1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận) đề bài tìm hiểu một vụ tranh chấp trong khuôn khổ wto liên quan đến điều xx gatt (ngoại lệ chung) và trình bày các nội dung theo yêu cầu

14 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu một vụ tranh chấp trong khuôn khổ WTO liên quan đến Điều XX GATT (ngoại lệ chung) và trình bày các nội dung theo yêu cầu
Người hướng dẫn Bùi Thị Diệu Thúy
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Thương mại Quốc tế
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 546,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT WTO Đề bài Tìm hiểu một vụ tranh chấp trong khuôn khổ WTO liên quan đến Điều XX GATT (ngoại lệ chung) và trình bày các nội dung theo yêu cầu[.]

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM

MÔN: LUẬT WTO

Đề bài: Tìm hiểu một vụ tranh chấp trong khuôn khổ

WTO liên quan đến Điều XX GATT (ngoại lệ chung) và trình bày các nội dung theo yêu cầu

Hà Nội, 2021

Trang 3

BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ

THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM

Ngày: 28/04/2021 Địa điểm: Trường Đại học Luật Hà Nội

Nhóm số: 01 Lớp: N01.TL2

Khoa: Luật Thương mại quốc tế Khoá: 44

Tổng số sinh viên của nhóm: 09

• Có mặt: 09

• Vắng mặt: 0 Có lý do:……… Không có lý do………

Môn học: Luật WTO

Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập nhóm với kết quả như sau:

STT MÃ SV HỌ VÀ TÊN

ĐÁNH GIÁ CỦA

SV

SV KÝ TÊN ĐÁNH GIÁ CỦA GV

A B C

ĐIỂM (số)

ĐIỂM (Chữ)

GV (Ký tên)

2 442728 Phan Hà Phương ✓

3 442729 Nguyễn An Phương ✓

4 442730 Hoàng Thị Nhật Lệ ✓

5 442731 Trần Thương Huyền ✓

6 442732 Lê Nguyễn Khả Tú ✓

7 442733 Cao Thị Thanh Nhàn ✓

8 442734 Đặng Triệu Vy ✓

9 442735 Bùi Thị Diệu Thúy ✓

Trang 4

Hà Nội, ngày 28 tháng 04 năm 2021

Kết quả điểm bài viết: NHÓM TRƯỞNG

- Giáo viên chấm thứ nhất:.………

- Giáo viên chấm thứ hai:.………

Kết quả điểm thuyết trình:………

- Giáo viên cho thuyết trình:……… Bùi Thị Diệu Thuý

Điểm kết luận cuối cùng:………

- Giáo viên đánh giá cuối cùng:…………

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT - 6 -

MỞ ĐẦU - 7 -

NỘI DUNG - 7 -

1 Vấn đề pháp lý của vụ tranh chấp - 7 -

2 Lập luận pháp lý của các bên trong vụ việc - 8 -

2.1 Lập luận của nguyên đơn - 8 -

2.2 Lập luận của bị đơn - 10 -

3 Ý kiến của cơ quan giải quyết tranh chấp Bình luận về ý kiến - 11 -

3.1 Ý kiến của cơ quan giải quyết tranh chấp - 11 -

3.1.1 Phán quyết của Ban hội thẩm - 11 -

3.1.2 Phán quyết của AB - 12 -

3.2 Bình luận về ý kiến của cơ quan giải quyết tranh chấp - 12 -

KẾT LUẬN - 13 -

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 14 -

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DSB Cơ quan giải quyết tranh chấp

GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại Hiệp định TBT Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại

Trang 7

MỞ ĐẦU

Vấn đề bảo vệ môi trường có một vị trí riêng biệt trong thể chế của WTO Lời nói đầu của Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới tuyên bố rằng các bên của hiệp định tham gia vào quá trình tự do hóa thương mại

nhằm nâng cao tiêu chuẩn sống và đảm bảo đầy đủ việc làm “trong khi vẫn theo

đuổi mục tiêu bảo vệ và bảo tồn môi trường ” Tuy nhiên, trên thực tế, sự hòa

hợp giữa thương mại tự do và việc bảo vệ môi trường không dễ dàng Có thể xảy

ra sự căng thẳng giữa nguyên tắc tự do hóa thương mại hình thành nên thể chế của WTO và các biện pháp được ban hành bởi các quốc gia thành viên nhằm bảo

vệ môi trường Vụ DS2 - Hoa Kỳ - Tiêu chuẩn về xăng dầu thường và xăng dầu tái chế liên quan đến điều XX hiệp định GATT là một tranh chấp tiêu biểu về vấn

đề trên Sau đây, chúng ta cùng đi nghiên cứu và làm rõ vụ tranh chấp này

NỘI DUNG

1 Vấn đề pháp lý của vụ tranh chấp

Vụ tranh chấp DS2 giữa nguyên đơn (Brazil và Venezuela) và bị đơn Hoa

Kỳ xoay quanh Đạo luật làm sạch không khí (Clean Air Act 1990) hay gọi tắt là Quy tắc Xăng dầu của Hoa Kỳ Theo đó, bị đơn bị cáo buộc đã đặt các rào cản phân biệt cho quá trình sản xuất và nhập khẩu xăng dầu của nhà máy nội địa và nhà máy nước ngoài, vi phạm Điều I và III Hiệp định GATT, và Điều 2 của Hiệp định TBT

CAA được ban hành lần đầu năm 1963 nhằm mục đích ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm không khí ở Hoa Kỳ Mục 211 (k) của CAA phân chia thị trường xăng tại Hoa Kỳ thành hai phần Phần đầu tiên bao gồm 09 khu vực đô thị ô nhiễm nhất, và ở khu vực này, chỉ "xăng tái chế" (cải tiến từ xăng thông thường) mới có thể được tiêu thụ Ở phần còn lại, "xăng thông thường" vẫn được bán cho người tiêu dùng Việc thực hiện cả hai chương trình này áp dụng cho xăng do các nhà máy lọc dầu và nhập khẩu trong nước bán

Trang 8

CAA cũng yêu cầu xăng dầu thường do các nhà máy lọc dầu và nhà nhập khẩu trong nước bán ở Hoa Kỳ phải sạch như mức cơ sở (đại diện cho chất lượng xăng nhà máy đó sản xuất) năm 1990 Theo đó, Quy tắc Xăng dầu sẽ thiết lập mức cơ sở này, có thể riêng lẻ (do chính đơn vị thiết lập) hoặc theo luật định (do EPA thiết lập, nhằm phản ánh chất lượng xăng trung bình của Hoa Kỳ năm 1990), tùy thuộc vào bản chất của đơn vị buôn bán xăng dầu

Tuy nhiên, Quy tắc Xăng dầu lại không quy định các mức cơ sở riêng của các nhà máy lọc dầu nước ngoài mà phần đông sẽ phải sử dụng mức cơ sở do luật định Mức cơ sở riêng lẻ vẫn có thể được xác định bằng cách sử dụng Phương pháp 1, 2 hoặc 3, giống như với các nhà máy lọc dầu trong nước, nhưng các nhà máy lọc dầu nước ngoài lại chịu nhiều điều kiện và hạn chế hơn

2 Lập luận pháp lý của các bên trong vụ việc

2.1 Lập luận của nguyên đơn

*Điều XX (b) Hiệp định GATT 1994:

- Venezuela cho rằng Điều XX (b) không được áp dụng vì Hoa Kỳ đã không chứng minh được rằng họ không có biện pháp nào ít hạn chế thương mại hơn để đạt được mục tiêu cho chính sách không khí của mình

- Venezuela lập luận rằng mối quan tâm của Hoa Kỳ về việc các nhà máy lọc dầu nước ngoài sẽ “thao túng” thị trường hoàn toàn là suy đoán Số liệu thống

kê của Hoa Kỳ cho thấy rằng, trong quý 1 năm 1995, xăng nhập khẩu chiếm chưa đến 2% tổng lượng tiêu thụ xăng của Hoa Kỳ Do đó, kể cả nếu chấp nhận lập luận của Hoa Kỳ (mà Venezuela không hề chấp nhận), thì thị phần bị thao túng vẫn sẽ chiếm ít hơn hơn 1% tổng lượng xăng tiêu thụ của Hoa Kỳ Tác động thực

tế của việc này là quá nhỏ để biện minh cho sự phân biệt đối xử với xăng nhập khẩu theo Điều XX (b)

- Venezuela lập luận rằng các ví dụ mà Hoa Kỳ đưa ra cho thấy sự gia tăng phát thải lượng NOx trung bình từ xăng nhập khẩu là thiếu sót Không có động

Trang 9

cơ kinh tế nào để một nhà máy lọc dầu vận hành theo cách kém tối ưu hơn để tăng mức phát thải của nhiên liệu

- Brazil không cho rằng mục đích cuối cùng của Hoa Kỳ là giải quyết vấn

đề ô nhiễm không khí Tất cả xăng dầu nhập khẩu phải đáp ứng mức cơ sở theo luật định năm 1990, trong khi đó một nửa số nhà máy lọc dầu trong nước có thể đang bán xăng không đáp ứng được tiêu chuẩn này

- Brazil cho rằng sự phân biệt đối xử là không chính đáng ngay cả khi cho rằng không thể cho phép các nhà máy lọc dầu nước ngoài thiết lập mức cơ sở riêng Theo Điều I và Điều III của GATT và Điều 2 của Hiệp định TBT – khi lựa chọn chính sách liên quan đến phân biệt đối xử, một thành viên WTO có nghĩa vụ phải chọn một phương án khả thi khác Trong trường hợp này, có tồn tại một giải pháp khả dụng như vậy, đó là áp dụng mức cơ sở ban đầu cho tất cả các nhà sản

xuất xăng cả trong nước và nước ngoài

*Điều XX (g) Hiệp định GATT 1994:

Venezuela đồng tình với mối lo ngại của Hoa Kỳ về tác động của ô nhiễm không khí tới sức khỏe, nhưng tuyên bố rằng các lập luận của Hoa Kỳ về khả năng

áp dụng Điều XX (g) đối với trường hợp này sai cả về mặt pháp lý và thực tiễn Venezuela coi không khí sạch là một "tình trạng" của không khí chứ không phải

là tài nguyên có thể cạn kiệt như dầu mỏ và than đá Không thể vì lo lắng cạn kiệt không khí sạch mà đặt ra các tiêu chuẩn đối với xăng dầu nhập ngoại

Brazil lập luận rằng, kể cả nếu coi rằng không khí sạch là một nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể cạn kiệt, Quy tắc Xăng dầu không hề hạn chế sản xuất hoặc tiêu thụ không khí sạch trong nước Thay vào đó, Quy tắc này còn tăng sản lượng và tăng lượng tiêu thụ không khí sạch Hơn nữa, cả CAA và Quy tắc xăng đều không hạn chế số lượng xăng có thể được sản xuất hoặc tiêu thụ ở Hoa Kỳ

mà chỉ đơn thuần là kiểm soát chất lượng của nó Vì thế, Quy tắc xăng dầu không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều XX (g)

Trang 10

2.2 Lập luận của bị đơn

Đáp trả các vấn đề mà bên nguyên đơn nêu ra, Hoa Kỳ đưa ra hai lập luận chính:

Thứ nhất, Hoa Kỳ cho rằng các quy định trong CAA 1990 của EPA đưa ra

là hợp lí, phù hợp với các quy định của WTO

Căn cứ pháp lí Hoa Kì đưa ra: Điều XX (b) GATT 1994 phần ngoại lệ

chung cho phép các quốc gia áp dụng các biện pháp "cần thiết để bảo vệ con

người, động vật và thực vật"

Hoa Kỳ lập luận rằng ô nhiễm không khí, đặc biệt là tầng ozone gây nguy

cơ sức khỏe cho con người và động thực vật Ô nhiễm không khí là nguyên nhân gây ung thư, dị tật bẩm sinh, tổn thương não, rối loạn sinh sản và đột biến gen Ô nhiễm tầng ozone cũng gây mất năng suất cây trồng ở Hoa Kỳ Do đó, mục đích của Quy tắc Xăng dầu là bảo vệ sức khỏe và phúc lợi cộng đồng bằng cách giảm lượng khí thải độc hại, chất ô nhiễm, VOCs và NOx đối với xăng tái chế Việc sử dụng tiêu chuẩn riêng cho xăng thông thường là cách nhanh nhất và công bằng nhất để đảm bảo xăng dầu của Hoa Kỳ có chất lượng sạch trong khi không gây ra gián đoạn sản xuất xăng dầu thông thường trong nước

Thứ hai, Hoa Kỳ cho rằng các mục tiêu cơ bản của chính sách xăng dầu

thông thường và xăng dầu tái chế nằm trong phạm vi điều chỉnh của các chính sách bảo tồn không khí sạch và các tài nguyên thiên nhiên khác

Căn cứ pháp lý Hoa Kỳ đưa ra: Điều XX (g) Hiệp định GATT 1994 cho

phép các quốc gia áp dụng biện pháp liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên

có thể bị cạn kiệt

Ở vế thứ nhất của điều XX (g), Hoa Kỳ chỉ ra không khí sạch là một nguồn

tài nguyên có thể bị cạn kiệt theo Điều XX (g) vì không khí có thể bị cạn đi do

sự phát thải của các chất ô nhiễm như VOC, NOx và các độc tố khác Không khí chứa các chất ô nhiễm có thể di chuyển một khoảng cách xa và làm ô nhiễm các luồng khí khác Hơn nữa, bằng cách ngăn chặn suy giảm chất lượng không khí,

Trang 11

hồ, suối, cây trồng và rừng, vốn đã bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí Hoa Kỳ khẳng định không khí sạch là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể bị cạn kiệt nếu

nó không đáp ứng đủ nhu cầu của con người, động vật hoặc thực vật Điều này tương đồng với chi tiết một án lệ trước đó rằng cá là một "nguồn tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt" vì quần thể của chúng có thể bị tuyệt chủng.1

3 Ý kiến của cơ quan giải quyết tranh chấp Bình luận về ý kiến

3.1 Ý kiến của cơ quan giải quyết tranh chấp

3.1.1 Phán quyết của Ban hội thẩm

Ban Hội thẩm chỉ ra rằng khi viện dẫn ngoại lệ tại Điều XX (b), Hoa Kỳ phải thỏa mãn 2 yếu tố sau:

(1) Mục tiêu của chính sách là bảo vệ cuộc sống hay sức khoẻ của con người, động hoặc thực vật

Ban Hội thẩm đồng ý với Hoa Kỳ rằng chính sách giảm thiểu ô nhiễm không khí do tiêu thụ xăng dầu là một chính sách nằm trong khuôn khổ bảo vệ cuộc sống hoặc sức khỏe con người, động vật và thực vật được đề cập trong Điều

XX (b)

(2) Biện pháp đó là cần thiết để đạt được mục đích trên

Ban Hội thẩm nhắc lại rằng xăng nhập khẩu được đối xử kém thuận lợi hơn xăng sản xuất trong nước, vì theo các phương pháp thiết lập mức cơ sở, xăng nhập khẩu không được hưởng lợi từ các điều kiện bán hàng thuận lợi như xăng trong nước được hưởng mức cơ sở riêng Sau đó, Ban Hội thẩm tiến hành xem xét liệu Quy tắc Xăng dầu có cần thiết để đạt được các mục tiêu chính sách đã nêu theo Điều XX (b) hay không Tuy nhiên, Ban Hội thẩm cho rằng Hoa Kỳ vẫn còn các biện pháp khác khả thi để thực hiện chính sách, nói cách khác Quy tắc Xăng dầu không phải giải pháp phù hợp duy nhất

1 Canada - Biện pháp làm ảnh hưởng đến xuất khẩu cá trích và cá hồi chưa chế biến", BISD 35S/98 (thông qua ngày 22/03/1988) và "Hoa Kỳ - Cấm nhập khẩu cá ngừ và các sản phẩm từ cá ngừ của Canada, BISD 29S/91

Trang 12

Vì thế, Ban Hội thẩm cho rằng Quy tắc Xăng dầu của Hoa Kỳ không phù hợp với Thỏa thuận chung của các nước WTO

Với Điều XX (g), theo quan điểm của Ban Hội thẩm, không khí sạch là một nguồn tài nguyên (có giá trị) và có thể bị cạn kiệt Theo đó, Ban Hội thẩm nhận thấy rằng chính sách giảm thiểu sự suy giảm không khí sạch là chính sách bảo tồn tài nguyên thiên nhiên theo ý nghĩa của Điều XX (g)

Tuy nhiên, Ban Hội thẩm cũng không thấy có mối liên hệ trực tiếp nào giữa

“việc đối xử xăng nhập khẩu kém thuận lợi hơn so với xăng nội địa” và “mục tiêu của Hoa Kỳ là cải thiện chất lượng không khí” Thật vậy, việc đảm bảo đối xử không kém phần thuận lợi sẽ không ngăn cản việc đạt được mức độ bảo tồn tài nguyên mà Hoa Kỳ mong muốn theo Quy tắc Xăng dầu Do đó, Ban Hội thẩm kết luận rằng các phương pháp kém thuận lợi được đề cập trong trường hợp này chủ yếu không nhằm mục đích bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

3.1.2 Phán quyết của AB

AB kết luận rằng rằng xăng nhập khẩu và xăng sản xuất trong nước là "sản phẩm tương tự" và do đó, việc xăng nhập khẩu được đối xử “kém ưu ái hơn” so với xăng trong nước không phù hợp với khoản 4, Điều III GATT, và không thể được biện minh theo các ngoại lệ tại khoản (b) và (g) của Điều XX GATT

AB khuyến nghị yêu cầu Hoa Kỳ đưa phần này của Quy tắc Xăng dầu phù hợp với các điều khoản trong Thỏa thuận chung

3.2 Bình luận về ý kiến của cơ quan giải quyết tranh chấp

HĐXX đều công nhận rằng không khí sạch là tài nguyên có khả năng bị cạn kiệt, từ đó cho thấy HĐXX có cái nhìn đúng đắn về vấn đề đang gây tranh cãi

và đồng ý với việc Hoa Kỳ đưa ra các biện pháp nhằm bảo vệ nền không khí sạch của quốc gia Nhưng không vì thế mà HĐXX chủ quan trong việc xem xét tính tương quan giữa biện pháp bảo vệ môi trường của Hoa Kỳ và nguyên tắc chung của WTO, cụ thể là các ngoại lệ chung (điều XX) trong GATT 1947 được viện

Trang 13

cầu Hoa Kỳ phải chứng minh rõ ràng những yêu cầu cần thiết để xét xem chính sách của Hoa Kỳ có đủ điều kiện để viện dẫn ngoại lệ hay không; từ đó Ban Hội thẩm thực hiện chức năng rà soát, xem xét các khía cạnh đó một cách kĩ càng và cẩn thận, bảo đảm thực hiện đúng trách nhiệm của mình

Mặc dù đã qua quá trình xem xét nhưng Ban Hội thẩm vẫn để lộ một số thiếu sót nhất định Sau khi có quyết định của Ban Hội thẩm và có kháng cáo, AB

đã xem xét lại, và bên cạnh đó còn đề ra cho Ban Hội thẩm phải yêu cầu Hoa Kỳ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chứng minh của mình Hành động đó thể hiện sự khách quan và sáng suốt trong cách làm việc của AB

Có thể thấy, việc đưa ra các phán quyết giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia thuộc WTO là vô cùng khó khăn và phức tạp, khi WTO đang phải vận hành giữa bối cảnh thương mại quốc tế mà với những “căng thẳng thương mại toàn cầu chưa từng có tiền lệ trước đây” Tuy nhiên, qua phán quyết của HĐXX,

ta có thể thấy được tính sáng suốt, khách quan, đúng thẩm quyền và tính chuyên nghiệp trong hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại của WTO

KẾT LUẬN

Quá trình tự do thương mại hóa ngày càng phát triển và đa dạng, đem tới

cơ hội và thách thức cho các quốc gia Tuy nhiên, suy cho cùng tự do hóa thương mại hướng tới một môi trường cạnh lành lành mạnh, bền vững cũng là vì lợi ích

và sức khỏe của người tiêu dùng Do vậy, với vai trò là tổ chức thương mại toàn cầu, WTO đã đề ra những quy định gắn kết giữa tự do hóa thương mại với những giá trị văn hóa liên quan đến con người và sự phát triển của xã hội Những quy định này được đưa ra dưới hình thức các ngoại lệ chung Cụ thể hơn trong bài trình bày của nhóm em, đó là Điều XX của GATT Đây có thể coi là những ngoại

lệ quan trọng nhất, giúp cân bằng tự do hóa thương mại và các giá trị văn hóa và

môi trường cần thiết

Ngày đăng: 10/05/2023, 15:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w