BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN LUẬTWTO Đề bài Trình bày nội dung pháp lí của Điều III GATT Phân tích một vụ tranh chấp trong khuôn khổ WTO liên quan đến Điều này H[.]
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN : LUẬT WTO
Đề bài:
Trình bày nội dung pháp lí của Điều III GATT Phân tích một vụ tranh chấp trong khuôn khổ WTO liên quan đến Điều này
HỌ VÀ TÊN: BÙI ĐỨC HUY MSSV: 453011
LỚP: 4530
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 3
I Tổng quan về Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 3
II Nội dung pháp lí của Điều III GATT 4
III Phân tích tranh chấp về việc Trung Quốc áp dụng mức thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm ô tô dựa trên dung tích động cơ và dung tích động cơ 7 1 Tóm tắt vụ việc 7
2 Kết luận của Ban Hội thẩm: 8
3 Phân tích vụ việc : 8
IV Thực tiễn triển khai nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) theo quy định của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) trong khuôn khổ WTO được áp dụng tại Việt Nam 10
KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3MỞ ĐẦU
Thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay Giao dịch trong thương mại quốc tế tuân theo những nguyên tắc nhất định, trong đó nguyên tắc đối xử quốc gia là một trong những nguyên tắc quan trọng của luật thương mại quốc tế Bài làm của em xin trình bày nội dung pháp lí của Điều III GATT, quy định về: Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment – NT) đồng thời phân tích một vụ tranh chấp trong khuôn khổ WTO liên quan đến Điều này
Bài làm của em còn nhiều thiếu sót, em mong nhận được sự góp ý từ thầy
cô trong tổ bộ môn để em hoàn thiện hơn trong quá trình học tập Em xin chân thành cảm ơn !
NỘI DUNG
I Tổng quan về Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
WTO với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới, thực hiện những mục tiêu đã được nêu trong Lời nói đầu của Hiệp định GATT là nâng cao mức sống của nhân dân các nước thành viên, đảm bảo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của thế giới
Agreement on Tariffs and Trade, viết tắt là GATT) là một hiệp ước được ký kết vào ngày 30 tháng 10 năm1947, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1948 nhằm điều hòa chính sách thuế quan giữa các nước ký kết
Phần lớn công việc của GATT tập trung vào việc thương thuyết cắt giảm
giảm thuế, kể cả vòng đàm phán Kenedy 1962-1967, bảo đảm mức cắt giảm quan thuế bình quân 35% và gần đây là vòng đàm phán Uruguay 1986
Trang 4Các nước tham gia GATT đã tiến hành 9 vòng đàm phán, ký kết thêm nhiều thỏa ước thương mại mới Vòng đám phán thứ tám, Vòng đàm phán Uruguay, kết thúc vào năm 1994 với sự thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization - WTO) thay thế cho GATT Các nguyên tắc và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý, và mở rộng Không giống như GATT chỉ có tính chất của một hiệp ước, WTO là một tổ chức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể WTO chính thức được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm
Hệ thống các hiệp định của WTO khá lớn và đồng bộ, bao quát cả một phạm vi rộng lớn các hoạt động thương mại, kinh doanh quốc tế Các hiệp định
đó liên quan đến thương mại hàng hoá , thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư quốc tế, không loại trừ các hoạt động trong nông nghiệp, hàng dệt và may mặc, ngân hàng, vô tuyến viễn thông, mua sắm của chính phủ, các tiêu chuẩn công nghiệp, các quy định về vệ sinh thực phẩm, sở hữu trí tuệ, và trong các lĩnh vực khác Tuy vậy, các nguyên tắc cơ bản, các nguyên tắc nền tảng của thương mại, kinh doanh toàn cầu được thiết kế xuyên suốt toàn bộ các hiệp định Tổ chức thương mại thế giới được xây dựng dựa trên bốn nguyên tắc pháp lý nền tảng là: Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN); Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT); Nguyên tắc mở cửa thị trường; Nguyên tắc cạnh tranh công bằng
II Nội dung pháp lí của Điều III GATT
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment – NT) quy định tại Ðiều III Hiệp định GATT, Ðiều 17 GATS và điều 3 TRIPS Nguyên tắc NT được hiểu là hàng hoá nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá cùng loại trong nước Trong khuôn khổ WTO, nguyên tắc NT chỉ áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ, các quyền sở hữu trí tuệ chưa áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân Phạm vi
1 https://luatminhkhue.vn/phan-tich-vong-dam-phap-urugoay-cua-gatt-va-hiep-dinh-thanh-lap-to-chuc-thuong-mai-the-gioi-wto.aspx
Trang 5phạm áp dụng của nguyên tắc NT đối với hàng hoá, dịch vụ và sở hữu trí tuệ có khác nhau Ðối với hàng hoá và sở hữu trí tuệ việc áp dụng nguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung (general obligation), có nghĩa là hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài sau khi đã đóng thuế quan hoặc được đăng ký bảo vệ hợp pháp phải được đối xử bình đẳng như hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ trong nước đối với thuế và lệ phí nội địa, các quy định về mua, bán, phân phối, vận chuyển Ðối với dịch vụ, nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với những lĩnh vực, ngành nghề đã được mỗi nước đưa vào trong danh mục cam kết cụ thể của mình
và mỗi nước có quyền đàm phán đưa ra những ngoại lệ (exception)
Ví dụ: ở Việt Nam đã có sự vi phạm trong nguyên tắc đối xử đối với sản phẩm bia, ở Việt Nam có bia hơi và bia tươi cả hai loại bia này đều chịu loại thuế tiêu thụ đặc biệt (bia hơi có nguồn gốc trong nước; còn bia tươi có nguồn gốc nhập khẩu), VN đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với sản phẩm bia hơi có mức
áp thuế là 30%, còn bia tươi có mức áp thuế là 75% – rất chênh lệch do vậy tất
cả các nước đối tác đều yêu cầu VN phải thống nhất hai mức thuế – thuế đánh vào bia hơi thế nào thì cũng phải đánh vào bia tươi như vậy Do đó từ năm 2006,
Theo khoản 1, Điều III GATT 1994, Điều khoản chỉ ra mục tiêu đầu tiên
và quan trọng của nghĩa vụ NT, mục tiêu này cũng được thừa nhận rõ ràng trong nhiều báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm, đó là chống chủ nghĩa bảo hộ Bên cạnh khoản 1, các khoản 2 và 4 quy định thêm về nghĩa vụ chung (khác với các khoản khác chỉ quy định về các biện pháp cụ thể) và sẽ được thảo luận tiếp theo.Khoản 2 về NT liên quan đến ‘thuế nội địa’ điều chỉnh hai loại sản phẩm, đó là ‘sản phẩm tương tự’ và ‘sản phẩm có thể thay thế hoặc cạnh tranh trực tiếp’ Loại sản phẩm đầu tiên được quy định tại câu đầu tiên của khoản 2 sẽ được xem xét trước
2
http://www.dankinhte.vn/nguyen-tac-doi-xu-quoc-gia-national-treatment-nt/#:~:text=V%C3%AD%20d%E1%BB%A5%3A%20%E1%BB%9F%20Vi%E1%BB%87t%20Nam,m%E1%BB%A9c%20%C3%A1p
%20thu%E1%BA%BF%20l%C3%A0%2030
Trang 6Đối tượng áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia gồm :3
Thuế và lệ phí trong nước: Các nước thành viên không được phép đánh
thuế và các lệ phí đối với sản phẩm nhập khẩu cao hơn so với sản phẩm nội địa cùng loại Mặt khác, các nước thành viên cũng không được phép áp dụng thuế
và lệ phí trong nước đối với sản phẩm nhập khẩu hoặc sản phẩm nội địa theo phương pháp nào đó nhằm bảo hộ cho sản xuất trong nước (khoản 2 Điều 3)
Quy chế mua bán: Pháp luật , quy định và các yêu cầu khác ảnh hưởng
đến mua bán , vận tải , phân phối hay sử dụng sản phẩm trong nước không được phép đối xử với sản phẩm nhập khẩu kém ưu đãi hơn so với sản phẩm nội địa cùng loại Trong đó " ảnh hưởng " ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả các điều kiện cạnh tranh giữa sản phẩm nhập khẩu với sản phẩm nội địa cùng loại ( khoản 4 Điều 3 )
Quy chế số lượng
Các nước thành viên không được phép đặt ra hoặc duy trì quy chế trong nước về số lượng liên quan đến sự pha trộn , chế biến hoặc sử dụng các sản phẩm theo một số lượng hoặc tỉ lệ nhất định , trong đó yêu cầu rằng số lượng hoặc tỉ lệ pha trộn của sản phẩm là đối tượng của quy chế này phải được cung cấp từ nguồn trong nước , hay áp dụng quy chế số lượng này theo cách thức nhằm bảo vệ sản xuất trong nước ( khoản 5 Điều 3)
Cũng giống như nguyên tắc đối xử tối huệ quốc , nguyên tắc đối xử quốc gia không phải là nguyên tắc tuyệt đối mà nó cũng có những ngoại lệ nhất định Theo quy định của GATT 1994 thì hiệp định này chấp nhận những ngoại lệ sau đây của nguyên tắc này, các ngoại lệ được quy định tại Hiệp định GATT 1994 như sau:
- Cung cấp các khoản tiền trợ cấp đới với người sản xuất trong nước (điểm b khoản 8 điều 3)
- Phân bổ thời gian chiếu phim vì mục đích thương mại giữa phim trong nước và phim nước ngoài theo quy định tại điều IV GATT 1994
3 Giáo trình Luật Thương mại quốc tế / Trường Đại học Luật Hà Nội ; Nông Quốc Bình chủ biên ; Nguyễn Thị Thu Hiền, xuất bản 2017, trang 50
Trang 7- Mua sắm của Chính phủ quy định tại Điểm a, khoản 8 điều 3.
III Phân tích tranh chấp về việc Trung Quốc áp dụng mức thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm ô tô dựa trên dung tích động cơ và dung tích động cơ
1 Tóm tắt vụ việc
Nguyên đơn: EC, Hòa Kỳ
Bị đơn: Trung Quốc
Cơ quan xét xử: Ban hội thẩm (Panel), Cơ quan Phúc thẩm (AB)
Quy định gây tranh chấp: Trung Quốc áp dụng mức thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm ô tô dựa trên dung tích động cơ và dung tích động cơ càng lớn thì mức thuế càng cao
Trong bối cảnh nền kinh tế công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường và chống biến đổi khí hậu là những yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với các quốc gia khi xây dựng các chính sách thương mại quốc Cụ thể, hầu hết quốc gia trên thế giới đều đặt ra mục tiêu và yêu cầu hướng tới sự phát triển bền vững Trong đó, tiêu biểu nhất là chính sách thuế xanh được Chính phủ Trung Quốc áp dụng lần đầu tiên liên quan đến mức thuế đối với sản phẩm ô tô ( Năm 2008) Cụ thể, nước này đã áp dụng mức thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm ô tô dựa trên dung tích động cơ và dung tích động cơ càng lớn thì mức thuế càng cao Tuy nhiên, những chính sách này có thể sẽ gây
ra những vi phạm về các nghĩa vụ của WTO, cụ thể là nghĩa vụ đối xử quốc gia theo quy định tại Điều III của GATT Sau khi chính sách thuế xanh của Trung Quốc được áp dụng, ngay lập tức EU và Hoa Kỳ đã đệ trình văn bản lên Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO với cáo buộc rằng biện pháp này của Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ đối xử quốc gia theo quy định tại Điều III.2 của GATT 1994:
2 Hàng nhập khẩu từ lãnh thổ của bất cứ một bên ký kết nào sẽ không phải chịu, dù trực tiếp hay gián tiếp, các khoản thuế hay các khoản thu nội địa thuộc bất cứ loại nào vượt quá mức chúng được áp dụng, dù trực tiếp hay gián tiếp, với sản phẩm nội tương tự Hơn nữa, không một bên ký kết nào sẽ áp dụng
Trang 8các loại thuế hay khoản thu khác trong nội địa trái với các nguyên tắc đã nêu tại khoản 1.*
2 Kết luận của Ban Hội thẩm:
Ban Hội thẩm đã kết luận rằng với chính sách thuế, Trung Quốc đã vi phạm Điều III.2 của GATT 1994 Theo WTO, sản phẩm ô tô có động cơ dung tích lớn (loại sản phẩm này chủ yếu là nhập khẩu từ các quốc gia khác, như Hoa
Kỳ và EU) và sản phẩm ô tô có động cơ dung tích nhỏ (loại sản phẩm này chủ yếu là sản phẩm nội địa Trung Quốc) là các sản phẩm tương tự theo quy định tại Điều III vì đều có cùng mục đích sử dụng và đều là các sản phẩm cạnh tranh với nhau, chưa kể đến các đặc điểm vật lý và tính chất tương tự nhau
3 Phân tích vụ việc :
Về phía bị đơn, Trung Quốc cho rằng cần có sự phân biệt rõ ràng giữa sản phẩm ô tô có động cơ dung tích nhỏ và sản phẩm ô tô có động cơ dung tích lớn Trong chiến dịch bảo vệ môi trường ở khía cạnh thương mại quốc tế, Trung Quốc gọi những sản phẩm như các loại ô tô có động cơ dung tích nhỏ này là một loại sản phẩm xanh - sản phẩm thân thiện với môi trường và cần phân biệt nó
Trung Quốc đưa ra để phân biệt các sản phẩm ô tô với nhau Theo quan điểm của Chính phủ, trong vụ việc này, sản phẩm ô tô có động cơ dung tích lớn thông thường sẽ có kích thước lớn hơn, nặng hơn và sử dụng nhiều năng lượng hơn, do
đó sẽ tạo ra nhiều khí thải hơn so với các loại có động cơ dung tích nhỏ
Thông qua đánh thuế lên các phương tiện có động cơ dung tích lớn với mức cao hơn, Trung Quốc hi vọng rằng người tiêu dùng sẽ sử dụng các sản phẩm ô tô có động cơ dung tích nhỏ nhằm tiết kiệm năng lượng hiệu quả và giảm phát thải ra môi trường Câu chuyện này của Trung Quốc đã gia tăng mối quan tâm của nhiều quốc gia đối với sản phẩm xanh trong lĩnh vực thương mại quốc tế
4 Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, số 131 (09/2020) - Đại học Ngoại Thương
Trang 9Chưa đầy một tháng sau khi bị thua trong vụ tranh chấp nêu trên với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Trung Quốc đã áp dụng một hệ thống thuế mới đánh vào xe nhập khẩu
Loại thuế này giúp Trung Quốc vừa đạt được mục tiêu hạn chế xe nhập khẩu, lại vừa là thuế “xanh” Các chuyên gia nhận đinh, WTO khó có thể phản đối được loại thuế này.Trung Quốc áp dụng thuế nhập khẩu đặc biệt 25% đối với linh kiện xe hơi nhập khẩu, thay vì mức 10% như bình thường, nếu như những linh kiện đó chiếm hơn một nửa giá trị của chiếc xe Nhập khẩu xe ôtô
Mức thuế này nhằm mục đích khuyến khích các nhà sản xuất xe hơi nước ngoài sử dụng nhiều hơn các linh kiện xe hơi sản xuất trong nước và giảm nhập khẩu Tuy nhiên, Mỹ, EU và Canada cho rằng mức thuế này đi ngược các quy tắc của WTO Tháng 7 vừa qua, WTO đã quyết định nhóm các nước khởi kiện này thắng kiện Trung Quốc
Theo luật Trung Quốc, các nhà sản xuất xe hơi phải dùng 60% linh kiện trong nước nếu không sẽ bị đánh thuế cao WTO ra phán quyết buộc Trung Quốc phải chấm dứt hạn chế này theo đúng luật WTO Trung Quốc có quyền kháng cáo và phán quyết cuối cùng của WTO về vấn đề này sẽ được đưa ra vào cuối năm nay
Trung Quốc vẫn có thể kháng cáo Tuy nhiên, Chính phủ nước này đã tìm
ra một biện pháp mới để giảm việc nhập khẩu những chiếc xe hơi đắt tiền vào nước này Ngày 13/8, Trung Quốc đã công bố một loại thuế “xanh” mới sẽ có hiệu lực vào ngày 1/9 tới nhằm mục tiêu giảm tiêu thụ nhiên liệu và chống ô nhiễm Thay vì tăng thuế đánh vào xăng dầu - loại thuế đã được tăng thêm tới gần 20% trong tháng 6 vừa qua - Trung Quốc đánh thuế vào những chiếc xe
“nghiện xăng” “Tình cờ”, phần lớn những chiếc xe như vậy đều là xe nhập khẩu.Theo đó, xe với dung tích động cơ trên 4,1 lít phải chịu thuế tiêu thụ 40%, cao gấp đôi so với mức trước đây Xe với động cơ từ 3 đến 4,1 lít sẽ bị đánh
5 Hạn chế nhập khẩu ôtô: Cách làm của Trung Quốc- VNEconomy
Trang 10thuế tiêu thụ 25%, so với mức 15% trước đây Mức thuế dành cho những xe có dung tích động cơ dưới 1 lít sẽ giảm từ mức 3% xuống còn 1%
Từ vụ việc trên có thể thấy Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng Điều III của Hiệp định GATT năm 1994 và điều đó đã ảnh hưởng đến quyền lợi của các nước khác về mặt hàng ôtô khi nhập khẩu vào Trung Quốc
IV Thực tiễn triển khai nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) theo quy định của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) trong khuôn khổ WTO được áp dụng tại Việt Nam
Hiện nay tại Việt Nam, đối xử quốc gia là chế độ áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực dân sự Thông thường, người nước ngoài được hưởng các quyền dân sự, lao động, thương mại và văn hóa cơ bản như công dân nước sở tại Chế độ đãi ngộ quốc gia thể hiện mối quan hệ giữa người nước ngoài với công dân nước sở tại, là cơ sở để xác định năng lực pháp luật dân sự của người nước ngoài tại Việt Nam
Việt Nam đã ký kết khá nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương Trong đó có một số điều ước có áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia Đồng thời, Việt Nam cũng ban hành một số văn bản có liên quan tới nguyên tắc này Một trong những văn bản đó có thể nhắc tới như: Điều 81 Hiến Pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam được nhà nước Việt Nam bảo hộ tính mạng, tài sản quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam”; Điều 830 Bộ luật dân sự Việt Nam quy định “Người nước ngoài có năng lực pháp luật như công dân Việt Nam” Ngoài ra, tại Khoản 5 Điều 3 Pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH10 của UBTVQH ngày 25/5/2002 về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế quy định: “Đối
xử quốc gia trong thương mại hàng hoá là đối xử không kém thuận lợi hơn đối
xử mà Việt Nam dành cho hàng hoá nhập khẩu so với hàng hoá tương tự trong nước.”