BÀI TẬP TIỂU LUẬN MÔN HỌC GIỮA KỲ BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC GIỮA KỲ Chủ đề PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA ENGLAND Thành viên nhóm Đinh Quốc An 200102 Hoàng Mạnh Cường 200102 Mẫn Thị Minh Huệ[.]
Trang 1BÀI TẬP TIỂU LUẬN MÔN HỌC GIỮA KỲ
BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC GIỮA KỲ
Chủ đề:
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA ENGLAND
Thành viên nhóm: Đinh Quốc An - 200102
Hoàng Mạnh Cường - 200102Mẫn Thị Minh Huệ - 200102Trần Mai Linh - 200102Hoàng Trung Nghĩa - 200102Lớp: Kinh doanh quốc tế_N02
GVHD: TS Bùi Quý Thuấn
Hà Nội, 2023
BẢNG PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ
Stt Họ và Tên/Mã sinh viên Nội dung được
phân công
Đánh giá
Trang 21 Đinh Quốc An / 20010189 Chương 1/mục
1.2, 1.3,…
80% hoặc100%
Trang 3BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ (nếu có)
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm và đặc điểm của môi trường kinh doanh quốc tế
MTKDQT là sự tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc môi trường quốc gia vớimôi trường nước ngoài; và giữa các yếu tố môi trường nước ngoài của hai quốc giakhi một công ty tại quốc gia này hoạt động kinh doanh với khách hàng cả quốc giakhác
Ví dụ, nhân sự tại trụ sở chính của một công ty đa quốc gia được xem là làm việctrong MTKDQT nếu công việc của họ có liên quan, dù theở cách nào, tới quốc giakhác; trong khi đó nhân sự tại các chi nhánh nước ngoài sẽ không làm việc trongMTKDQT nếu họ không hoạt động kinh doanh quốc tế xuất khẩu, hoặc quản lý công
ty con khác Nói một cách khác, các nhà quản lý bán hàng thuộc tập đoàn Goodyeartại Chile sẽ không làm việc trong MTKDQT nếu họ bán những chiếc lốp chỉ ở Chile.Nếu công ty con này xuất khẩu lốp sang Bolivia, thì các nhà quản lý bán hàng chịutác động của cả hai yếu tố MTKD trong nước là Chile và MTKD nước ngoài làBolivia, và bởi vậy, các nhà quản lý đã làm việc trong MTKDQT
Kinh doanh quốc tế liên quan tới hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế, cóthể là từ hai nước trở lên có thể liên quan tới một số hay nhiều nước trên phạm vitoàn cầu Kinh doanh quốc tế bị tác động và ảnh hưởng lớn bởi các tiêu chí và cácbiến số có tính môi trường quốc tế, chẳng hạn như hệ thống luật pháp của các nước,thị trường hối đoái, sự khác biệt trong văn hóa hay các mức lạm phát khác nhau giữacác nước Đôi khi những tiêu chí hay biến số này gần như không ảnh hưởng hay cótác động nhiều đến hoạt động kinh doanh nội địa của một doanh nghiệp Chúng tacũng có thể nói rằng kinh doanh nội địa là một trường hợp đặc biệt hạn chế của kinhdoanh quốc tế
Một đặc điểm nổi bật khác của kinh doanh quốc tế đó là các hãng quốc tế hoạt động trong một môi trường có nhiều biến động và luật chơi đôi khi có thể rất khó hiểu, cóthể đối lập với nhau khi so sánh với kinh doanh nội địa Trên thực tế, việc thực hiệncác hoạt động kinh doanh quốc tế thực sự không giống như chơi một trò bóng mới
mà giống như chơi nhiều trò bóng khác nhau mà trong đó nhà quản trị quốc tế phải
Trang 6học được các yếu tố đặc thù trên sân chơi Các nhà quản trị rất nhanh nhạy trongviệc tìm ra những hình thức kinh doanh mới đáp ứng được sự thay đổi của chínhphủ nước ngoài về các lĩnh vực ưu tiên, và từ đó tạo lập được các lợi thế cạnh tranhhơn so với các đối thủ cạnh tranh kém nhanh nhạy hơn
Các nguyên tắc chủ đạo đối với một doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt độngkinh doanh quốc tế luôn phải có cách tiếp cận toàn cầu Các nguyên tắc chủ đạo củamột doanh nghiệp có thể được định nghĩa liên quan tới ba mảng chính, đó là sảnphẩm cung cấp trong mối quan hệ với phục vụ thị trường nào, các năng lực chủ chốt
và các kết quả Khi xây dựng các kế hoạch kinh doanh quốc tế, các hãng phải ra các
quyết định liên quan tới việc trả lời câu hỏi: Hãng sẽ bán sản phẩm gì cho ai? Và hãng có thể có được nguồn cung ứng từ đâu và cung ứng như thế nào? Đó là hai
câu hỏi liên quan tới Marketing và Sourcing (thị trường sản phẩm đầu ra và thịtrường sản phẩm đầu vào) Sau khi ra được các quyết định trên, hãng cần phải cụ thểhóa các vấn đề liên quan tới nguồn nhân lực, quản trị, tính sở hữu và tài chính để trả
lời câu hỏi: Với nguồn lực nào hãng sẽ triển khai các chiến lược trên? Nói một cách
khác, hãng sẽ phải tìm ra nguồn nhân lực phù hợp, khả năng chịu rủi ro và nguồnlực tài chính cần thiết Tiếp đến là vấn đề liên quan tới làm thế nào để có thể kiểmsoát và xây dựng được cơ cấu tổ chức phù hợp để triển khai thực hiện những vấn đềtrên Và cuối cùng một nội dung liên quan tới quan hệ công chúng, cộng đồng cũngcần hãng phải quan tâm khi triển khai kế hoạch kinh doanh quốc tế của mình
1.2 Các yếu tổ ảnh hưởng của môi trường kinh doanh
MTKD là sự tổng hợp các yếu tố có liên quan và tác động tới sự tồn tại và pháttriển của mỗi doanh nghiệp Các yếu tố đó được phân chia thành các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài Thêm vào đó, các nhà quản lý không thể kiểm soáttrực tiếp các yếu tố đó, dù họ có nhiều cố gắng trong việc tác động tới chúng như:vận động hành lang đối với việc thay đổi các điều luật, tăng cường các hoạt động xúctiến thương mại cho sản phẩm mới tung ra thị trường nhằm thay đổi thái độ củangười tiêu dùng… Yếu tố bên ngoài thường được gọi là yếu tố không kiểm soátđược (uncontrollable forces), gồm cở các yếu tố sau:
(1) Cạnh tranh – dựa vào vị trí và hoạt động mà có rất nhiều kiểu cạnh tranh và nhiềuđối thủ cạnh tranh
Trang 7(2) Phân phối – các công ty trong nước và quốc tế cung cấp hàng hóa, dịch vụ theomạng phân phối hàng hóa và dịch vụ
(3) Kinh tế-các biến số kinh tế như GNP, chi phí lao động theo đơn vị, mức chi tiêu
cá nhân,… ảnh hưởng tới khả năng kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
(4) Kinh tế xã hội – đặc điểm và sự phân bố dân cư
(5) Tài chính – các biến số như tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ lạm phát, thuế khóa…
(6) Luật pháp – mồi doanh nghiệp phải hoạt động kinh doanh với rất nhiều bộ luật cảcấp quốc gia và quốc tế
(7) Địa lý – các yếu tố tự nhiên như địa hình, khí hậu, và tài nguyên thiên nhiên…
(8) Chính trị – các yếu tố thuộc môi trường chính trị quốc gia như chủ nghĩa dân tộc,chế độ chính trị, và các tổ chức quốc tế
(9) Văn hóa xã hội – các yếu tố văn hóa như thái độ, niềm tin, và quan điểm… là cácyếu tố quan trọng đối với các nhà KDQT
(10) Lao động – cấu trúc lao động, kỹ năng và thái độ của người lao động
(11 ) Công nghệ – trình độ kỹ thuật và các thiết bị tác động tới quá trình sử dụng cácyếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm
Ngoài các yếu tố trên, các nhà quản lý còn phải đối mặt với các yếu tố bên trongnhư đầu vào sản xuất (vốn, nguyên liệu, và con người) và các hoạt động của tổ chức(nhân sự, tài chính, sản xuất và marketing) Những yếu tố này được gọi là các yếu tố
có thể kiểm soát được (controllable forces), các nhà kinh doanh cần phải quản lýđiều hành một cách có trật tự các yếu tố này để có thể thích ứng được những thay đổicủa các yếu tố trong môi trường không kiểm soát được Ví dụ sự thay đổi chính trị –thị trường chung ASEAN được hình thành – ảnh hưởng tới toàn bở các yếu tố có thế
Trang 8kiểm soát được của các công ty quốc tế đang hoạt động liên quan tới các quốc gianằm trong khối ASEAN Các công ty phải xem xét lại các hoạt động kinh doanh củamình và có những điều chỉnh cho phù hợp với luật mới khi thị trường chung chínhthức đi vào hoạt động Ví dụ, một số công ty của Mỹ hay Nhật Bản có chi nhánhcông ty đặt tại Singapore, một nơi có chi phí lao động rất cao, có thể xem xét lại việcchuyển chi nhánh tới quốc gia khác có chi phí lao động rẻ hơn nhiều như Philippin,Việt Nam… khi mà rào cản thương mại giữa các quốc gia này được xóa bỏ
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.2 Chính trị
Yếu tố chính trị có ảnh hưởng lớn tới quyết định kinh doanh của các doanh nghiệpKDQT, ảnh hưởng này có thể từ các quy định của chính phủ, hệ thống hành chínhhay rủi ro chính trị…
Các quy định của Chính phủ
Quan điểm của các quốc gia về vai trò của thương mại và đầu tư quốc tế khác nhau
do có sự khác biệt về văn hóa, lịch sử và các điều kiện hiện tại Một số quốc gia thựchiện chính sách bảo hộ chặt chẽ, trong khi đó một số quốc gia khác lại khuyến khích
tự do hóa thương mại và đầu tư nước ngoài Thái độ của Chính phủ đối với thươngmại và đầu tư quốc tế được đánh giá thông qua công cụ điều tiết kinh tế đối ngoạicủa quốc gia đó
Thứ nhất, dở các quy định của Chính phủ mà các nhà kinh doanh có thể nhanhchóng từ bỏ thị trường đó mà không còn có sự cân nhắc nào hơn nữa Trước tiên, họ
có thể tạo ra các rào cản đầu tư để bảo vệ các doanh nghiệp và các ngành côngnghiệp trong nước như quy định giới hạn sở hữu vốn trong các doanh nghiệp có vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài
Hơn nữa nhiều Chính phủ còn giới hạn sự cạnh tranh của các công ty quốc tế trongmột số ngành nhất định vì mục tiêu bảo vệ nền an ninh quốc gia Các khu vực kinh tế
Trang 9thường hạn chế các hoạt động của các công ty nước ngoài bao gồm các ngành du lịchsản xuất ô tô, sản xuất thiết bị quân sự, sản xuất thép… Một số quan điểm cho rằngnêu các công ty nước ngoài được phép kinh doanh trong những khu vực kinh tế nàythì chẳng khác nào trao quyền lực kinh tế của một quốc gia vào tay các tập đoàn,công ty quốc tế.
Thứ hai, các Chính phủ có thể hạn chế các các công ty quốc tế chuyển lợi nhuận vềnước Quy định này buộc các công ty hoặc là giữ ngoại tệ ở nước sở tại, hoặc là táiđầu tư và ở các dự án mới tại đây Những chính sách này bắt nguồn từ việc thiếu khảnăng trang trải ngoại tệ cho nhu cầu nhập khẩu của nền kinh tế
Thứ ba, Chính phủ có thể đưa ra những quy định rất nghiêm ngặt về bảo vệ môitrường Trong hầu hết các nước công nghiệp, nhà máy sản xuất các thành phẩm hoặcbán các thành phẩm là các hóa chất công nghiệp đều phải cam kết bảo vệ môitrường Những quy định này buộc các công ty phái lắp đặt thiết bị chống ô nhiễmmôi trường và quan tâm hơn đến những vấn đề xử lý chất thải Ó nhiều nước đangphát triển hoặc các thị trường mới nổi, vấn đề này ít được quan tâm đúng mức Thực
tế, đã có rất nhiều công ty di chuyển sản xuất sang các nước đang phát triển đê tậndụng những quy định lỏng lẻo về môi trường và tiết kiệm chi phí sản xuất
Hệ thống hành chính
Các cơ quan hành chính của Chính phủ có ảnh hưởng lớn đến hoạt động KDQT.Nếu các cơ quan này hoạt động thông thoáng sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.Ngược lại, nếu bộ máy hành chính cồng kềnh, hoạt động không hiệu quả thì môitrường đầu tư ở nước đó sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn Một thực tế là các cơ quan nàylại không mấy quan tâm đến việc cải tiến chất lượng phục vụ Các nhà KDQT phảichuẩn bị đối phó với những trì hoãn mang tính hành chính hoặc trái nguyên tắc, bùlại, quy mô thị trường lại làm chở các nhà kinh doanh vượt qua những trở ngại hànhchính đó
Sự ổn định chính trị
Trang 10Môi trường kinh doanh của một quốc gia chịu sự tác động của yếu tố rủi ro chínhtrị Rủi ro chính trị là những thay đổi trong hệ thống chính trị mà gây tác động tiêucực đến hoạt động kinh doanh Rủi ro chính trị có thể đe dọa thị trường của nhà xuấtkhẩu, và khả năng chuyển lợi nhuận của công ty về nước
Nhận thức được rủi ro chính trị ở một thị trường phụ thuộc vào hiểu biết của nhàkinh doanh về những biến động chính trị của nước đó trong quá khứ Vì vậy, nhàKDQT không thể thờ ơ với những biến động trong quá khứ để đưa ra các quyết địnhkinh doanh trong tương lai Các công ty quốc tế phải cố gắng xác định và dự báonhững sự kiện chính trị trong tương lai ảnh hưởng thế nào đến hoạt động kinh doanh
và lợi nhuận của công ty
Nhưng các nhà kinh doanh lấy thông tin ở đâu để dự báo những sự kiện này? Họ
có thể cứ nhân viên chuyên trách của công ty đi thu thập tài liệu hoặc thu thập quacác tổ chức dịch vụ cung cấp thông tin đó; Lời khuyên của các chuyên gia khu vựchay quốc gia nào đó bao gồm Ngân hàng quốc tế, các tổ chức kinh tế quốc tế, cácchính trị gia, nhân viên ở đại sứ quán…
1.2.3 Kinh tế
Yếu tố kinh tế trước hết phản ánh qua tăng trưởng kinh tế chung về cơ cấu ngànhkinh tế, cơ cấu vùng; tiếp đến là mức và cách phân phối thu nhập, việc chi tiêu củangười tiêu dùng… tất cả có thể tạo nên tính hấp dẫn về thị trường và sức mua khácnhau đối với các thị trường hàng hóa khác nhau Trong đó, yếu tố quyết định là cơcấu kinh tế của nước đó Có thể phân ra làm bốn kiểu cơ cấu kinh tế:
Nền kinh tế tự túc: Trong nền kinh tế tự túc, tuyệt đại bộ phận dân cư làmnông nghiệp đơn thuần Họ tiêu dùng hầu hết sản phẩm làm ra và đem traođổi số còn lại đế lấy những hàng hóa và dịch vụ đơn giản Họ tạo ra rất ít cơhội cho người kinh doanh
Nền kinh tế xuất khẩu nguyên liệu: Những nền kinh tế này giàu một hay nhiềunguồn tài nguyên thiên nhiên, nhưng nghèo về các mặt khác Phần lớn thunhập đểu do xuất khẩu những tài nguyên đó mà có, ví dụ Ả rập xuất khẩu
Trang 11dầu… Những nước này là thị trường tốt chở các thiết bị tách chiết, các công
cụ và phụ tùng, thiết bị bốc xếp vật tư và xe vận tải… Tùy theo số lượngngười nước ngoài cư trú và mức độ giàu có của những người cai trị đất nước
mà tạo ra một thị trường chở các hàng hóa phương Tây và hàng xa xỉ
Nền kinh tế công nghiệp hóa: Trong nền kinh tế này, sản xuất chiếm khoảng
10 đến 20% tổng sản phẩm quốc dân của đất nước Khi sản xuất tăng lén, cácnước này phải nhập khẩu nguyên liệu, sắt thép, máy móc hạng nặng… Quátrình công nghiệp hóa đã tạo ra một giai tầng mới, giàu có và một tầng lớptrung lưu nhỏ nhưng đang phát triển lên, cả hai tầng lớp này đều yêu cầunhững kiểu hàng hóa mới, trong số đó có một số phải nhập khẩu
Nền kinh tế công nghiệp: Đây là người xuất khẩu chủ yếu những hàng hóalàm ra và vốn đầu tư Họ mua hàng công nghiệp của nhau và cũng xuất khẩucho nhau Những hoạt động sản xuất to lớn và đa dạng của những nước côngnghiệp này và tầng lớp trung lưu rất đông đảo của họ làm cho nước này trởthành thị trường giàu có đối với tất cả hàng hóa
Phân phối thu nhập có quan hệ với cơ cấu kinh tế của đất nước đồng thời cũng chịuảnh hưởng của hệ thống chính trị Các nhà kinh doanh phán các nước theo năm kiểukhác nhau (1) Thu nhập rất thấp, (2) Phần lớn có thu nhập thấp, (3) Thu nhập rấtthấp, rất cao, (4) Thu nhập thấp, trung bình, cao, (5) Thu nhập phần lớn trung bình
Ví dụ thị trường của Lamborghinis, một chiếc ôtô giá hơn 100.000 $ đối với thịtrường kiểu (1),(2) thì thị trường rất nhỏ
Việc chi tiêu của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng của việc tiết kiệm nợ nần và khảnăng vay tiền Ví dụ, người Nhật tiết kiệm khoảng 18% thu nhập của mình trong khingười Mỹ tiết kiệm 6% Kết quả các ngân hàng Nhật có thể chở các công ty Nhậtvay tiền với lãi suất thấp hơn nhiều so với các ngân hàng Mỹ, và chính khả năng cóvốn rẻ hơn này đã giúp các công ty Nhật phát triển nhanh hơn Những người tiêudùng Mỹ cũng có tỷ lệ nợ trên thu nhập cao và điều này lại làm chậm lại nhữngkhoản chi tiêu cho nhà ở và những mặt hàng cao cấp Các nhà kinh doanh còn theodõi kỹ lưỡng mọi biến động lớn trong thu nhập, giá sinh hoạt, lãi suất, tiết kiệm, vay
Trang 12tiền… bởi vì chúng có ảnh hưởng lớn đặc biệt với những công ty có sản phẩm nhạycảm với thu nhập và giá
1.2.4 Văn hóa – xã hội
Văn hóa là một hệ thống giá trị, quan niệm, niềm tin, truyền thống và các chuẩnmực hành vi đơn nhất với một nhóm người cụ thể nào đó được chia sẻ một cách tậpthể Nó là một hệ thống những giá trị được cả tập thế giữ gìn Văn hóa là vấn đề tácđộng mạnh mẽ nhất nhưng lại khó nhận ra nhất đối với các nhà hoạt động kinhdoanh quốc tế
Những giá trị văn hóa truyền thống có mức độ bền vững, khó thay đổi, được truyền
từ đời này sang đời khác .và chúng tác động mạnh mẽ cụ thể vào những thái độ,hành vi ứng xử hàng ngày, hành vi tiêu dùng, mua sắm của từng người và từng nhómngười
Những giá trị văn hóa thứ phát, linh hoạt hơn, sẽ tạo ra cơ hội thị trường hay cáckhuynh hướng tiêu dùng mới, đòi hỏi các hoạt động kinh doanh quốc tế cần khaithác tối đa
Có những “tiểu nhóm văn hóa” luôn tồn tại trong xã hội là cơ sở để hình thành vànhân rộng một đoạn thị trường nào đó Đã từng có những nhóm văn hóa đề cao “cáitôi”, thể hiện rõ trong việc tiêu dùng các sản phẩm chi để chứng tỏ cá tính, sức mạnhcủa riêng mình qua: màu sắc, kích cỡ, độ tiện dụng,… Ngày nay, xu hướng bảo vệ
“ngôi nhà chung của thế giới ” đang lan rộng khắp toàn cầu và hình ảnh cũng nhưdoanh số của công ty sẽ được nâng lên khi hoạt động của công ty hướng vào những
xu hướng trẽn
Đặc điểm của các yếu tố văn hóa ở mỗi quốc gia khác nhau đều không giống nhau.Tuy nhiên, các quốc gia trong cùng một khu vực là những nước có nền văn hóatương đồng nhau Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh quốc
tế Do yếu tố tương đồng này mà một số sản phẩm có thể bán ra ở một vài thị trường
Trang 13mà không cần thay đổi, như các máy móc công nghiệp; trong khi đó, một số sảnphẩm khác lại phải thay đổi cho phù hợp với thị trường.
Các yếu tố văn hóa trong môi trường kinh doanh quốc tế cũng có thể ảnh hưởngđến việc ra quyết định lựa chọn địa điểm kinh doanh Khi một sản phẩm phải thayđổi vì lý do văn hóa, công ty buộc phải quyết định hình thành các dự án để đáp ứngthị trường mục tiêu thay cho việc đáp ứng tất cả các loại thị trường vì hiệu quả kinh
tế theo quy mõ Văn hóa còn ảnh hưởng đến việc lựa chọn chủng loại, cách thứcphân phối sản phẩm, vì vậy các nhà kinh doanh quốc tế phải xác định xem yếu tốvăn hóa ảnh hưởng như thế nào tới khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Chất lượng lao động cũng có ý nghĩa quan trọng tới việc lựa chọn địa điểm kinhdoanh Nếu lao động nước sở tại được đào tạo tốt, hoặc ý thức ký luật lao động caothì năng suất cao Trong một số trường hợp, công ty phải tổ chức đào tạo nâng caotay nghề cho những người lao động địa phương Trong trường hợp lao động địaphương không có khả năng đáp ứng các nguồn lao động có chất lượng cao thì cácnhà kinh doanh cần phải cân nhắc thêm trước khi đưa ra quyết định lựa chọn địađiểm, vì khi sử dụng lao động bên ngoài nước sở tại có thể làm cho chi phí sản phẩmtăng lén
1.2.5 Pháp luật
Các chế độ luật pháp của một quốc gia là yếu tố cơ bản trong môi trường pháp lýảnh hưởng đến các quyết định kinh doanh của các doanh nghiệp Mỗi quốc gia cómột hệ thống pháp luật khác nhau, nhưng hệ thống pháp luật giữa các nước ngày naycũng có những chuẩn mực – đặc biệt đối với các nước là thành viên của WTO
Luật pháp của nước sở tại có ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức tiến hành và kếtquả hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Hệ thống luật pháp ở nước
sở tại ảnh hưởng tới việc lựa chọn các phương thức thâm nhập thị trường Nhữngquy định về xuất khẩu, thuế, hạn ngạch… có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết địnhkinh doanh của các công ty quốc tế Thuế nhập khẩu thấp và hạn ngạch cao sẽ làmnản lòng các nhà đầu tư nhưng lại khuyến khích các công ty xuất khẩu bán hàng;
Trang 14Ngược lại, thuế nhập khẩu cao, thuế xuất khẩu giảm, cùng những ưu đãi vé vấn đềchuyển lợi nhuận về nước… sẽ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp hayliên doanh với các doanh nghiệp trong nước Luật pháp cũng sẽ quy định và chophép những lĩnh vực và hình thức kinh doanh nào mà doanh nghiệp được phép tiếnhành hoặc bị hạn chế Thậm chí luật pháp của một số nước còn cấm đầu tư vào một
số lĩnh vực và cấm hoàn toàn một số hình thức đầu tư
Luật pháp trong môi trường kinh doanh quốc tế không chỉ gồm luật pháp quốc gia
mà còn bao gồm cả luật quốc tế “Luật quốc tế phối hợp mối quan hệ giữa các quốcgia có chủ quyền” Theo nghĩa rộng, luật quốc tế bao gồm tất cả những luật ảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế, theo nghĩa hẹp, đó là bao gồm các hiệpđịnh chi phối các mối quan hệ giữa các quốc gia có chủ quyền Mối quan hệ này chịu
sự tác động của luật quốc gia, các hiệp định song phương, đa phương, hiệp ướcthương mại quốc tế Trong những năm gần đây, cùng với sự xuất hiện cả khối liênkết kinh tế và chính trị, đã xuất hiện những thỏa thuận mới, đa dạng, song phương và
đa phương Nhở các hiệp định này mà thương mại và đầu tư quốc tế ngày càng được
mở rộng trong nội bộ và ngoài khu vực
Chính vì vậy, có thể nhấn mạnh rằng chỉ trên cơ sở nắm chắc hệ thống pháp luậtcủa từng quốc gia, khu vực, các hiệp định giữa các nước mới cho phép doanh nghiệpđưa ra được những quyết định đúng đắn trong hoạt động kinh doanh quốc tế nhằmgiảm thách thức, hạn chế rủi ro và gia tăng lợi nhuận
1.2.6 Khoa học – công nghệ
Yếu tố khoa học công nghệ bao gồm các nhân tố gây tác động ảnh hưởng đến côngnghệ mới, sáng tạo sản phẩm và thị trường mới Cõng nghệ bắt nguồn từ thành quảcủa công cuộc nghiên cứu khoa học, đem lại những phát minh và sáng tạo làm thayđổi bộ mặt thế giới và là một nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển của nhânloại Những phát minh mới nhất về thuốc kháng sinh, laze, máy tính điện tử, thẻ từ,
kỹ thuật số… được để bên cạnh những mối lo ngại về bom nguyên tử và hàng loạtloại vũ khí quân sự nguy hiểm khác Công cuộc cạnh tranh về kỹ thuật công nghệmới không chỉ cho phép các công ty chiến thắng trong phạm vi có tính toàn cấu mà
Trang 15còn làm thay đổi bản chất của sự cạnh tranh, bởi vì chúng tác động, ảnh hưởng đếnviệc thực thi các biện pháp cụ thể của kinh doanh quốc tế
Những lĩnh vực khoa học-công nghê rộng lớn và mới mẻ luôn tạo ra chở các nhàhoạt động các cơ hội thị trường không hạn chế Nhịp độ và tốc độ phát triển, đổi mớicông nghệ ngày càng nhanh hơn và ngắn hơn Trước đây phải mất cả một cuộc cáchmạng con người mới có thể sử dụng được động cơ hơi nước, động cơ đốt trong,…thì ngày nay, với kỹ thuật số, mạng điện tử, có thể chỉ ngồi tại nhà mà biết đượcthông tin trên khắp thế giới Yếu tố địa lý đã trở nên có ít ý nghĩa đối với mạnginternet, điện thoại di động… Công nghệ sinh học và vật liệu mới sẽ thực sự giúpchúng ta tiến xa hơn nữa Bên cạnh đó là việc tập trung cải tiến và hoàn thiện các sảnphẩm hàng hóa và dịch vụ hiện có sẽ ngày càng tiện dụng hơn dù chỉ là những cảitiến rất nhố
Các nhà kinh doanh quốc tế cần phải nắm bắt và hiểu rõ được bản chất của nhữngthay đổi trong khoa học công nghệ cùng nhiều phương thức khác nhau mà khoa họccông nghệ có thể ứng dụng được; mặt khác, họ phải cảnh giác kịp thời phát hiện cáckhả năng xấu có thể xảy ra, gây ra thiệt hại tới người tiêu dùng hoặc các khía cạnhđối lập có thể phát sinh
1.3 Vai trò của môi trường kinh doanh quốc tế
Trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập ngày nay, mối quan hệ phụ thuộc giữacác quốc gia và cộng đồng kinh tế thế giới ngày càng tăng Tuy nhiên, vấn đề nghiêncứu môi trường kinh doanh quốc tế được đặt ra khác nhau tuỳ theo từng loại tổ chức
- Đối với các tổ chức chỉ hoạt động ở thị trường trong nước
Đối với tổ chức chỉ hoạt động ở thị trường trong nước, có nghĩa là các sản phẩmcủa các tổ chức này chỉ tiêu thụ ở thị trường nội địa vẫn có ít nhất vẫn có hai lí docần phải nghiên cứu môi trường quốc tế
Thứ nhất, do tính phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt giữa các quốc gia trong cộngđồng thế giới ngày càng rõ rệt
Trang 16Vì vậy, những sự thay đổi của môi trường kinh doanh quốc tế chắc chắn sẽ tácđộng làm thay đổi các điều kiện môi trường vĩ mô và cạnh tranh trong nước.
Điều này cho thấy rằng muốn dự báo môi trường kinh doanh trong nước một cáchchính xác, các nhà quản trị còn phải xem xét trong một mức độ nhất định những thayđổi của môi trường quốc tế có ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh trong nước Thứ hai, trong nhiều trường hợp mặc dù các tổ chức không trực tiếp quan hệ vớithương trường quốc tế, nhưng nó có thể có quan hệ gián tiếp ở phía đầu vào hoặcphía đầu ra thông qua việc mua, bán một loại vật tư thiết bị nào đó qua một tổ chứckhác trong nước
Ngoài ra các tổ chức hoạt động trong nước không chỉ quan tâm sự tác động củamôi trường quốc tế đến các điều kiện của môi trường vĩ mô trong nước mà còn phảitính đến cả những tác động của nó đối với môi trường cạnh tranh
- Đối với các tổ chức hoạt động trên thương trường quốc tế
Các tổ chức hoạt động trên thương trường nước ngoài cần phải nghiên cứu điềukiện môi trường của nước sở tại Việc phân tích môi trường quốc tế cũng giống nhưphân tích môi trường bên ngoài song được xem xét trong bối cảnh toàn cầu
Khi phân tích môi trường nước sở tại thì môi trường chính trị – pháp luật và môitrường văn hoá cần có sự quan tâm thích đáng vì nó có thể có những điểm rất khácbiệt so với môi trường nước chủ nhà
Đối với các tổ chức sản xuất trong nước nhưng tiêu thụ sản phẩm tại thị trườngnước ngoài thì vừa phải chịu ảnh hưởng của những điều kiện môi trường kinh doanhtrong nước, vừa phải chịu những điều kiện môi trường nước ngoài Tổ chức cần tiếnhành phân tích những yếu tố vĩ mô chẳng hạn như các yếu tố kinh tế, chính trị –pháp lí, dân số, văn hoá xã hội, có liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm của mìnhtại thị trường nước ngoài Bên cạnh đó cũng cần phân tích và nhận dạng các áp lựccủa môi trường cạnh tranh mà tổ chức đang phải đối mặt tại thị trường nước ngoài,chẳng hạn như khách hàng, người cung cấp, sản phẩm thay thế,
Đối với các tổ chức chỉ hoạt động trên thương trường nội địa nhưng có quan hệ với
tổ chức cung cấp nước ngoài thì cũng phải tính đến yếu tố môi trường của nước sở
Trang 17tại Tuỳ thuộc vào tình hình thực tế biến động của môi trường vĩ mô và môi trườngtác nghiệp của các tổ chức cung cấp ở nước ngoài mà có thể tạo ra những thuận lợihoặc khó khăn đối với các nguồn cung cấp đầu vào của tổ chức.
Đối với các tổ chức đang tìm cách thành lập với các cơ sở sản xuất ở nước ngoàithì càng phải quan tâm hơn nữa những yếu tố của môi trường tại nước ngoài Ví dụ,các yếu tố như mức tiền công trung bình, luật thuế, các quy định về thuê mướn tạiđịa phương, các quan điểm chung về công ăn việc làm và mức sống, các điều kiện vềtài nguyên thiên nhiên, sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức