, nơi chỉ có những người Indian nguyên thuỷ sinh sống Chính phủ Brazin đã chophép mở đường khai thác khu vực rừng mưa Kết quả là nhiều khu rừng bị phá huỷ, tính
đa dạng sinh học của rừng suy giảm, lá phổi hành tinh bị thu hẹp Bản thân người Indiankhông phát triển được, mà còn bị tiêu diệt bởi các chứng bệnh của nền văn minh du nhậpnhư: viêm phổi, HIV/AIDS, v.v
Nguyên tắc phòng ngừa có một số lý do để tồn tại: khoa học, kinh tế và xã hội Lý dokhoa học tồn tại nguyên lý phòng ngừa như đã nói trên liên quan đến sự hiểu biết chưađầy đủ hoặc thiếu kinh nghiệm của con người về ảnh hưởng của các phát minh mới, sảnphẩm mới, hành động mới, v.v Lý do kinh tế của nguyên lý phòng ngừa là biện phápphòng ngừa bao giờ cũng có chi phí thấp hơn biện pháp khắc phục Lý do xã hội củanguyên lý phòng ngừa liên quan tới sức khoẻ và sự tồn tại an toàn của con người
- Nguyên tắc công bằng giữa các thế hệ
Đây là nguyên tắc cốt lõi của phát triển bền vững, yêu cầu rõ ràng rằng, việc thoả mãnnhu cầu của thế hệ hiện nay không được làm phương hại đến các thế hệ Phát triển bềnvững tương lai thoả mãn nhu cầu của họ Nguyên tắc này phụ thuộc vào việc áp dụngtổng hợp và có hiệu quả các nguyên tắc khác của phát triển bền vững Tài nguyên và cácchức năng môi trường của trái đất đang là các yếu tố quyết định sự tồn tại của loài ngườichúng ta Tài nguyên và các chức năng môi trường của trái đất theo khả năng tái tạo cóthể chia thành hai loại: tái tạo và không tái tạo Loại không tái tạo rõ ràng sẽ mất dần đitrong quá trình khai thác và sử dụng Loại tái tạo cũng có thể suy thoái, cạn kiệt do khaithác quá mức tái tạo và do ô nhiễm môi trường Sự phát triển của loài người hiện nayđang phải đối mặt với hàng loạt các khủng hoảng: khủng hoảng năng lượng, khủng hoảnglương thực, khủng hoảng môi trường và khủng hoảng dân số Các khủng hoảng này đanglàm cạn kiệt các dạng tài nguyên thiên nhiên, suy thoái các dạng tài nguyên xã hội và các
Trang 18chức năng môi trường Như vậy, các thế hệ con cháu chúng ta trong tương lai sẽ phải đốimặt với một nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể bị cạn kiệt và một không gian môitrường sống có thể bị ô nhiễm Để thực hiện công bằng giữa các thế hệ chúng ta cần: khaithác tài nguyên tái tạo ở mức thấp hơn khả năng tái tạo, khai thác và sử dụng hợp lý cácdạng tài nguyên không tái tạo và thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường sống của tráiđất.
- Nguyên tắc công bằng trong cùng một thế hệ
Con người trong cùng thế hệ hiện nay có quyền được hưởng lợi một cách bình đẳngtrong việc khai thác các nguồn tài nguyên và bình đẳng trong việc chung hưởng một môitrường trong sạch Nguyên tắc này được áp dụng để xử lý mối quan hệ giữa các nhómngười trong cùng một quốc gia và giữa các quốc gia Nguyên tắc này ngày càng được sửdụng nhiều hơn trong đối thoại quốc tế Tuy nhiên, trong phạm vi một quốc gia, nó cựckỳ nhạy cảm đối với các nguồn lực kinh tế - xã hội và văn hoá
Lịch sử phát triển của xã hội loài người trong quá khứ, hiện tại đang diễn ra trong bốicảnh sự phân chia và cạnh tranh giai cấp, dân tộc và quốc gia trong việc xác lập quyền lợikhai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các chức năng môi trường Do vậy để đảmbảo công bằng trong cùng một thế hệ đòi hỏi:
Xác lập quyền quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên của các cộng đồng dân cưtrong phạm vị một địa bàn lãnh thổ; xác lập quyền quản lý quốc gia đối với mọi nguồn tàinguyên thiên nhiên và xã hội trong lãnh thổ quốc gia; phân định quyền quản lý khai thácvà sử dụng tài nguyên giữa các quốc gia trên phạm vi phần lãnh thổ ngoài quyền tài pháncủa các quốc gia
Xác lập quyền và nghĩa vụ của các cộng đồng và các quốc gia trong việc khai thácvà sử dụng các chức năng môi trường của các vùng lãnh thổ và toàn bộ không gian tráiđất Thu hẹp sự chênh lệch kinh tế giữa các nước công nghiệp phát triển và các nướcđang phát triển và kém phát triển Tăng viện trợ phát triển cho các nước nghèo đồng thời
Trang 19với việc giảm sự lãng phí trong tiêu thụ tài nguyên của dân cư ở các quốc gia phát triển,giảm đói nghèo ở các nước đang phát triển.
Nguyên tắc công bằng về quyền tồn tại của con người và sinh vật trái đất Conngười và sinh vật trái đất là các thành phần hữu sinh trong hệ thống môi trường sống vôcùng phức tạp của hành tinh chúng ta: Tự nhiên - Con người và Xã hội loài người Cácsinh vật là các mắt xích của hệ thống đó, nên sự tồn tại của chúng liên quan đến sự bềnvững và ổn định của hệ thống môi trường Do vậy, các sinh vật tự nhiên có quyền tồn tạitrong không gian trái đất, cho dù nó có giá trị trực tiếp như thế nào đối với loài người Sựdiệt vong của các loài sinh vật sẽ làm mất đi nguồn gen quý hiếm mà trái đất chỉ có thểtạo ra nó trong nhiều triệu năm phát triển
- Nguyên tắc phân quyền và uỷ quyền
Các quyết định cần phải được soạn thảo bởi chính các cộng đồng bị tác động hoặc bởicác tổ chức thay mặt họ và gần gũi nhất với họ Vì vậy, các quyết định quan trọng cần ởmức địa phương hơn là mức quốc gia, mức quốc gia hơn là mức quốc tế Như vậy, cần cósự phân quyền và uỷ quyền về sở hữu tài nguyên, về nghĩa vụ đối với môi trường và vềcác giải pháp riêng của địa phương đối với các vấn đề môi trường Tuy nhiên, địa phươngchỉ là một bộ phận của quốc gia và là một phần nhỏ của các hệ thống quốc tế rộng lớn.Thông thường, các vấn đề môi trường có thể phát sinh ngoài tầm kiểm soát địa phương,ví dụ như sự ô nhiễm nước và không khí không có ranh giới địa phương và quốc gia.Trong trường hợp đó, nguyên tắc uỷ quyền cần được xếp xuống thấp hơn các nguyên tắckhác
- Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, người sử dụng môi trường phải trả tiền
Người gây ô nhiễm phải chịu mọi chi phí ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm đối vớimôi trường, bằng cách tính đầy đủ các chi phí môi trường nảy sinh từ các hoạt động của
họ và đưa các chi phí này vào giá cả của hàng hóa và dịch vụ mà họ cung ứng Người sửdụng các thành phần môi trường, tương tự như vậy cũng phải trả thêm chi phí về những
Trang 20thành phần môi trường họ đã sử dụng Các nguyên tắc này là cơ sở quan trọng để tínhthuế môi trường, phí môi trường và các khoản tiền phạt trong sử dụng tài nguyên và cácchức năng môi trường của doanh nghiệp và cá nhân.
2.6 Thước đo phát triển bền vững
Chỉ tiêu đo lường tiến bộ kinh tế cơ bản là GNP, nếu GNP tăng phúc lợi xã hộiđược cải thiện Tuy nhiên trên giác độ kinh tế môi trường, GNP không phản ánh sự pháhủy môi trường, mà điều này sẽ giảm phúc lợi kinh tế, do đó nên đánh giá các phá hủymôi trường và loại nó ra khỏi GNP Một số tài nguyên môi trường không mua bán đượcnhưng không có nghĩa là nó không có giá trị kinh tế Các nhà thống kê kế toán quốc giathường chỉ ước lượng khấu hao vốn do con người tạo ra mà không tính đến việc khấu haotài nguyên, những cái cũng hao mòn, ví dụ như khi trữ lượng dầu hay diện tích rừng bịgiảm Do đó cần điều chỉnh trong hệ thống kế toán quốc gia, một là điều chỉnh cho việckhấu hao tư bản tự nhiên (những thay đổi về mặt số lượng: sự mất đi của trữ lượng dầu,diện tích đất, rừng ) và điều chỉnh cho sự suy thoái xuống cấp của tư bản tự nhiên(những thay đổi về mặt chất lượng)
Trong nhiều nước người ta sử dụng chỉ tiêu
NNP = GNP – Dm – Dn – R – A
Dm: khấu hao vốn vật chất
Dn: khấu hao vốn tự nhiên; đo lường bằng giá trị tính bằng tiền của phá hủy môi trườngtrong năm Giá trị này được tính theo 2 cách: những mất mát không tính đến trong GNP(như mất mát các giống loài hoang dã hay mất mát các cảnh quan) và những mất mát cótính đến trong GNP (sản lượng mất đi do ô nhiễm không khí) Diễn tả theo cách khác,mức tiêu dùng bền vững bằng GNP trừ đi đầu tư cần thiết để duy trì toàn bộ trữ lượngvốn
R: chi tiêu để khôi phục
A: chi tiêu để ngăn chận
Trang 21Tuy nhiên việc điều chỉnh này rất phức tạp cả về lí thuyết lẫn thực tế Cuối cùngxem xét cái gì xảy ra khi tài nguyên bị cạn kiệt do sử dụng quá nhanh (có nghĩa là ở tốcđộ mà việc sử dụng tối ưu vượt quá mức chiết khấu) Trong trường hợp này, GNP hiệnhành sẽ bị đánh giá quá cao Áp dụng tương tự đối với tài nguyên có thể tái tạo Nếuchúng không được sử dụng tối ưu, GNP đo được sẽ lớn hơn GNP thực tế Phát triển bềnvững nếu và chỉ nếu trữ lượng tài sản vốn không đổi hay tăng lên theo thời gian
3 Mối quan hệ giữa kinh tế môi trường và phát triển bền vững
3.1 Tác động kinh tế đến môi trường
R: tài nguyên P: sản xuất C: tiêu dùngTài nguyên (R) được con người khai thác từ hệ thống môi trường ví dụ như than,
gỗ, dầu mỏ … Tài nguyên sau khi khai thác được sử dụng để chế biến ra các sản phẩmphục vụ cho con người, quá trình này là quá trình sản xuất (P) Các sản phẩm được phânphối lưu thông và quá trình tiếp theo là quá trình tiêu thụ (C) Như vậy hệ thống kinh tếđã hình thành một dòng năng lượng đi từ tài nguyên đến sản xuất và tiêu thụ
Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên:
Để thực hiện việc sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu của con người vàxã hội thì cần phải khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất, nước,quặng…) Quá trình này ngày càng có quy mô rộng lớn với nhiều hình thức phong phú và
đa dạng hơn Nếu mức độ khai thác nhỏ hơn khả năng phục hồi của tài nguyên thiênnhiên thì môi trường sẽ ñược cải thiện Ngược lại nếu mức khai thác lớn hơn khả năngphục hồi thì môi trường sẽ không được cải thiện mà có thể ngày càng bị suy thoái
- Thải các chất thải vào môi trường:
Trang 22Ngay cả khi khai thác tài nguyên thì con người cũng chỉ sử dụng những vật dụng cầnthiết, phần dư thừa vẫn để lại môi trường (ví dụ như khi khai thác gỗ phục vụ sản xuấtgiấy, các phế thải như lá, vỏ, cành nhỏ được để lại trong rừng).
Trong quá trình sản xuất cũng không thể tránh được việc thải các chất thải, trong đó
có nhiều chất độc hại vào môi trường Chúng có thể là các chất thải khí như CO2, SO2,NOX xâm nhập vào khí quyển; các chất thải rắn như các tạp chất, các hợp chất kimloại, các xơ, bụi, rác được chôn vùi xuống lòng đất hoặc đổ xuống ao, hồ, Ngoài ra,nước thải có chứa hợp chất hữu cơ, vô cơ, kim loại nặng.v.v cũng được đổ vào môitrường ao hồ, sông, biển Quá trình tiêu thụ cũng thải nhiều tạp chất như vỏ, bao bì, thức
ăn thừa vào môi trường
Quá trình thải do hoạt động của hệ thống kinh tế được minh hoạ như sau:
W: chất thải
Chất thải từ hệ thống kinh tếHoạt động của hệ kinh tế tuân theo quy luật thứ nhất của nhiệt động học, đó là:Năng lượng không tự nhiên sinh ra và cũng không tự nhiên mất đi mà nó chỉ chuyển đổi
từ dạng này sang dạng khác.Cũng chính từ quy luật này, ta biết được tổng lượng thải củacác quá trình trong hệ kinh tế bằng tổng lượng tài nguyên được đưa vào hệ thống Ta cóthể biểu diễn bằng đẳng thức sau:
R = W = Wr + Wp + Wc => R tăng thì W tăng và ngược lại
- Tác động trực tiếp vào môi trường
Trang 23Ngoài khai thác các nguồn tài nguyên và thải các chất thải vào môi trường trong quátrình phát triển, con người còn tác động vào môi trường theo những động lực khác nhau(ví dụ xây dựng đập nước để ngăn dòng chảy của một con sông sẽ có tác động trực tiếptới môi trường xung quanh).
Nắm rõ các quy luật tự nhiên để có những tác động phù hợp với các quy luật đó thìtác động của con người vào môi trường sẽ tạo ra hiệu quả tích cực, phù hợp với hướngvận động của môi trường, có lợi cho sự sống và ngược lại Do vậy mỗi tác động của conngười đối với môi trường cần phải được cân nhắc tính toán một cách thận trọng và khoahọc, đảm bảo môi trường luôn được duy trì và vận động một cách tốt nhất
3.2 Tác động môi trường đến sự phát triển bền vững
- Mối quan hệ chặt chẽ, thường xuyên, lâu dài và qua lại:
Trong môi trường sống, con người là một bộ phận không thể tách rời, gắn bó mật thiếtvới từng thành phần của môi trường Mỗi một loại môi trường với những đặc trưng riêngvề các điều kiện sẽ có ảnh hưởng to lớn đến việc xác định loại hình và quy mô phát triểncủa các hoạt động kinh tế - xã hội của con người tại đó
Quá trình sinh hoạt, phát triển kinh tế – xã hội của con người lại chính là quá trìnhliên tục tác động vào môi trường, làm biến đổi môi trường và tạo ra các loại môi trườngriêng, môi trường nhân tạo ngày càng đa dạng và phong phú
- Mối quan hệ ngày càng phát triển mạnh mẽ, sâu sắc và ngày càng mở rộng:
Cùng với quá trình phát triển, các yếu tố của môi trường ngày càng có ý nghĩa nhiềuhơn Nhiều yếu tố môi trường trước đây được xem là vô dụng hay nhiều khu vực trướcđây là bất lợi không có người ñến thì nay lại trở thành nguồn tài nguyên quý giá hay lànơi được tập trung đến khai thác và phát triển
Tương ứng với trình độ phát triển càng cao của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, sựtác động của con người trong quá trình phát triển đến môi trường ngày càng mạnh mẽ vềcường độ, sâu sắc và phức tạp về tính chất và ngày càng mở rộng về quy mô
Trang 24Ngày nay, con người tác động đến môi trường sống làm biến đổi môi trường khôngchỉ trên bề mặt hành tinh mà còn cả ở trên tầm cao vũ trụ và cả ở sâu lòng ñất Trái đấttrở nên nhỏ bé hơn Do vậy môi trường sống cũng ngày càng trở nên mỏng manh trướcvũ lực của con người, nó tuỳ thuộc vào tác động theo hướng tích cực hay tiêu cực của conngười vào môi trường.
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG KINH TẾ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN
VỮNG Ở VIỆT NAM
1 Thực trạng phát triển bền vững ở Việt Nam
1.1 Kinh tế:
Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách được thể chế hóa bằng luật và các văn bảndưới luật nhằm thực hiện Định hướng chiến lược phát triển bền vững Trong giai đoạn kếhoạch 5 năm 2006 - 2010, các chính sách tiếp tục hướng tới mục tiêu phát triển nhanh vàbền vững trong toàn nền kinh tế, các ngành và lĩnh vực, cũng như các địa phương trongđiều kiện hội nhập Ngày 7/11/2006, Việt Nam đã kết thúc đàm phán và chính thức ký kếtviệc tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Việt Nam chính thức trở thành nướcthành viên thứ 150 của WTO từ ngày 1/1/2007, đánh dấu một mốc quan trọng đưa ViệtNam tham gia sâu toàn diện vào nền kinh tế thế giới, hội nhập cùng cộng đồng quốc tế.Các chính sách trong điều kiện đó vừa hướng tới việc tiếp tục mở cửa thị trường thôngthoáng hơn với thế giới và cả trong khu vực Đông Á, Đông Nam Á, với nhiều giải phápchính sách quan trọng
Nhờ việc hoàn thiện các văn bản chính sách nói trên, vị thế của môi trường kinhdoanh và năng lực cạnh tranh quốc gia nói chung đã được cải thiện trong tương quan giữaViệt Nam với cộng đồng quốc tế Trong bối cảnh thế giới đã lâm vào tình trạng khủnghoảng tài chính và suy thoái toàn cầu (2007 - 2008), gây nhiều tác động bất lợi về thươngmại, đầu tư đến nền kinh tế trong nước, Việt Nam đã tiến hành nhiều điều chỉnh chínhsách kinh tế để vừa phát triển sản xuất kinh doanh, vừa đưa lạm phát về mức thấp, cùngvới tăng trưởng ở tốc độ hợp lý, bảo đảm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hướng tới pháttriển bền vững
Trang 25Giai đoạn 2006 – 2011, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 6 năm đạt gần 7% GDPvà đạt 7,08% GDP (2018) - mức kỷ lục cao nhất kể từ năm 2008; GDP bình quân đầungười đạt 2.587 USD (2018) Cơ cấu kinh tế cũng có những bước tiến triển tích cực, tỷtrọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu GDP ngày càng tăng, khu vực nông nghiệptrong cơ cấu GDP ngày càng giảm An ninh lương thực được bảo đảm Những thành tựuđạt được trong lĩnh vực kinh tế đã góp phần tích cực vào việc phát triển bền vững các lĩnhvực khác Tuy nhiên, kinh tế giai đoạn 2011 - 2015 phục hồi còn chậm, tăng trưởng chưađạt mục tiêu đề ra (5,82%), thấp hơn các giai đoạn trước, chất lượng tăng trưởng thấp.Đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP-Total Factor Productivity) vào tăngtrưởng còn hạn chế, hệ số sử dụng vốn (ICOR- Incremental Capital - Output Ratio) cao.Năng lực cạnh tranh quốc gia chưa được cải thiện nhiều, nhất là về thể chế kinh tế, kếtcấu hạ tầng và đổi mới công nghệ.
1.2 Xã hội:
Việt Nam rất quan tâm đến sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội,trong đó chú trọng tới các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ,công bằng xã hội vì mục tiêu phát triển con người, không ngừng nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân Đảng và Nhà nước đã ban hành và tập trung chỉ đạo thựchiện nhiều chính sách, chương trình, dự án và huy động nguồn lực của toàn xã hội để trợgiúp người nghèo, vùng nghèo vượt qua khó khăn, vươn lên thoát nghèo Hàng loạt chínhsách đã được ban hành không chỉ nhằm khuyến khích làm giàu chính đáng, chủ yếuthông qua cởi mở trong phát triển doanh nghiệp, mà còn tạo điều kiện hỗ trợ để ngườidân có hoàn cảnh khó khăn có thể thoát nghèo bền vững Chiến lược toàn diện về Tăngtrưởng và Xóa đói giảm nghèo (CPRGS) của Việt Nam (2002) đã được thực hiện có hiệuquả thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010,Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 - 2015 Theo đó,các chính sách và giải pháp xoá đói giảm nghèo được triển khai đồng bộ trên cả 3 phươngdiện: Giúp người nghèo tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế,giáo dục, trợ giúp pháp lý, nhà ở, nước sinh hoạt; Hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các
Trang 26chính sách về bảo đảm đất sản xuất, tín dụng ưu đãi, dạy nghề, khuyến nông - lâm - ngư,phát triển ngành nghề; Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã, thôn, bản đặc biệtkhó khăn.
Trong chính sách kinh tế đã chú ý ngay tới một chỉ tiêu quan trọng của ổn định kinh
tế vĩ mô liên quan đến phát triển xã hội là tạo việc làm cho người dân ở cả thành thị vànông thôn Hệ thống chính sách thị trường lao động, giải quyết việc làm được bổ sunghoàn thiện theo cả ba hướng: Hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại nghề, tư vấn hướng nghiệp, giảiquyết việc làm và dịch chuyển lao động; Hỗ trợ vay tín dụng ưu đãi tự tạo việc làm,khuyến khích phát triển cộng đồng thông qua các sáng kiến của địa phương và hỗ trợ sựphát triển của khu vực tư nhân ; Hỗ trợ người lao động tìm được việc làm, giúp tìmđược công việc tốt hơn, kể cả đi xuất khẩu lao động, đặc biệt là cho thanh niên và ngườithất nghiệp thông qua các kênh thông tin về thị trường lao động, tư vấn giới thiệu việclàm
Chính sách bình đẳng giới ngày càng được quan tâm Luật Bình đẳng giới; LuậtPhòng, Chống bạo lực gia đình; Luật Hôn nhân và Gia đình; Luật Đất đai là những bộluật cơ bản đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới Các chiến lược quốc gianhư Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói giảm nghèo, Chiến lược quốc gia vềChăm sóc sức khoẻ sinh sản 2001 - 2010, Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010,Chiến lược quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010, Chương trình mục tiêu quốcgia Giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 đều đề cập đến vấn đề bình đẳng giới nhằm nângcao vị thế và quyền lợi của phụ nữ Đồng thời, lồng ghép giới là một yêu cầu quan trọngcủa Chính phủ đối với nhiều chương trình, chính sách kinh tế - xã hội
Các chính sách về y tế, giáo dục cũng đã được ban hành, nhằm không ngừng thúc đẩyviệc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân, dù đất nước còn nhiều khókhăn Quy mô đầu tư cho giáo dục và y tế tuy còn khiêm tốn so với nhiều nước, nhưng tỷlệ chi tiêu cho giáo dục, y tế so với mức thu nhập đã đạt mức rất cao Ngày càng có nhiềutỉnh thành phố đạt tiêu chí phổ cập giáo dục trung học Trong 9 tháng/2019, số ngườitham gia BHXH bắt buộc khoảng 14,85 triệu người; Bảo hiểm thất nghiệp khoảng 13