Mục tiêu tổng quát phát triển đất nước, mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng đã được đề cập qua Đại hội này: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI:
ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN ĐỐI NGOẠI, HỘI NHẬP QUỐC
TẾ VÀ BIỆN PHÁP BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ
QUỐC HIỆN NAY LỚP: L03 NHÓM: 11 HK 222 GVHD: Nguyễn Hữu Kỷ Tỵ SINH VIÊN THỰC HIỆN
TP Hồ Chí Minh – 2023
Bảo mật
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC i
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN ĐỐI NGOẠI, HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ BIỆN PHÁP BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC HIỆN NAY 2
1.1 Mu ̣c tiêu, nhiệm vu ̣, tư tưởng chỉ đa ̣o và một số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoa ̣i, hội nhập quốc tế của Đảng 2
1.1.1 Mục tiêu 2
1.1.2 Nhiệm vụ 4
1.1.3 Tư tưởng chỉ đạo 5
1.1.5 Chính sách 7
1.2 Biện pháp trong ba ̉ o vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam của Đảng và Nhà nước 7
CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG TRONG BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC HIỆN NAY 11
2.1 Đánh giá thực tế bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước hiện nay 11
2.1.1 Vị trí, vai trò chiến lược, nguồn lợi của khu vực Biển Đông 11
2.1.2 Tình hình chủ quyền biển đảo giai đoạn gần đây, các tranh chấp trong khu vực và hành động của các bên 12
2.1.3 Các sự kiện tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc 14
2.1.4 Khó khăn trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo 15
2.2 Quan điểm của các bên trong vấn đề tranh chấp biển, đảo 17
2.2.1 Quan điểm của Trung Quốc và Đài Loan 17
2.2.2 Quan điểm của Việt Nam 19
2.2.3 Quan điểm của Philippines, Brunei và Malaysia 21
2.3 Nhiệm vu ̣ của sinh viên trong góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc 21
PHẦN KẾT LUẬN 25
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Bảo mật
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở mỗi giai đoạn cách mạng của đất nước sẽ có những mục tiêu, yêu cầu cũng như nhiệm
vụ cụ thể riêng Chính vì vậy, đường lối đối ngoại của Đảng cũng sẽ có những thay đổi phù hợp
và chính xác để góp phần phục vụ đường lối đối ngoại
Bảo mật
Trang 4PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN ĐỐI NGOẠI, HỘI NHẬP
QUỐC TẾ VÀ BIỆN PHÁP BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ
QUỐC HIỆN NAY 1.1 Mu ̣c tiêu, nhiệm vu ̣, tư tưởng chỉ đa ̣o và một số chủ trương, chính sách lớn về
mơ ̉ rộng quan hệ đối ngoa ̣i, hội nhập quốc tế của Đảng
1.1.1 Mục tiêu
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày 25/1 đến ngày 1/2/2021 Đại hội XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức đan xen, nhiều vấn đề chiến lược mới đặt ra cần phải giải quyết, từ tình hình quốc tế, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường đến các thách thức mang tính toàn cầu về biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và cả những thành tựu ngoạn mục của tiến bộ khoa học công nghệ đang tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống kinh tế - xã hội của đất nước ta cũng như toàn thế giới Cán bộ, đảng viên, nhân dân đang mong muốn và đặt nhiều kỳ vọng vào những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ của Đảng để khơi thông mọi nguồn lực, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa gắn với phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiếp tục đà phát triển đất nước nhanh và bền vững, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.1
Những thành tựu đạt được, bài học kinh nghiệm, tồn tại và hạn chế, bối cảnh thời đại và đất nước, câu hỏi đặt ra, câu hỏi cần trả lời, thời cơ và thuận lợi, thách thức, kiến thức và khó khăn đều được đưa ra tại Đại hội Đại hội cũng đã xác định mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, định hướng phát triển đất nước 2021
- 2030, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhiệm kỳ Đại hội XIII, những đột phá chiến lược Văn kiện đại hội Đảng đề cập “hai mục tiêu 100 năm” với yêu cầu là “khơi dậy mạnh
mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”
1 Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII tập 1, nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, trang 8
Bảo mật
Trang 5Mục tiêu tổng quát phát triển đất nước, mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc
tế của Đảng đã được đề cập qua Đại hội này: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa,”2 cụ thể:
Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, phấn đấu để Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp
Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao
Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao
Trong khi Đại hội XII chỉ đề ra mục tiêu tổng để phát triển đất nước trong 5 năm
2016 – 2020 để phấn đấu sớm đưa nước ta thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì tại Đại hội XIII, cùng với việc xác định mục tiêu tổng quát phát triển đất nước đến giữa thế kỷ 21, Đại hội còn đề ra mục tiêu cụ thể cho 5 năm đến 2025; mục tiêu 10 năm đến 2030 mục tiêu và tầm nhìn 2045
Đây cũng là ba mốc lịch sử quan trọng của đất nước ta: Năm 2025 là năm kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước ; năm 2030 là
kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng; năm 2045 là kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Về mục tiêu đối ngoại, Đại hội XIII khẳng định "bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc", tức là đặt lợi ích quốc gia- dân tộc lên trước hết và trên hết Cùng với đó,
2 Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII tập 1, nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, trang 112
Bảo mật
Trang 6Đại hội cũng đã chỉ ra nguyên tắc chung là phải luôn nỗ lực đạt được lợi ích quốc gia- dân tộc tới mức cao nhất có thể
Ngoài ra, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia- dân tộc không có nghĩa nước ta theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ Đại hội XIII đã nhấn mạnh việc thúc đẩy lợi ích quốc gia- dân tộc phải dựa trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi
Bên cạnh đó, Đại hội cũng đã bổ sung việc đảm bảo an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, trật tự kỷ cương xã hội cũng là lợi ích quốc gia quan trọng Đại hội đã nêu rõ các yếu tố nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ, thống nhất với nhau, không được xem nhẹ bất kỳ yếu tố nào Tất cả các yếu tố trên sẽ là cơ sở quan trọng nhất để xác định đối tác, đối tượng và hợp tác, đấu tranh trong đối ngoại
1.1.2 Nhiệm vụ
Đại hội XIII của Đảng có nhiệm vụ tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII gắn với việc đánh giá 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 – 2020; đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2021 – 2025; xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045.3 Các nhiệm vụ về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng là:
Một là tập trung kiểm soát đại dịch 19, tiêm chủng đại trà vắcxin
Covid-19 cho cộng đồng; phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh; có chính sách hỗ trợ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nhất là trong nông nghiệp; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư,
3 TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH YÊN BÁI, 19/03/2021, Một số điểm chính trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, truy cập từ https://hoilhpn.yenbai.gov.vn/noidung/tintuc/Pages/chi-tiet-tin-
tuc.aspx?ItemID=21&l=tailieusinhhoat#:~:text=%C4%90%E1%BA%A1i%20h%E1%BB%99i%20XI II%20c%E1%BB%A7a%20%C4%90%E1%BA%A3ng,2020%3B%20%C4%91%E1%BB%81%20ra
%20ph%C6%B0%C6%A1ng%20h%C6%B0%E1%BB%9Bng%2C
Bảo mật
Trang 7thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về sở hữu trí tuệ và giải quyết các tranh chấp dân sự; khắc phục những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của đất nước.4
Hai là giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.5
1.1.3 Tư tưởng chỉ đạo
Trong những năm tới, dự báo tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe doạ bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt Do tác động của đại dịch Covid-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia.6
Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới trong giai đoạn tới, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần quán triệt trong cả nhận thức và hành động thực tiễn các tư tưởng chỉ đạo sau đây:
Một là chiến lược phát triển tổng thể của đất nước ta là đẩy mạnh toàn diện, đồng
bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo đảm gắn kết chặt chẽ
và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm;
Trang 8xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên.7
Hai là động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh
mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc Phát huy sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị và nền văn hoá, con người Việt Nam; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất.8
1.1.4 Chủ trương
Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng đưa ra định hướng lớn bao quát những vấn đề phát triển quan trọng của đất nước trong giai đoạn 10 năm tới, trong đó “tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài; chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc
tế Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn”.9
Một số chủ trương trong việc mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng được đề cập trong Đại hội XIII:
Một là bảo đảm chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, môi trường hoà bình, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước
Bảo mật
Trang 9Hai là giải quyết tốt các mối quan hệ giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô trong phát triển kinh tế - xã hội; giữa kinh
tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế Phải kịp thời đổi mới tư duy và hành động, thực hiện tốt công tác dự báo, bảo đảm đánh giá đúng, đầy đủ, kịp thời, chủ động thích ứng với những biến động khó lường của thế giới; phát huy tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, trong đó nội lực là quyết định
Ba là xác định giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng quan trọng và là động lực chủ yếu trong phát triển đất nước để bắt kịp sự phát triển của khu vực và thế giới, tránh nguy cơ tụt hậu
Nền ngoại giao Việt Nam với ba trụ cột chính là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân Ba trụ cột này luôn đặt dưới lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng cùng với sự quản lý tập trung của Nhà nước Ba trụ cột này có vị trí, vai trò, chức năng, lợi thế khác nhau Tuy nhiên, cả ba trụ cột ngoại giao này lại có quan hệ chặt chẽ với nhau Tất cả sẽ bổ trợ lẫn nhau để thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng
1.1.5 Chính sách
Để thực hiện các mục tiêu về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng, trên cơ sở bám sát thực tiễn, xu hướng phát triển của đất nước và thế giới, Đại hội đã đề ra một số chính sách sau:
Trước hết, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, đồng thời xây dựng và hoàn thiện cơ quan phát triển bền vững quốc gia; hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế và cơ chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, điều chỉnh cơ cấu kinh tế đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa có trọng tâm về đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia
Thực hiện các đột phá về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ Cùng với đó là phát triển, đào tạo và trong dụng nguồn nhân lực chất lượng cao Cuối cùng là ứng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
1.2 Biện pháp trong ba ̉ o vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam của Đảng và Nhà nước
Một là, xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia trong khu vực mạnh về kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018
về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
Bảo mật
Trang 102045 xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”2 Để kinh tế phát triển tương xứng với tiềm năng của biển, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo cần phải tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ; thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản và môi trường biển, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính hủy diệt
Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, công nghiệp hàng hải, đóng tàu, nuôi trồng, khai thác và chế biến hải sản chất lượng cao Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, xây dựng các trung tâm kinh tế ven biển mạnh, tạo thế tiến ra biển, gắn với phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, xuất khẩu, du lịch, dịch vụ nghề cá, dầu khí, vận tải biển, v.v Phát triển kinh tế các đảo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, thăm dò, khai thác, nuôi trồng thủy sản gắn với bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Xây dựng các chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên biển, đảo; tăng cường đầu tư các nguồn lực và hoạch định cơ chế chính sách trong phòng, chống thiên tai, thảm họa, bảo vệ môi trường biển
Hai là, xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh về mọi mặt Việc tập trung
nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển, nhất là lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Dân quân tự vệ biển và lực lượng Kiểm ngư vững mạnh,
đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao là yêu cầu bức thiết hiện nay Trong đó, Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng chuyên trách hoạt động trên biển, giữ vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các vùng biển, đảo của Tổ quốc, cần được ưu tiên đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại hóa và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đặc biệt là lực lượng thường xuyên tuần tra trên biển và chốt giữ các đảo xa bờ Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách quản lý, duy trì thực thi pháp luật trên biển, cần được tiếp tục củng cố, hoàn thiện về tổ chức, biên chế, tăng cường trang bị hiện đại, bảo đảm đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và lâu dài Bộ đội Biên phòng cần được đầu tư đủ trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện cơ động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, cứu hộ, cứu nạn, chống buôn lậu và các tệ nạn
xã hội trên các vùng biển Dân quân tự vệ biển được xây dựng theo phương châm vững mạnh, rộng khắp, ở đâu có tàu, thuyền, ngư dân hoạt động và dân cư sinh sống trên đảo thì ở đó có dân quân tự vệ biển; lấy doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã làm nòng cốt; tổ chức biên chế phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, bảo đảm thành ba tuyến: ven bờ, lộng, khơi; coi trọng
Bảo mật
Trang 11lực lượng hoạt động trên biển Kiểm ngư là lực lượng được tổ chức chặt chẽ, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm của tàu thuyền nước ngoài; hỗ trợ ngư dân, đảm bảo an ninh trật tự và có vai trò quan trọng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Tổ quốc
Ba là, kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp trên biển, đảo bằng biện pháp hòa bình trên
cơ sở luật pháp quốc tế Là thành viên của Liên hợp quốc, của UNCLOS cũng như tuyên bố của các bên về cách ứng xử trên biển Đông (DOC), Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; thông qua đàm phán, thương lượng, nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì hòa bình, ổn định khu vực và quốc tế Theo tinh thần đó, những vấn đề còn đang bất đồng, tranh chấp song phương thì giải quyết song phương; những vấn đề tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì giải quyết đa phương và phải hết sức công khai, minh bạch giữa các bên có liên quan Trong khi nỗ lực xử lý các vấn đề nảy sinh ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ những lợi ích chính đáng của ta trên biển với quyết tâm “Việt Nam quyết không để một tấc đất, tấc biển nào bị xâm phạm”; kiên trì tìm kiếm một giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không
có hoạt động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tuân thủ cam kết giải quyết bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, UNCLOS và 05 nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường nỗ lực xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an ninh biển, nghiên cứu khoa học, chống tội phạm; cùng nhau thực hiện nghiêm chỉnh DOC, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử COC để Biển Đông thực sự
là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển Tại các vùng biển không phải
là tranh chấp, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, Việt Nam
có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết, phù hợp với quy định của UNCLOS để bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng
Bốn là, thực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng Đối ngoại quốc phòng là vấn đề quan trọng diễn ra chủ yếu trong thời bình và cả khi có tình huống chiến tranh, thực hiện tốt vấn đề này góp phần vừa giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hòa bình, ổn định trên Biển Đông, vừa duy trì sự ổn định chính trị - xã hội trong nước và môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế Thực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng trong bối cảnh hội nhập quốc
tế, điều quan trọng trước hết là hợp tác chặt chẽ trên tất cả lĩnh vực, đặc biệt là giữa quốc phòng,
an ninh và đối ngoại Các ngành chức năng, trọng tâm là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao cần xây dựng, hoàn thiện quy chế phối hợp, trọng tâm là công tác nghiên cứu cơ bản, phân tích dự báo chiến lược về tình hình thế giới, khu vực, chiều hướng diễn biến của mối
Bảo mật
Trang 12quan hệ quốc tế, về đối tác, đối tượng của cách mạng Từ đó, tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối chiến lược và các đối sách xử lý thắng lợi các tình huống quốc phòng, an ninh và đối ngoại Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước, nhất là các nước trong khu vực và các nước lớn trên thế giới để tăng sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau Hải quân, Cảnh sát biển cần tăng cường giao lưu với các đối tác, tổ chức các hoạt động phối hợp tuần tra chung, diễn tập, cứu hộ, cứu nạn trên biển, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và triệt tiêu nguy cơ xung đột trên biển
Năm là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc Thực hiện tốt nội dung này, các đơn vị Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng đóng quân ở địa phương ven biển và các đảo cần kết hợp chặt chẽ với địa phương và cơ quan Tuyên giáo xây dựng kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng báo cáo viên, biên soạn, phát hành tài liệu tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là cư dân sinh sống ở ven biển, trên đảo, ngư dân làm
ăn trên biển, kiều bào ta ở nước ngoài Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo cần có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và các phương tiện thông tin đại chúng, dưới sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của các
cơ quan chức năng Trung ương Đặc biệt, cần thông tin kịp thời, minh bạch, chính xác để mọi người dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân thế giới hiểu cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử và sự chiếm hữu thực tế của Việt Nam trên các vùng biển, đảo ở Biển Đông; hiểu rõ quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết vấn đề chủ quyền trên Biển Đông; từ đó, xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm, đồng thuận của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển
Bảo mật
Trang 13CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG TRONG BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA
TỔ QUỐC HIỆN NAY 2.1 Đánh giá thực tế bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước hiện nay
2.1.1 Vị trí, vai trò chiến lược, nguồn lợi của khu vực Biển Đông
Biển Đông có vị trí, vai trò chiến lược trọng yếu không chỉ đối với các quốc gia và vùng lãnh thổ bao quanh, mà còn đối với khu vực Đông Á và thế giới Trước hết vì Biển Đông nằm trên tuyến hàng hải huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu
Âu – Châu Á, Trung Đông – Châu Á Là một phần của tuyến đường biển nối trực tiếp
Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Biển Đông đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thương mại hàng hải toàn cầu Nếu không đi qua Biển Đông sẽ phải đi vòng qua châu
Úc gây mất thời gian cũng như làm tăng chi phí vận chuyển đường biển
Tuyến đường vận tải quốc tế qua Biển Đông được coi là nhộn nhịp thứ 2 trên thế giới
và điểm gần nhất của tuyến vận tải biển này chỉ cách Côn Đảo (Việt Nam) chừng 38
km Mỗi ngày có khoảng 300 tàu vận tải các loại qua lại Biển Đông, bao gồm 200 tàu chở dầu, 50% số tàu này có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% từ 30.000 tấn trở lên Các tuyến đường biển nói trên là “yết hầu” cho giao lưu hàng hóa của nhiều nước Châu Á Điểm trọng yếu thứ hai của Biển Đông là các đảo, quần đảo ngoài khơi, như Hoàng Sa
và Trường Sa đều nằm ở vị trí trung tâm Các quần đảo này đóng vai trò cực kỳ quan trọng với tư cách là các vị trí phòng thủ chiến lược trọng yếu đối với nhiều quốc gia trong khu vực Biển Đông Đồng thời là các cơ sở hậu cần phục vụ các hoạt động biển
Bảo mật
Trang 14xa hay là kiểm soát các tuyến hàng hải đi qua lại trên Biển Đông Đặc biệt là các căn cứ quân sự trên biển, các công trình như cảng hay sân bay khi được đặt ở 2 quần đảo này
sẽ giúp quốc gia ấy có ưu thế kiểm soát toàn bộ hành động hàng hải đi qua trung tâm khu vực biển Đông
Thứ ba, Biển Đông có lượng tài nguyên sinh vật, khoáng sản đem lại nguồn lợi lớn cho các quốc gia giáp biển Biển Đông có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng, riêng Việt Nam có đến hơn 160.000 loài, gần 10.000 loài thực vật và 260 loài chim sống
ở biển Trữ lượng các loài động vật ở biển ước tính khoảng 32,5 tỷ tấn, trong đó, các loài cá chiếm 86% tổng trữ lượng với nhiều loài có gía trị kinh tế cao Với vị trí gần vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương nên Biển Đông có nguồn lợi khoáng sản khổng
lồ, đặc biệt là dầu khí với trữ lượng ước tính thuộc hàng đầu thế giới Các quốc gia thay phiên thăm dò tài nguyên khoáng sản cũng phản ánh sự giàu có của khu vực
Bên cạnh đó, Việt Nam còn có thể khai thác tài nguyên du lịch biển với nhiều bãi, vịnh biển đẹp cũng như tham quan đảo, quần đảo
2.1.2 Tình hình chủ quyền biển đảo giai đoạn gần đây, các tranh chấp trong khu vực
và hành động của các bên
Bởi nguồn lợi khổng lồ về cả kinh tế lẫn chính trị, khu vực Biển Đông luôn trong tình trạng tranh chấp giữa các nước trong khu vực, các nước tuyên bố chủ quyền đối với các khu vực thuộc Biển Đông và các thực thể trong khu vực Những vùng có nguy cơ tranh chấp gồm:
Indonesia và Trung Quốc về vùng biển Đông Bắc quần đảo Natuna
Philippines và Trung Quốc về những khu khai thác khí gas Malampaya và Camago
Philippines và Trung Quốc về bãi cạn Scarborough
Việt Nam và Trung Quốc về vùng biển phía tây quần đảo Trường Sa Một số hay toàn
bộ quần đảo Trường Sa đang bị tranh chấp giữa Việt Nam, Trung Quốc, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Philippines và một số nước khác
Malaysia, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam về những vùng ở vịnh Thái Lan
Singapore và Malaysia dọc theo Eo biển Johore và Eo biển Singapore
Bảo mật