BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA Khoa học cơ bản *** BÀI TẬP LỚN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN Đề số 2 Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về phạm trù “vật chất”, “ý thức” và ý nghĩa[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA Khoa học cơ bản ***
-BÀI TẬP LỚN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Đề số 2: Trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về phạm trù “vật chất”, “ý thức” và ý
nghĩa phương pháp luận?
Giảng viên hướng dẫn: Đồng Thị Tuyền
Nhóm 5
Năm học 2021 - 2022
Trang 2STT HỌ VÀ TÊN MÃ SINH
GIÁ
41 Vũ Quang Hiệp 21010637 Phần kết luận Tốt
42 Nguyễn Văn Hiếu 21012058 Quan niệm
của chủ nghĩa Mác-Lênin về
“vật chất”
Tốt
43 Nguyễn Hữu Hoan 21012873 Vận động,
phương thức tồn tại của vật chất+pp
Tốt
44 Nguyễn Việt Hoàng 21010657 Thuyết trình
+tổng hợp word
Tốt
45 Trịnh Huy Hoàng 21010622 PP Tốt
46 Phạm Văn Hoàn 21011062 Quan niệm
của chủ nghĩa Mác-lênin về
“ý thức
Tốt
47 Bùi Trần Việt Hoàng 21013113 Bản chất của
48 Nguyễn Việt Hoàng 21012496 Kết cấu của ý
49 Lê Việt Hoà 21012059 Ý nghĩa
phương pháp
về phạm trù vật chất- ý thức
Tốt
50 Bùi Gia Huy 21010595 Phần mở đầu Tốt
Trang 3MỤC LỤC
_
PHẦN MỞ ĐẦU……… 1
PHẦN NỘI DUNG……… 2
1 Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin về phạm trù vật chất 2
1.1 Định nghĩa về vật chất……… 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Sự vận động của vật chất 2
1.2 Vận động – thuộc tính , phương thức tồn tại của vật chất 3
1.2.1.Vận động 3
1.2.2 Vận động và đứng im 3
2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về phạm trù “ý thức” 4
2.1 Nguồn gốc của ý thức 4
2.2 Bản chất của ý thức 5
2.3 Kết cấu của ý thức 7
2.3.1 Theo các yếu tố tổ hợp thành 7
2.3.2 Theo chiều sâu của nội tâm 8
3 Ý nghĩa phương pháp luận về phạm trù vật chất - ý thức 9
PHẦN KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 4_
Trang 5MỞ ĐẦU
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay ý thức hay vật chất là yếu tố thông qua hoạt động thực tiễn của con người quyết định đường lối chủ trương phát triển kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng
Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứ hình thái kinh tế nào Những vấn đề triết học về mối quan hệ biện chứng giữa ý thức và vật chất luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội
Từ lý luận chủ nghĩa Mác Lênin Đảng ta đã rút ra bài học Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan Nước ta đang bước vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá Nguyên nhân sự phát triển kinh tế vững mạnh xuất phát từ mối quan hệ nào? Mối quan hệ giữa biện chứng vật chất giữ ý thức và vật chất ảnh hưởng tới nền kinh tế như thế nào?
Và sự thành công hay thất bại, phát triển hay lạc hậu của bất kì nền kinh tế nào đều do có lập trường triết học đúng đắn Là một sinh viên kinh tế để góp phần nhỏ vào toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước thoát ra khỏi tình cảnh kém phát triển, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Với nhận thức đó và muốn tìm hiểu thêm về thực trạng nên kinh tế việt Nam hiện nay vì vậy em quyết định chọn đề tài: Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất
và ý thức Và sự vận dụng lý luận ấy trong xây dựng kinh tế Việt Nam hiện nay làm bài tiểu luận của mình
Trang 6NỘI DUNG
1.Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về phạm trù “vật chất”
1.1.Định nghĩa về vật chất
1.1.1 Khái niệm
Vật chất là gì? Theo Lê nin định nghĩa về vật chất có nội dung như sau:
“Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Vật chất được phản ánh với hình thức tồn tại cụ thể của nó Dùng để chỉ thực tại khách quan phản ánh qua cảm giác Khi đó, vật chất mang đến hình thức chứa đựng cụ thể và có dạng tồn tại hữu hình Từ khái niệm này, có thể thấy được với tính chất tồn tại được chứng minh Từ đó, đánh giá được đưa ra dễ dàng với các dạng tồn tại đó có được xác định là vật chất hay không
Vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm giác ở con người Con người thông qua cảm giác để đánh giá về sự tồn tại của vật chất Cũng như khẳng định được, phân biệt được giữa vật chất và ý thức Hai khái niệm này tách rời nhau, và mang đến các dạng tồn tại khác hoàn toàn Khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người Vật chất là cái được ý thức phản ánh bằng cảm giác thỏa mãn với khái niệm trên
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học theo nghiên cứu Là kết quả của
sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng Khi đó, hướng đến các giải thích cho sự tồn tại bên cạnh ý nghĩa trong xác định Nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi Vật chất có dạng tồn tại cố định hoặc không, nhưng được đảm bảo cho cảm giác phản ánh
1.1.2 Sự vận động của vật chất
Còn tất cả những sự vật, những hiện tượng là những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó có quá trình phát sinh, phát triển, chuyển hóa Từ đó mà theo thời gian, một vật chất có thể không giữ nguyên dạng tồn tại hay hình thức ban đầu Tuy nhiên, vẫn đảm bảo được thể hiện với cảm giác Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất với một hay một số dạng biểu hiện cụ thể của vật chất Cũng như không thể xác định vật chất với đặc điểm thể hiện của nó ở thời điểm nhất định để mang đến các quy chụp
Trang 71.2 Vận động – thuộc tính , phương thức tồn tại của vật chất
1.2.1 Vận động
Ph Ăngghen viết: “Vận động hiểu nghĩa chung nhất, tức được hiểu là phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cổ hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi đơn giản nhất cho tới tư duy”.(2)
Vận động là phạm trù của triết học dùng chỉ phương thức tồn tại của vật chất, nêu ra sự thay đổi của mọi sự vật, mọi quá trình diễn ra trong không gian Đối với triết học, vật động là mọi sự biến đổi thông qua sự vật động mới bộc lộ bản chất của mình Đây cũng là điều mà các nhà duy vật trước Mác chưa nhìn thấy được
Dựa trên những thành tựu của khoa học thì vận động được chia thành 5 hình thức: vận động cơ học, vật lý, sinh học, hoá học và xã hội Các hình thức vận động cao sẽ bao hàm các hình thức vận động thấp Ví dụ trong vận động vật lý bao hàm vận động cơ học
1.2.2 Vận động và đứng im
Theo quan điểm của Mác thì đứng im là một trạng thái đặc biệt của vận động hay nói cách khác là trạng thái cân bằng Đứng im chỉ xảy ra trong một lúc hoạt động nào đó chứ không phải mọi hình thức vận động trong cùng một lúc mà biểu hiện như một quá trình vận động của sự vật ổn định chưa thay đổi Vì thế vận động
và đứng im có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong đó vận động là tuyệt đối xảy
Trang 8ra vĩnh viễn còn đứng im là trạng thái tạm thời Vận động không do ai tạo ra mà nó chỉ chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác
2.Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về phạm trù “ý thức”
2.1.Nguồn gốc của ý thức
Nguồn gốc của ý thức dựa vào quan điểm từ chủ nghĩa duy vật biện chứng gồm:
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức.Nguồn gốc tự nhiên của ý thức được tạo bởi các yếu tố tự nhiên từ ý thức chính là bộ óc và sự hoạt động cùng các mối quan hệ thế giới khách quan và con người Trong đó thì thế giới khách quan có sự tác động tới bộ óc của con người tạo ra khả năng về sự hình thành ý thức từ con người đối với thế giới khách quan Tóm lại, ý thức là sự phản ánh về thế giới khách quan từ con người
Phản ánh là sự tái tạo về đặc điểm dạng vật chất này bởi dạng vật chất khác khi tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng Phản ánh là 1 thuộc tính từ tất cả các dạng vật chất nhưng phản ánh dưới nhiều hình thức như phản ánh sinh học, phản ánh tâm lý, phản ánh vật lý hóa học, phản ánh năng động sáng tạo Trong đó, hình thức này sẽ tương ứng quá trình tiến hóa vật chất tự nhiên
Phản ánh về hóa học vật lý là một hình thức thấp nhất và đặc trưng cho vật chất vô sinh Phản ánh đó được thể hiện qua biến đổi về lý, hóa, cơ khi có sự tác động lẫn nhau bởi các dạng vật chất vô sinh Hình thức được phản ánh chưa định hướng lựa chọn mà chỉ mang tính thụ động của vật nhận tác động
Phản ánh tâm lý: là sự phản ánh cho động vật đặc trưng đã được phát triển đến trình độ mà có hệ thần kinh trung ương, phản ánh này thể hiện dưới cơ chế phản xạ có điều kiện lên những tác động môi trường sống
Phản ánh ý thức là hình thức để phản ánh năng động và sáng tạo bởi con người.Phản ánh sinh học: là hình thức được phản ánh cao hơn và đặc trưng giới tự nhiên hữu sinh Qúa trình phát triển giới tự nhiên hữu sinh, được thể hiện qua tính kích thích, phản xạ và tính cảm ứng
Nguồn gốc xã hội của ý thức Lao động và ngôn ngữ chính là nhân tố cơ bản nhất, trực tiếp tạo thành nguồn gốc xã hội của ý thức
Lao động là một quá trình con người sử dụng về công cụ tác động với giới tự nhiên để thay đổi giới tự nhiên phù hợp nhu cầu con người Trong quá trình lao động thì con người có sự tác động tới thế giới khách quan để bộc lộ những kết cấu, thuộc tính, quy luật vận động, theo đó biểu hiện ra những hiện tượng nhất định để con người quan sát được
Trang 9Những hiện tượng mà con người quan sát được đó, được thể hiện thông qua hoạt động của các giác quan, có sự tác động vào bộ óc con người Và thông qua bằng bộ não con người sẽ tạo ra khả năng để hình thành những tri thức và ý thức Tóm lại, ý thức được ra đời chủ yếu bởi hoạt động cải tạo thế giới khách quan quan quá trình lao động
Ngôn ngữ chính là cái vỏ của vật chất từ ý thức, hình thức vật chất nhân tạo
có vai trò trong thể hiện, lưu trữ nội dung ý thức
Sự ra đời ngôn ngữ được gắn liền với lao động, theo đó lao động đã mang tính tập thể ngay từ đầu Mối quan hệ các thành viên đòi hỏi có sự giao tiếp, ý chí, trao đổi tri thức,… giữa các thành viên của cộng đồng con người
Khi đòi hỏi các nhu cầu trên thì ngôn ngữ được khởi nguồn và phát triển tồn tại trong lao động sản xuất, sinh hoạt xã hội Nhờ ngôn ngữ từ đó con người được giao tiếp và trao đổi, đồng thời truyền đạt nội dung, lưu trữ nội dung ý thức của thế
hệ này sang thế hệ khác
2.2 Bản chất của ý thức
Chủ nghĩa duy tâm, do không hiểu được nguồn gốc ra đời của ý thức nên đã
có những quan niệm sai lầm về bản chất của ý thức Chủ nghĩa duy tâm đã cường điệu vai trò của ý thức một cách thái quá, trừu tượng tới mức thoát ly đời sống hiện thực, biến nó thành một thực thể tồn tại độc lập, thực tại duy nhất và nguồn gốc sinh ra thế giới vật chất
Ngược lại, chủ nghĩa duy vật siêu hình đã tầm thường hoá vai trò của ý thức
Họ coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất; hoặc coi ý thức chỉ là sự phản ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất, tách rời thực tiễn xã hội rất phong phú, sinh động Những quan niệm sai lầm đó đã không cho phép con người hiểu được bản chất của ý thức, cũng như biện chứng của quá trình phản ánh ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng, trên cơ sở nhận thức đúng đắn nguồn gốc ra đời của ý thức và nắm vững thuyết phản ánh đã luận giải một cách khoa học bản chất của ý thức Vật chất và ý thức là hai hiện tượng chung nhất của thế giới hiện thực, mặc dù khác nhau về bản chất, nhưng giữa chúng luôn có mối liên hệ biện chứng Do vậy, muốn hiểu đúng bản chất của ý thức cần xem xét nó trong mối quan hệ qua lại với vật chất, mà chủ yếu là đời sống hiện thực có tính thực tiễn của con người
Như vậy ta có thể thấy, Bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người
Trang 10Sau khi xem xét ý thức về mặt bản thể luận, thì ý thức chỉ là "hình ảnh" về
hiện thực khách quan trong óc người Đây là đặc tính đầu tiên để nhận biết ý thức
Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan, ý thức không phải là sự vật, mà
chỉ là "hình ảnh" của sự vật ở trong óc người Ý thức tồn tại phi cảm tính, đối lập
với các đối tượng vật chất mà nó phản ánh luôn tồn tại cảm tính Thế giới khách quan là nguyên bản, là tính thứ nhất Còn ý thức chỉ là bản sao, là "hình ảnh" về
thế giới đó, là tính thứ hai.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Về nội dung mà ý thức phản ánh là khách quan, còn hình thức phản ánh là chủ quan Ý thức là cái vật chất
ở bên ngoài "di chuyển" vào trong đầu óc của con người và được cải biến đi ở trong đó
Ý thức có đặc tính tích cực, sáng tạo gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội.Ý
thức phản ánh ngày càng sâu sắc, từng bước xâm nhập các tầng bản chất, quy luật, điều kiện đem lại hiệu quả hoạt động thực tiễn
Sự phản ánh ý thức là quá trình thống nhất của ba mặt: Một là, trao đổi thông
tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh Đây là quá trình mang tính hai chiều, có
định hướng và chọn lọc các thông tin cần thiết Hai là, mô hình hoá đối tượng
trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần Thực chất đây là quá trình "sáng tạo lại" hiện thực của ý thức theo nghĩa: mã hoá các đối tượng vật chất thành các ý tưởng
tinh thần phi vật chất Ba là, chuyển hoá mô hình từ tư duy ra hiện thực khách
quan, tức quá trình hiện thực hoá tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái thực tại, biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực
Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có của óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội - lịch sử Ý thức không phải là cái không thể nhận thức được như chủ nghĩa duy tâm quan niệm, nhưng nó cũng không phải cái tầm thường như người duy vật tầm thường gán cho nó Thực chất, ý thức chỉ là thuộc tính phản ánh của một dạng vật chất đặc biệt là bộ óc người; nói cách khác, chỉ có con người mới có ý thức Loài người xuất hiện là kết quả của lịch sử vận động, phát triển lâu dài của thế giới vật chất
Cấu trúc hoàn thiện của bộ óc người là nền tảng vật chất để ý thức hoạt động; cùng với hoạt động thực tiễn và đời sống xã hội phong phú tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy ý thức hình thành và không ngừng phát triển Không có bộ óc của con người, không có hoạt động thực tiễn xã hội thì không thể có ý thức Sáng tạo là thuộc tính đặc trưng bản chất nhất của ý thức Sức sáng tạo của ý thức trong tinh thần và sức sáng tạo của con người trong thực tiễn khác nhau về bản chất nhưng
Trang 11chỉ là những biểu hiện khác nhau của năng lực sáng tạo, khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới
2.3.Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu cực kỳ phức tạp Có nhiều ngành khoa học, nhiều cách tiếp cận, nghiên cứu về kết cấu của ý thức
2.3.1 Theo các yếu tố tổ hợp thành
Theo cách tiếp cận này, ý thức bao gồm ba yếu tố cơ bản nhất là: tri thức, tình
cảm và ý chí, trong đó tri thức là nhân tố quan trọng nhất Ngoài ra ý thức còn có
thể bao gồm các yếu tố khác như niềm tin, lí trí,…
Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình nhận
thức, là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng các loại ngôn ngữ
Mọi hoạt động của con người đều có tri thức, được tri thức định hướng Mọi biểu hiện của ý thức đều chứa đựng nội dung tri thức Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức và là điều kiện để ý thức phát triển Theo Mác: “phương thức mà theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái gì đó tồn tại đối với ý thức là tri thức”
Căn cứ vào lĩnh vực nhận thức, tri thức có thể chia thành nhiều loại như tri thức về tự nhiên, tri thức về xã hội, tri thức nhân văn Căn cứ vào trình độ phát triển của nhận thức, tri thức có thể chia thành tri thức đời thường và tri thức khoa học, tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận, tri thức cảm tính và tri thức lý tính,…
Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ con người trong các quan hệ Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh hiện thực, được hình thành từ
sự khái quát những cảm xúc cụ thể của con người khi nhận sự tác động của ngoại cảnh Tình cảm biểu hiện và phát triển trong mọi lĩnh vực đời sống của con người;
là một yếu tố phát huy sức mạnh, một động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức và thực tiễn Lênin cho rằng: không có tình cảm thì “xưa nay không có và không thể
có sự tìm tòi chân lý”; không có tình cảm thì không có một yếu tố thôi thúc những người vô sản và nửa vô sản, những công nhân và nông dân nghèo đi theo cách mạng
Tùy vào từng đối tượng nhận thức và sự rung động của con người về đối tượng đó trong các quan hệ mà hình thành nên các loại tình cảm khác nhau, như tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm tôn giáo,…
Ý chí là khả năng huy động sức mạnh bản thân để vượt qua những cản trở
trong quá trình thực hiện mục đích của con người Ý chí được coi là mặt năng động của ý thức, một biểu hiện của ý thức trong thực tiễn mà ở đó con người tự giác được mục đích của hoạt động nên tự đấu tranh với mình để thực hiện đến cùng