TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ *** BÁO CÁO GIỮA KỲ Môn Tổ chức ngành PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÀNH SẢN XUẤT TRANG PHỤC Lớp tín chỉ KTE408 1 Giảng viên hướng dẫn Ts Chu Thị Mai[.]
TỔNG QUAN NGÀNH SẢN XUẤT TRANG PHỤC
Khái niệm
Theo Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam 2007, ngành sản xuất trang phục bao gồm hoạt động may gia công và may sẵn từ nhiều loại nguyên liệu như da, dệt, vải đan hoặc móc Ngành này sản xuất tất cả các loại quần áo, bao gồm quần áo ngoài, quần áo lót cho nam, nữ và trẻ em, cũng như quần áo đi làm, ở nhà và của người thành thị Không có sự phân biệt giữa quần áo cho người lớn và trẻ em, hay giữa trang phục truyền thống và hiện đại.
Mã ngành: 141 - 1410 - 14100: May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú)
- Sản xuất trang phục, nguyên liệu sử dụng có thể là bất kỳ loại nào có thể được tráng, phủ hoặc cao su hoá;
- Sản xuất trang phục bằng da hoặc da tổng hợp bao gồm các phụ kiện bằng da dùng trong các ngành công nghiệp như tạp dề da;
- Sản xuất quần áo bảo hộ lao động;
Sản xuất quần áo khoác ngoài cho phụ nữ, nam giới và trẻ em từ các loại vải như len, vải đan móc hoặc không phải đan móc, bao gồm áo khoác ngoài, áo jacket, bộ trang phục, quần và váy.
Sản xuất quần áo lót và đồ ngủ từ vải len và vải đan móc cho nam, nữ và trẻ em bao gồm các sản phẩm như áo sơ mi, áo chui đầu, quần đùi, quần ngắn bó, bộ pyjama, váy ngủ, áo blu, áo lót và coóc xê.
- Sản xuất quần áo cho trẻ em, quần áo bơi, quần áo trượt tuyết;
- Sản xuất mũ mềm hoặc cứng;
- Sản xuất các đồ phụ kiện trang phục khác: tất tay, thắt lưng, caravat, lưới tóc, khăn choàng;
- Sản xuất đồ lễ hội;
- Sản xuất mũ lưỡi trai bằng da lông thú;
- Sản xuất giày dép từ nguyên liệu dệt không có đế;
- Sản xuất chi tiết của các sản phẩm trên.
- Sản xuất trang phục bằng da lông thú (trừ mũ lưỡi trai) được phân vào nhóm 14200 (Sản xuất sản phẩm từ da lông thú);
- Sản xuất giày dép được phân vào nhóm 15200 (Sản xuất giày dép);
Sản xuất trang phục từ cao su hoặc nhựa không sử dụng phương pháp khâu mà chỉ gắn kết với nhau được phân loại vào nhóm 22120 (Sản xuất sản phẩm khác từ cao su) và nhóm 22209 (Sản xuất sản phẩm khác từ nhựa).
- Sản xuất găng tay da thể thao và mũ thể thao được phân vào nhóm 32300 (Sản xuất dụng cụ thể dục, thể thao);
- Sản xuất mũ bảo hiểm (trừ mũ dùng cho thể thao) được phân vào nhóm
32900 (Sản xuất khác chưa được phân vào đâu);
- Sản xuất quần áo bảo vệ và quần áo chống lửa được phân vào nhóm 32900 (Sản xuất khác chưa được phân vào đâu );
- Sửa chữa trang phục được phân vào nhóm 95290 (Sửa chữa đồ dùng cá nhân và gia đình khác).
Mã ngành: 142 - 1420 - 14200: Sản xuất sản phẩm từ da lông thú
Sản xuất sản phẩm làm từ da lông thú như:
+ Trang phục lông thú và phụ trang,
+ Các phụ kiện làm từ lông da như tấm, miếng lót, mảnh dải
+ Các sản phẩm phụ khác từ da lông thú như thảm, đệm, mảnh đánh bóng công nghiệp.
- Sản xuất da lông thú được phân vào nhóm 14200 (Sản xuất sản phẩm từ da lông thú);
- Sản xuất da thô và da sống được phân vào nhóm 1010 (Chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt);
- Sản xuất lông thú giả (quần áo có lông dài thông qua đan, dệt) được phân vào nhóm 13110 (Sản xuất sợi) và nhóm 13120 (Sản xuất vải dệt thoi);
- Sản xuất mũ lông thú được phân vào nhóm 14100 (May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú));
- Sản xuất trang phục có trang trí lông thú được phân vào nhóm 14100 (May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú));
- Thuộc, nhuộm da được phân vào nhóm 15110 (Thuộc, sơ chế da; sơ chế và nhuộm da lông thú);
- Sản xuất bốt, giày có phần lông thú được phân vào nhóm 15200 (Sản xuất giày dép).
Mã ngành: 143 - 1430 - 14300: Sản xuất trang phục dệt kim, đan móc
Sản xuất trang phục đan móc và các sản phẩm may sẵn khác bao gồm việc đan móc trực tiếp thành các sản phẩm như áo chui đầu, áo len, áo gile và các đồ tương tự.
- Sản xuất hàng dệt kim như áo nịt, tất, soóc.
Bảng 2.1 Số lượng doanh nghiệp trong ngành sản xuất trang phục (2021) ngànhMã Tên ngành Số lượng doanh nghiệp Tỉ lệ
14100 May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú) 284 97,73(%)
14200 Sản xuất sản phẩm từ da lông thú 1 0,34
14300 Sản xuất trang phục dệt kim, đan móc 5 1,72
Nguồn: Tổng cục thống kê
Sản xuất sản phẩm từ da lông thú Sản xuất trang phục dệt kim, đan móc May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú)
Hình 2.1 Tỷ lệ các doanh nghiệp trong ngành sản xuất trang phục (2021)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Lịch sử phát triển ngành
Ở Việt Nam, quá trình phát triển của ngành may mặc đã bắt đầu từ năm
1954 Đến nay, ngành công nghiệp này đã trải qua 4 giai đoạn phát triển:
Giai đoạn 1954 - 1975 đánh dấu sự quan tâm của Đảng và Chính phủ đối với ngành may mặc Việt Nam, đặc biệt sau khi hòa bình lặp lại ở miền Bắc Ngành may mặc được đầu tư phát triển với các sản phẩm may sẵn phục vụ cho cuộc kháng chiến ở miền Nam Đến năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, ngành may mặc có thêm cơ hội phát triển nhờ vào đội ngũ thợ lành nghề từ các làng nghề miền Trung và miền Nam Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nhu cầu của người dân vẫn còn hạn chế, chủ yếu là tự may vá.
Giai đoạn 1967 - 1990 đánh dấu thời kỳ xây dựng và hợp tác toàn diện giữa các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó ngành may mặc Việt Nam phát triển mạnh mẽ về năng lực sản xuất Nhiều doanh nghiệp may mặc nhà nước được thành lập, cung cấp sản phẩm may sẵn không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu Thời kỳ này được xem là bước đệm quan trọng giúp sản phẩm may sẵn xâm nhập vào đời sống của người dân.
Giai đoạn 1991 - 1999 đánh dấu thời kỳ Việt Nam mở cửa nền kinh tế, chuyển sang sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vào tháng 11/1998, Việt Nam chính thức gia nhập APEC và ký kết hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ.
Ngành may mặc đã bắt đầu hội nhập nhanh chóng từ năm 2001, không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản và Canada.
Từ năm 2000, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế thông qua việc tham gia các khu vực mậu dịch tự do ASEAN và các diễn đàn hợp tác kinh tế toàn cầu Đặc biệt, vào tháng 11/2016, Việt Nam gia nhập WTO, mở ra cơ hội cho thị trường thế giới Sự kiện này đã thu hút nhiều nguồn đầu tư nước ngoài, đồng thời ngành may mặc Việt Nam cũng có những bước chuyển mình mạnh mẽ, với nhiều doanh nghiệp như Việt Tiến, Phương Đông, và Nhà Bè đã xây dựng được uy tín trên thị trường quốc tế.
Đặc trưng ngành sản xuất trang phục
Ngành may mặc không chỉ quan trọng trong đời sống con người mà còn đóng góp lớn vào sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam Là ngành xuất khẩu chủ lực, may mặc đã thể hiện năng lực cạnh tranh cao trong bối cảnh hội nhập thương mại quốc tế Kim ngạch xuất khẩu may mặc tăng trưởng hàng năm, cho thấy khả năng cạnh tranh và hội nhập của ngành này đã phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu từ các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, đồng thời hướng tới các thị trường tiềm năng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ và Nga.
Ngành may mặc có nhu cầu lao động cao, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề thất nghiệp Ngành này thu hút việc làm cho cả lao động từ khu vực nông thôn, góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội Điều này không chỉ đảm bảo phân phối công bằng hơn về thu nhập mà còn cải thiện quan hệ sản xuất và tăng cường thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn.
Thực trạng ngành sản xuất trang phục ở Việt Nam
Ngành công nghiệp may mặc Việt Nam đã có những bước tiến tích cực trong sản xuất và xuất khẩu trong những năm gần đây, với tốc độ tăng trưởng sản xuất bình quân đạt 7,9%/năm giai đoạn 2016 - 2020, đặc biệt năm 2018 tăng trên 33% Tuy nhiên, năm 2020, ngành này đã phải đối mặt với nhiều tác động tiêu cực kéo dài do đại dịch Covid-19.
Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành Dệt giảm 0,5% và ngành Sản xuất trang phục giảm 4,9%, dẫn đến đứt gãy nguồn cung nguyên liệu và thu hẹp thị trường tiêu thụ sản phẩm may mặc Nhu cầu sản phẩm may mặc giảm mạnh khi người tiêu dùng chỉ tập trung vào đồ dùng thiết yếu Để khắc phục khó khăn, ngành may mặc đã tăng cường sản xuất các sản phẩm bảo hộ và khẩu trang do nhu cầu tăng cao Trong 9 tháng năm 2021, ngành may mặc có nhiều tín hiệu khởi sắc với chỉ số sản xuất ngành sản xuất trang phục tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2020, trong khi chỉ số sản xuất ngành dệt tăng 7,8% Sản xuất vải dệt từ sợi tự nhiên ước tính đạt 501,5 triệu m², tăng 3,9%, và sản xuất quần áo mặc thường đạt 3.411,2 triệu cái, tăng 4,5% So với 9 tháng đầu năm 2019, sản xuất vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 5,4%, trong khi sản xuất vải dệt từ sợi nhân tạo và sản xuất trang phục giảm lần lượt 2,4% và 10% Xuất khẩu toàn ngành Dệt, May mặc của Việt Nam cũng đạt kết quả khả quan trong những năm gần đây.
Trong giai đoạn 2016 - 2020, xuất khẩu ngành Dệt May tăng trưởng bình quân 5,6%/năm, nhưng năm 2020, do đại dịch Covid-19, xuất khẩu giảm khoảng 10% so với năm 2019 Đầu năm 2021, thị trường dệt may toàn cầu hồi phục nhờ các gói hỗ trợ kinh tế và triển khai vắc xin, dẫn đến nhu cầu may mặc tăng trở lại Việt Nam đã đón nhận lượng đơn hàng đột biến từ quý I/2021 nhờ chuyển dịch đơn hàng từ các quốc gia cạnh tranh như Myanmar Năm 2021, các doanh nghiệp may mặc không gặp vấn đề về nguồn nguyên liệu, giúp ngành may mặc Việt Nam hồi phục với kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng hàng tháng cho đến giữa năm 2021.
Dịch Covid-19 đã gây ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu ngành may mặc, nhưng đây chỉ là gián đoạn tạm thời Dự báo rằng xuất khẩu toàn ngành sẽ phục hồi và tăng trưởng trở lại trong năm 2022.
Trong những năm gần đây, xuất khẩu ngành may mặc đã có sự biến động theo xu hướng chung của cả nước Mặc dù chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh Covid-19, ngành may mặc vẫn ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ trong xuất khẩu.
Hình 2.2 Biểu đồ giá trị xuất khẩu ròng dệt, may của Việt Nam (2015 – 2021)
Nguồn: Tổng cục thống kê
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Các lý thuyết về đo lường mức độ tập trung thị trường
Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà một doanh nghiệp đang nắm giữ được.
Công thức tính thị phần:
Thị phần= Tổng sản phẩmbán racủadoanh nghiệp
Tổng sản phẩmtiêu thụtrên thị trường (Hoặc Doanhthubán hàng của doanhnghiệp
Tổng doanh thubán hàng của ngành )
3.1.2 Tỷ lệ tập trung hóa
Tỷ lệ tập trung hoá (Concentration ratios): đo lường tổng sản lượng trong một ngành được sản xuất ra bởi các công ty lớn nhất trong ngành đó.
Tỷ lệ tập trung bốn công ty (four-firm concentration ratio) là chỉ số đo lường doanh thu mà bốn công ty lớn nhất trong ngành tạo ra so với tổng doanh thu của toàn ngành.
Gọi s 1 , s 2 , s 3 và s 4 là doanh thu của 4 công ty lớn nhất trong ngành, và s T là tổng doanh thu của ngành Tỷ lệ tập trung bốn công ty là:
Cr 4 = s 1+ s 2+ sT s 3+ s 4 Khi đó, tỷ lệ tập trung 4 công ty là tổng thị phần của 4 công ty hàng đầu:
Cr4=w 1 +w 2 +w 3 +w 4 Trong đó: w 1 = sT s 1 ; w 2 = sT s 2 ; w 3 = s sT 3 ; w 4 = s sT 4 Ý nghĩa của chỉ số Cr 4 :
Khi một ngành có nhiều công ty, mỗi công ty sẽ chiếm một thị phần rất nhỏ, dẫn đến tỷ lệ tập trung của bốn công ty hàng đầu gần như bằng 0.
Khi sản lượng của một ngành được đóng góp bởi ít hơn hoặc bốn công ty thì tỷ lệ tập trung bốn công ty là 1
Tỷ lệ này càng tiệm cận 1 thì độ tập trung ngành càng cao
Tỷ lệ này càng tiệm cận 0 thì độ tập trung ngành càng thấp
Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) là một công cụ quan trọng để đo lường mức độ tập trung của thị trường, giúp đánh giá khả năng cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh doanh, đặc biệt là trước và sau các giao dịch mua bán và sáp nhập (M&A).
HHI được xác định bằng tổng bình phương thị phần của các công ty trong một ngành nhất định nhân với 10,000.
HHI,000*(w i ) 2 Trong đó: wi là thị phần của công ty i trong ngành.
Giá trị của HHI sẽ nằm trong khoảng (0,10000), HHI nhỏ thể hiện mức độ tập trung thấp.
Nếu HHI000 nghĩa là tồn tại duy nhất một công ty trong ngành.
Nếu HHI=0 nghĩa là tồn tại vô số các công ty nhỏ trong ngành.
Cơ sở lý thuyết cho mô hình nghiên cứu
Mô hình Cobb-Douglas được các nhà kinh tế ưa chuộng để đánh giá tác động của các yếu tố đến kết quả sản xuất nhờ vào tính đơn giản và khả năng phản ánh sát thực tình hình sản xuất Các thông số trong mô hình này cũng dễ dàng ước lượng.
Trong hàm sản xuất Cobb-Douglas, chỉ có hai yếu tố đầu vào là lao động (L) và vốn (K) được xem xét, với độ co giãn của các yếu tố thay thế bằng 1 Ngoài ra, nếu bất kỳ yếu tố đầu vào nào bằng 0, thì đầu ra cũng sẽ bằng 0.
Hàm sản xuất Cobb-Douglas có dạng:
A, ∝, β là các hằng số dương
K là vốn được sử dụng
Hệ số co giãn của đầu ra tương ứng cho K và L được biểu thị bằng ∝ và β, và chúng được xác định bởi công nghệ Hàm này là một hàm thuần nhất với bậc thuần nhất bằng ∝ + β, cho thấy rằng khi nhân L và K với một hệ số k không đổi, sản lượng sẽ tăng theo tỷ lệ k^{∝ + β}.
Nếu ∝+β=1, thì hàm sản xuất có lợi tức không đổi theo quy mô.
Nếu ∝+β>1, thì hàm sản xuất có lợi tức tăng dần theo quy mô.
Nếu ∝+βF 0.0000 0.0000 0.0000 ghi chú : *** , ** và * tương ứng với mức ý nghĩa lần lượt là 1%, 5% và 10%
Cả 3 mô hình đều șó Prob>F = 0,000 < a (a=5%) nên sẽ bác bỏ giả thuyết Ho tức là kiểm định F-test phù hợp với mô hình tổng thể, hệ số hồi quy ở cả 3 mô hình với P-value