TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT QUỐC TẾ Môn học Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ GV hướng dẫn Lê Thanh[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
Môn học: Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ:
BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ
GV hướng dẫn: Lê Thanh Hà
Lớp: 128 – QT46B Nhóm 1
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
Trang 2VẤN ĐỀ 2: ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM 17
Câu 2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về đăng ký giao dịch bảo đảm 17 Câu 2.2 Hợp đồng thế chấp số 1013/2019/HĐTC ngày 07/9/2009 có thuộc trường hợp phải đăng ký
Trang 3Câu 2.3 Hợp đồng thế chấp số 07/9/2019 đã được đăng ký phù hợp với quy định không? Đoạn nào của
bản án cho câu trả lời? 19
Câu 2.4 Theo Tòa án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/9/2019 có vô hiệu không? Vì sao? 20
Câu 2.5 Hướng của Tòa án như trong câu hỏi trên có thuyết phục không? Vì sao? 21
Câu 2.6 Hợp đồng thế chấp trong Quyết định số 21 có hiệu lực đối kháng với người thứ ba không? Vì sao? 21
Câu 2.7 Theo quy định về đòi tài sản (Điều 166 và tiếp theo BLDS năm 2015), Ngân 22
hàng có quyền yêu cầu ông Tân (người thứ ba so với hợp đồng thế chấp) trả lại 22
tài sản thế chấp (xe ô tô) không? Vì sao? 22
Câu 2.8 Việc Tòa án buộc ông Tân trả lại tài sản thế chấp (xe ô tô) cho Ngân hàng có thuyết phục không? Vì sao? 23
VẤN ĐỀ 3: ĐẶT CỌC 24
Câu 3.1 Khác biệt cơ bản giữa đặt cọc và cầm cố, đặt cọc và thế chấp 24
Câu 3.2 Thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về thế chấp 27
Câu 3.3 Theo BLDS, khi nào bên đặt cọc mất cọc, bên nhận cọc bị phạt cọc? 28
Câu 3.4 Nếu hợp đồng được đặt cọc không được giao kết, thực hiện vì lý do khách quan, bên nhận cọc có nghĩa vụ trả lại tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc không? Vì sao? 29
Câu 3.5 Theo Quyết định được bình luận, bên đặt cọc đã chuyển tài sản đặt cọc cho bên nhận cọc như thế nào? 30
Câu 3.6 Theo Tòa giám đốc thẩm trong Quyết định được bình luận, tài sản đặt cọc còn thuộc sở hữu của bên đặt cọc không? Vì sao? 30
Câu 3.7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến quyền sở hữu tài sản đặt cọc 31
Câu 3.8 Đoạn nào cho thấy Tòa án đã áp dụng Án lệ số 25/2018/AL? 32
Câu 3.9 Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 25/2018/AL vào hoàn cảnh trong vụ việc này có thuyết phục không? Vì sao? 33
Câu 3.10 Việc Tòa án “không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, về việc yêu cầu ông I phải trả số tiền phạt cọc là 450.000.000đ” có phù hợp với Án lệ số 25/2018/AL không? Vì sao? 35
VẤN ĐỀ 4: BẢO LÃNH 36
Trang 4Câu 4.3 Đoạn nào cho thấy Tòa án xác định quan hệ giữa ông Miễn, bà Cà với Quỹ tín dụng là quan
hệ bảo lãnh? 39 Câu 4.4 Suy nghĩ của anh/chị vế việc xác định trên cảu Hội đồng thẩm phán 40 Câu 4.5 Theo Tòa án, quyền sử dụng đất của ông Miễn, bà Cà được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ nào? Vì sao? 40 Câu 4.6 Đoạn nào cho thấy Tòa án địa phương đa theo hướng người bảo lãnh và người dược bảo lãnh liên đới thực hiện nghĩa vụ cho người có quyền? 41 Câu 4.7 Hướng liên đới trên có được Tòa giám đốc thẩm chấp nhận không? 42 Câu 4.8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến vấn đề liên đới nêu trên 42 Câu 4.9 Phân biệt thời điểm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh và thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh 43 Câu 4.10 Theo BLDS, khi nào người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh? 44 Câu 4.11 Theo Quyết định, khi nào người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh? 44 Câu 4.12: Có bản án, quyết định nào theo hướng giải quyết trên về thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh chưa? Nêu rõ Bản án, Quyết định mà anh/chị biết 45 Câu 4.13 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa Giám đốc Thẩm 46
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 5VẤN ĐỀ 1: ĐỐI TƯỢNG DÙNG ĐỂ ĐẢM BẢO VÀ TÍNH CHẤT
PHỤ CỦA BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM
Câu 1.1 Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 liên quan đến tài sản có thể dùng để thực hiện nghĩa vụ.
2 Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được
3 Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai
4 Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ đượcbảo đảm”
So với BLDS 2005 và so với Dự thảo mà Chính phủ trình Quốc hội, BLDS có nhiều thayđổi:
Thứ nhất, BLDS 2015 có một điều luật trong khi đó BLDS 2005 có tới ba điều
luật về tài sản bảo đảm là Điều 320 về “Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”, Điều
321 về “Tiền, giấy tờ có giá dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ” và Điều 322 về
“Quyền tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” Với các quy định theohướng liệt kê như trên, BLDS 2005 “dường như cũng chỉ là sự lặp lại các loại tài sản theoquy định tại Điều 163 của Bộ luật” nhưng việc rút gọn thành một điều luật đã gây lo ngạitrong quá trình chỉnh lý Dự thảo tại Quốc hội Tuy nhiên, sự lo ngại này đã được trấn an
do càng liệt kê càng không đủ trong khi đó việc sử dụng thuật ngữ chung “tài sản” màkhông liệt kê từng loại tài sản cho phép khai thác nhiều nhất tài sản và biện pháp bảo đảm
và đây là hướng cần làm đối với BLDS.1
Trang 6Thứ hai, trong phần về Biện pháp bảo đảm, BLDS 2005 có quy định làm rõ yếu tố
“tương lai” của các tài sản bảo đảm tại khoản 2 Điều 320 theo đó “vật hình thành trongtương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụđược xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết” Dự thảo theo hướng làm rõ tài sảnhiện có với quy định “tài sản hiện có là tài sản đã hình thành tại thời điểm ký kết hợpđồng bảo đảm” Cuối cùng, trong Điều 295 nêu trên (thuộc phần Biện pháp bảo đảm thựchiện nghĩa vụ), BLDS không có quy định làm rõ thế nào là tài sản hiện có hay tài sảnhình thành trong tương lai Sở dĩ phần Biện pháp bảo đảm không có quy định nào về chủ
đề này là vì đã có quy định trong phần “Tài sản” thuộc những vấn đề chung của BLDSnhư Điều 108 theo đó “tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền
sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch” và “tài sảnhình thành trong tương lai bao gồm: Tài sản chưa hình thành, tài sản đã hình thành nhưngchủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch” Cách xây dựng quyđịnh như vừa nêu trên là rất thuyết phục, làm cho BLDS không rườm rà mà nội dungkhông thiếu
Thứ ba, vấn đề sở hữu tài sản bảo đảm cũng được đặt ra trong quá trình sửa đổi
BLDS Dự thảo mà Chính phủ trình Quốc hội đã theo hướng “tài sản bảo đảm là tài sản
thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm hoặc tài sản thuộc sở hữu của người khác” Đoạn
in nghiêng ở trên chủ yếu tập trung vào hoàn cảnh như sau: A cho B vay và dùng tài sảncủa C để bảo đảm Tuy nhiên, nội dung này gây tranh cãi trong quá trình chỉnh lý Dựthảo tại Quốc hội và không được giữ lại trong BLDS 2015 vì BLDS 2015 chỉ quy định
“Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tàisản, bảo lưu quyền sở hữu” Về trường hợp dùng tài sản của người thứ ba so với hợpđồng vay, BLDS 2015 hướng xử lý trong phần bảo lãnh với nội dung “Các bên có thểthỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảolãnh” (Khoản 3 Điều 336)
Ngoài ra, BLDS 2015 cũng bổ sung quy định về giá trị của tài sản bảo đảm là cóthể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm Quy định này được đưavào để loại bỏ một thực tế là đôi khi có người yêu cầu giá trị tài sản bảo đảm phải lớn hơngiá trị nghĩa vụ được bảo đảm Tại Khoản 1 Điều 320 BLDS 2005 quy định: “Vật bảođảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phépgiao dịch Tuy nhiên, đến BLDS 2015, quy định này không được giữ lại Sở dĩ phần Biện
Trang 7pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bỏ quy định này không phải là cho phép sử dụng tài sảnkhông được phép giao dịch để bảo đảm mà là do các quy định chung đã có hướng giảiquyết.”.
Tóm tắt bản án số 208/2010/DS_PT ngày 09/03/2010 của TAND TP.HCM:
Nguyên đơn: Ông Phạm Bá Minh.
Bị đơn: bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo.
Nội dung vụ án: Ngày 14/09/2017 bà Khen và ông Thảo thế chấp cho ông Minh một
giấy sử dụng sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000đ, thời hạn vay là 6 tháng,lãi suất 3%/1 tháng Khi hết thời hạn hợp đồng, ông Thảo bà Khen không thanh toánđược nên đã kéo dài số nợ trên Cho đến nay thì mới thanh toán được tiền lãi của 22tháng là 29.600.000đ, còn nợ 10.000.000đ tiền lãi nên ông Minh yêu cầu trả vốn lẫn lãi
là 70.000.000đ trong vòng 1 tháng Về phần mình, ông Thảo và bà Khen đề nghị trả sốtiền trên trong thời hạn 12 tháng
Quyết định của Tòa án phúc thẩm: Bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, ông
Phạm Bá Minh Xử lý theo Tòa sơ thẩm
Câu 1.2 Đoạn nào của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay.
Trả lời:
Theo Bản án số 208, đoạn cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảmthực hiện nghĩa vụ trả tiền vay là:
“Bị đơn bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo xác nhận:
Có thế chấp một giấy tờ sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000 đồng choông Phạm Bá Minh là chủ dịch vụ cầm đồ Bá Minh Lãi suất là 3%/ tháng Ông bà đãđóng lãi 36.800.000 đồng từ tháng 9/2007 đến tháng 7/2008 thì ngưng không đóng nữa,nên còn nợ tiền lãi là 10.000.000 đồng Việc trả lãi không có giấy tờ Nay ông bà đồng ý
trả số tiền 70.000.000 đồng cho ông Minh, nhưng xin trả trong hạn là 12 tháng.”
Trang 8Giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản.
Theo khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá trị và quyềntài sản.” Trong đó:
- Vật phụ thuộc vào ý chí của các bên hướng đến để xét khi nào là vật và khi nàokhông phải là vật
- Tiền do Ngân hàng nhà nước phát hành, Giấy chứng nhận sạp không phải do nhànước phát hành nên không phải là tiền theo khoản 9 Điều 3 Nghị định163/2006/NĐ-CP
- Theo khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng thì: Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhậnnghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ cógiá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác Do đógiấy chứng nhận sạp không phải là giấy tờ có giá
- Theo Điều 115 BLDS 2015 thì quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, baogồm quyền tài sản đối với dối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất vàquyền tài sản khác Vì thế giấy chứng nhận sạp cũng không phải là một tài sản.Như vậy, giấy chứng nhận sạp chỉ ghi nhận quyền được sử dụng sạp để bà Khen buônbán tại chợ Tân Hưng, không thuộc quyền sở hữu của bà Khen, bà chỉ được sử dụng chứkhông có đặc quyền nào khác đối với cái sạp, cái sạp đó không phải là tài sản của bà nêngiấy chứng nhận sử dụng sạp không nằm trong danh mục các loại giấy tờ có giá trị tạikhoản 9 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ–CP và cũng không là vật, tiền và quyền tài sản,
do vậy giấy chứng nhận sạp không là tài sản
Câu 1.4 Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự có được Tòa
án chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Trang 9Câu 1.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa án đối với việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 295 BLDS 2015 về tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụdân sự: “Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầmgiữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.”
- Giấy chứng nhận sạp không phải là giấy tờ có giá, theo khoản 8 Điều 6 Luật Ngânhàng thì: Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức pháthành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định,điều kiện trả lãi và các điều kiện khác, như vậy, giấy chứng nhận sạp cũng khôngphải là giấy tờ có giá
- Theo Điều 115 BLDS 2015 thì quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, baogồm quyền tài sản đối với dối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất vàquyền tài sản khác Vì thế giấy chứng nhận sạp cũng không phải là một tài sản.Như vậy, giấy chứng nhận sạp chỉ ghi nhận quyền được sử dụng sạp để bà Khen buônbán tại chợ Tân Hưng, không thuộc quyền sở hữu của bà Khen Hướng giải quyết củaTòa án trong bản án số 208 trên là hoàn toàn hợp lý Theo đó, tài sản cầm cố đó nếu
Trang 10Tóm tắt quyết định số 02/2014/QĐ-UBTP ngày 28/2/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang V/v “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất”.
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Ôn, bà Lê Thị Xanh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Rành.
Nội dung: Vào năm 1995, ông Ôn và bà Xanh có cầm cố cho ông Rành 3000m2 đất
với giá 30 chỉ vàng 24k Vợ chồng ông Rành đã giao đủ vàng, hai bênthỏa thuận 3 năm
sẽ chuộc lại, nếu không chuộc lại thì ông sẽ canh tác vĩnh viễn Hiện tại, phần đất tranhchấp vợ chồng ông Rành đang canh tác và còn 2,5 tháng sẽ thu hoạch
Quyết định của Tòa án Tại Quyết định Giám đốc thẩm đã chấp nhận kháng nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang và cho rằng: giao dịch giữa ông
Ôn, bà Xanh và ông Rành là giao dịch tương tự như là giao dịch cầm cố tài sản phải ápdụng nguyên tắc tương tự là các quy định về cầm cố tài sản để giải quyết, cũng nhưhủy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành về việc “Tranhchấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất”
Câu 1.6 Đoạn nào của Quyết định số 02 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất để cầm cố?
Câu 1.7 Văn bản hiện hành có cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Nêu cơ sở văn bản khi trả lời?
Trả lời:
Trang 11Văn bản hiện hành có cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố
Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ cógiá và quyền tài sản” và Điều 115 BLDS 2015: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằngtiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất vàcác quyền tài sản khác” Vì quyền sử dụng đất được luật thừa nhận là quyền tài sản, là bấtđộng sản nên quyền sử dụng đất là tài sản thuộc sở hữu của một chủ thể có quyền sửdụng đất đó Theo khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai 2013: “Người sử dụng đất được thựchiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thếchấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của luật này” Theo Điều 310 BLDS
2015, pháp luật quy định cho phép cầm cố bất động sản Do đó người sử dụng đất hoàntoàn có quyền cầm cố quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Câu 1.8 Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép quyền sử dụng đất
để cầm cố không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trả lời:
Trong Quyết định giám đốc thẩm thì Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân TiềnGiang chấp nhận cho phép việc sử dụng quyền sử dụng đất là tài sản bảo đảm, thể hiện ởphần xét thấy: “Xét việc giao dịch thửa đất nêu trên là tương tự với giao dịch cầm cố tàisản, do đó phải áp dụng nguyên tắc tương tự để giải quyết Về nội dung thì giao dịch thụcđất nêu trên phù hợp với quy định về cầm cố tài sản của Bộ luật dân sự (tại Điều 326,327), do đó cần áp dụng các quy định về cầm cố tài sản của Bộ luật dân sự để giải quyếtmới bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên giao dịch
Tuy nhiên bản án sơ thẩm lại xác định giao dịch trên trái pháp luật và áp dụng cácquy định về giao dịch là vô hiệu để giải quyết nhưng không xem xét về hậu quả pháp lýnên chưa phù hợp với trường hợp trên, như vậy có sai lầm nghiêm trọng trong việc ápdụng pháp luật.”
Câu 1.9 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định
số 02
Trả lời:
Trang 12Thứ nhất, Điều 310 BLDS 2015 quy định về cầm cố tài sản đã quy định:
“Cầm cố tài sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhậncầm cố nắm giữ tài sản cầm cố
Trường hợp bất động sản là đối tượng của cầm cố theo quy định của luật thì việccầm cố bất động sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký”
Có thể thấy, BLDS 2015 đã ghi nhận rõ ràng về việc có thể cầm cố bất động sản
Thứ hai, với giao dịch trên giữa nguyên đơn và bị đơn, có thể thấy, mặc dù pháp
luật dân sự không có bất kỳ quy định cụ thể nào về việc cho người sử dụng đất có quyềncầm cố QSDĐ nhưng xét về bản chất của giao dịch này, thấy rằng giữa các bên đương sự
đã thực hiện một giao dịch cầm cố tài sản cho nhau tuẩn thủ đúng theo quy định của phápluật về hình thức, nội dung của hợp đồng từ Điều 309 đến 316 Điều 6 BLDS 2015 cũng
đã quy định: “Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân
sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quánđược áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.”Như vậy, đối với trường hợp trong vụ án trên, khi pháp luật chưa có quy định rõ ràng vềviệc cầm cố quyền sử dụng đất, ta hoàn toàn có thể áp dụng pháp luật tương tự trong tìnhhuống này
Thứ ba, khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai 2013 đã quy định: “Người sử dụng đất
được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế,tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này.” Như vậy, cóthể thể, tuy Luật Đất đai 2013 không quy định về quyền cầm cố của người sử dụng đất,nhưng cũng không có quy định cấm Như vậy, trên thực tiễn, người sử dụng đất vẫn có thểcầm cố quyền sử dụng đất
Thứ tư, giao dịch giữa hai bên Nguyên đơn và Bị đơn đều không thuộc các trường
hợp bị vô hiệu mà BLDS quy định từ Điều 125 đến Điều 138
Thứ năm, Điều 6 của BLDS 2015 đã quy định: “Trường hợp phát sinh quan hệ
thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luậtkhông có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luậtđiều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.” Như vậy, đối với trường hợp trong vụ án trên, khi
Trang 13pháp luật chưa có quy định rõ ràng về việc cầm cố quyền sử dụng đất, ta hoàn toàn có thể
áp dụng pháp luật tương tự trong tình huống này
Dựa vào 5 luận điểm trên, có thể kết luận, việc Tòa án chấp nhận cho phép dùngquyền sử dụng đất để cầm cố là hoàn toàn hợp lý
Tóm tắt quyết định giám đốc thẩm số 27/2021/DS – GĐT ngày 2/6/2021 V/v
“tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Nguyên đơn: Ngân hàng Liên doanh V.
Bị đơn: Công ty PT.
Nội dung vụ án: Vào năm 2014, giữa Ngân hàng Liên doanh V và Công ty PT đã ký
kết các hợp đồng tín dụng với mục đích vay vốn lưu động phục vụ sản xuất và Ngânhàng cấp đã hạn mức tín dụng tối đa 10.000.000.000 đồng Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợcho Ngân hàng, các bên bảo lãnh đã ký kết hợp đồng thế chấp Theo phía Ngân hàngthì nhiều hợp đồng tính dụng cụ thể phía Công ty PT đã tất toán, nhưng vẫn còn nhiềuhợp đồng chưa thanh toán Tính đến ngày 5/09/2019, công ty PT còn thiếu Ngân hàngLiên doanh V – chi nhánh Thành phố H số tiền là 5.235.426.579 đồng và 69.444,52USD (bao gồm cả nợ gốc lẫn lãi) Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm tuyên buộc Công
ty PT phải trả số nợ trên và tiếp tục trả lãi phát sinh cho Ngân hàng từ ngày 5/0/2019cho đến khi trả hết xong khoản nợ
Câu 1.10 Trong Quyết định số 27, thế chấp được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ nào? Vì sao?
Trả lời:
Trong Quyết định số 27, thế chấp được sử dụng để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ
Vì vào năm 2014, công ty PT đã ký kết các hợp đồng tín dụng vào nhiều mục đíchvới ngân hàng Liên doanh V, do đó để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, các bên
đã ký kết các hợp đồng thế chấp
Trang 14Câu 1.11 Đoạn nào trong Quyết định số 27 cho thấy Tòa án xác định hợp đồng thế chấp đã chấm dứt?
Trả lời:
Đoạn trong Quyết định số 27 cho thấy Tòa án xác định hợp đồng thế chấp đã chấmdứt là:
“Tuy nhiên, theo sự xác nhận của phía Ngân hàng thì Công ty PT đã thanh toán tất
cả các khoản nợ theo các hợp đồng tín dụng cụ thể nêu trên và phía Ngân hàng cũng đãtất toán các hợp đồng vào ngày cuối cùng 25/11/2014 Do vậy, căn cứ theo quy định tạikhoản 1 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2005 về việc thế chấp tài sản chấm dứt khi nghĩa
vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt thì Hợp đồng thế chấp bất động sản số63/2014/HĐTC ngày 06/6/2014 đã chấm dứt, hết hiệu lực từ ngày 25/11/2014”
Câu 1.12 Vì sao Tòa án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt.
Trả lời:
Tòa án xác định hợp đồng thế chấp đã chấp nêu trên đã chấm dứt, vì:
Thứ nhất, đến ngày 23/4/2015, giữa Ngân hàng và Công ty PT tiếp tục ký hợp
đồng số 091/2015/HDTD với hạn mức tín dụng tối đa lên 10.000.000.000 đồng nhưngkhông hề có ý kiến của người thế chấp là ông Trần T và bà Trần Thị H là không đúngquy định
Thứ hai, quá trình giải quyết vụ án, phía Ngân hàng có cung cấp “Bản cam kết thế
chấp” để chứng minh ông T, bà H cam kết dùng tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ thaycho Công ty PT nhưng Bộ Công an kết luận chữ ký và chữ viết ông Trần T và bà TrầnThị H không phải chữ ký, chữ viết thật của mình để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ thay choCông ty PT đối với khoản nợ của Ngân hàng với hạn mức là 5.000.000.000 đồng
Thứ ba, Tòa án xác nhận được nguyên đơn Ngân hàng Việt Nga thừa nhận Công
ty PT đã tất toán các khoản vay từ Hợp đồng tín dụng số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014lần lượt vào các ngày 15/10/2014; ngày 25/10/2014 và ngày 12/11/2014 Vì vậy, việc thếchấp tài sản của ông T, bà H đã chấm dứt theo quy định tại khoản 1 Điều 357 BLDS năm
2005 và khoản 1 Điều 327 BLDS năm 2015
Trang 15Câu 1.13 Việc Tòa án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt có thuyết phục không? Vì sao?
Trả lời:
Việc tòa án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt là thuyết phục
Theo khoản 1 Điều 317 BLDS 2015 quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên(sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).” Theo đó,trong tình huống, để đảm bảo cho khoản vay 1.500.000.000 đồng của Công ty PT theoHợp đồng tín dụng số 60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014, Ông T và bà H đã thế chấp tài sản
là quyền sử dụng đất có diện tích là 120,75m2 và căn nhà 02 tầng gắn liền với đất có diệntích sử dụng là 214,62m² đất thuộc thửa số 392; tờ bản đồ số 3, tại số 40, đường Đ,Phường 13, quận T, Thành phố H do ông Trần T và bà Trần Thị H đứng tên giấy chứngnhận quyền sử dụng đất
Theo khoản 2 Điều 1 của Hợp đồng thế chấp mà 2 bên đã thỏa thuận có ghi: “Hợpđồng này để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đã, đang và sẽ hình thành trong tươnglai theo toàn bộ các Hợp đồng tín dụng đã và sẽ ký giữa Ngân hàng với Bên vay tronggiới hạn số tiền tối đa bằng giá trị tài sản thế chấp” Tuy nhiên, không hề có ý kiến củangười thế chấp là ông Trần T và bà Trần Thị H, Ngân hàng đã tự nâng hạn mức vay từ1.500.000.000 đồng lên 10.000.000.000 đồng đã vượt quá giá trị tài sản thế chấp Điềunày là trái với quy định hợp đồng hai bên đã thỏa thuận
Thực tế, Công ty PT đã tất toán các khoản vay từ Hợp đồng tín dụng số60/2014/HĐTD ngày 14/4/2014 lần lượt vào các ngày 15/10/2014; ngày 25/10/2014 vàngày 12/11/2014 Vì vậy, việc thế chấp tài sản của ông T, bà H đã chấm dứt theo quyđịnh khoản 1 Điều 327 Bộ luật dân sự năm 2015 Do đó, hợp đồng nêu trên đã chấm dứttheo đúng quy định của pháp luật Ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả bản chính Giấychứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho ông T, bà H theo khoản 1Điều 322 BLDS 2015
Trang 16Câu 1.14 Khi xác định hợp đồng thế chấp chấm dứt, Tòa án theo hướng bên nhận thế chấp (Ngân hàng) có trách nhiệm hoàn trả Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà
và quyền sử dụng đất có thuyết phục không? Vì sao?
Trả lời:
Khi xác định hợp đồng thế chấp chấm dứt, Tòa án theo hướng bên nhận thế chấp(Ngân hàng) có trách nhiệm hoàn trả Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sửdụng đất là thuyết phục
Tòa án đã xác định hợp đồng thế chấp tài sản của ông T và bà H chấm dứt theo quyđịnh tại khoản 1 Điều 327 BLDS 2015: “Thế chấp tài sản chấm dứt trong trường hợp sauđây: 1 Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt.” (tương ứng với khoản 1 Điều
357 BLDS 2005) Vậy nên Ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả bản chính Giấychứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất theo khoản 1 Điều 322 BLDS
2015 Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp: “1 Trả các giấy tờ cho bên thế chấp sau khi chấm
dứt thế chấp đối với trường hợp các bên thỏa thuận bên nhận thế chấp giữ giấy tờ liênquan đến tài sản thế chấp.”
Trang 17VẤN ĐỀ 2: ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM
Câu 2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về đăng ký giao dịch bảo đảm.
Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự
do các bên thoả thuận hoặc pháp luật
quy định về việc thực hiện biện pháp bảo
đảm được quy định tại khoản 1 Điều 318
của Bộ luật này (khoản 1 Điều 323)
Biện pháp bảo đảm được đăng ký theothỏa thuận hoặc theo quy định của luật.(khoản 1 Điều 298)
Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch
bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường
hợp pháp luật có quy định (khoản 2
Điều 323)
Việc đăng ký là điều kiện để giao dịchbảo đảm có hiệu lực chỉ trong trườnghợp luật có quy định (khoản 1 Điều298)
Trường hợp giao dịch bảo đảm được
đăng ký theo quy định của pháp luật thì
giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý
đối với người thứ ba, kể từ thời điểm
đăng ký (khoản 3 Điều 323)
Trường hợp được đăng ký thì biện phápbảo đảm phát sinh hiệu lực đối khángvới người thứ ba kể từ thời điểm đăng
ký (khoản 2 Điều 298)
Như vậy, có thể thấy một số điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về đăng kýgiao dịch bảo đảm:
Thứ nhất, BLDS 2005 đề cập đến vấn đề "Đăng ký giao dịch bảo đảm" còn BLDS
2015 thì đổi thành quy định về "Đăng ký biện pháp bảo đảm" Mà theo các khoản nêutrên thì "biện pháp bảo đảm" được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luậtcòn "giao dịch bảo đảm" là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quyđịnh về việc thực hiện biện pháp bảo đảm Như vậy ta có thể nói rằng việc sử dụng thuậtngữ "Đăng ký biện pháp bảo đảm" là phù hợp hơn
Trang 18Thứ hai, BLDS 2015 đã thay thế cụm từ “pháp luật" thành từ “luật” Mà phạm vi
điều chỉnh của Luật sẽ hẹp hơn nhiều so với Pháp luật vì Luật chỉ điều chỉnh một ngành,lĩnh vực, còn Pháp luật là cả một hệ thống quy tắc gắn liền với một nhà nước, giúp nhànước đó điều hành bộ máy của mình Như vậy cũng đồng nghĩa với việc hạn chế về cácchủ thể có thẩm quyền để quy định về giao dịch bảo đảm và các điều kiện để giao dịchbảo đảm có hiệu lực
Thứ ba, ở đây, BLDS 2015 đã thay thế cụm từ “giá trị pháp lý” bằng “hiệu lực đối
kháng" Có thể nói rằng việc thay đổi từ ngữ như vậy đã giúp hạn chế các ràng buộc pháp
lý đối với bên thứ ba trong giao dịch đảm bảo tài sản, khi mà “hiệu lực đối kháng” chỉ cóthể phát sinh trong 4 trường hợp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ: Cầm cố tài sản; Thế chấptài sản; Bảo lưu quyền sở hữu; Cầm giữ tài sản Sự điều chỉnh này cũng đã cụ thể hóahơn quy định của luật, khiến cho việc sử dụng và áp dụng pháp luật trong thực tiễn đờisống trở nên thuận lợi hơn
Tóm tắt bản án số 90/2019/KDTM-PT ngày 16/08/2019 của Tòa án nhân dân TP
Hà Nội
Nguyên đơn: Ngân hàng N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng)
Bị đơn: Công ty TNHH xây dựng và thương mại V (sau đây gọi tắt là Công ty V) Nội dung: Hai bên đã ký hợp đồng tín dụng như sau: Hợp đồng tín dụng số 1421-
LAV-200900142/HĐTD ký ngày 29/9/2009 và số 1421-LAV-201000037/HMTD kýngày 21/05/2010 và 21/5/2012, Ngân hàng tiếp tục ký Hợp đồng hạn mức tín dụng số1421-LAV-201000037, theo đó Ngân hàng tiếp tục gia hạn cho công ty thêm 12 thángvới hạn mức tín dụng như cũ Quá trình thực hiện hợp đồng này, Ngân hàng chưa giảingân mà chỉ theo dõi phần dư nợ chuyển sang giữa Ngân hàng với Công ty V Ngânhàng yêu cầu Công ty V phải thanh toán trả nợ gốc, lãi và lãi chậm trả phát sinh từ hợpđồng tín dụng hạn mức Tài sản đảm bảo cho các khoản vay trên là: Quyền sử dụng đất
và tài sản mang tên chủ sở hữu là ông Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị V Động sản là Hệthống khoan cọc nhồi KH125-3
Quyết định Tòa phúc thẩm: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo
của ông Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị V do vắng mặt tại Phiên tòa phúc thẩm 2 lần Bácyêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ( ông Q, bà V) về việcyêu cầu tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản vô hiệu, chưa phát sinh hiệu lực pháp luật
Trang 19cũng như yêu cầu ngân hang phải trả lại bản gốc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà sởhữu đất.
Câu 2.2 Hợp đồng thế chấp số 1013/2019/HĐTC ngày 07/9/2009 có thuộc trường hợp phải đăng ký không? Vì sao?
Trả lời:
Hợp đồng thế chấp số 1013/2009/HĐTC ngày 07/9/2009 thuộc trường hợp phải
đăng ký vì:
Thứ nhất, hợp đồng thế chấp ngày 07/9/2009 có nội dung thể hiện rằng ông Q, bà
V tự nguyện dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình là nhà đất tại 60 V, phường T,quận H, Hà Nội để đảm bảo cho các khoản vay của Công ty V tại Ngân hàng với số tiềnvay tối đa 06 tỷ đồng Chính vì thế, có thể thấy hợp đồng này là hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng nhà đất Căn cứ vào khoản 1 Điều 502 BLDS năm 2015 về hình thức, thủ tụcthực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất quy định như sau: "Hợp đồng về quyền sử dụngđất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này,pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan"
Thứ hai, theo điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013: “Hợp đồng chuyển
nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tàisản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanhbất động sản quy định tại điểm b khoản này”
Câu 2.3 Hợp đồng thế chấp số 07/9/2019 đã được đăng ký phù hợp với quy định không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Trả lời:
Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 đã được đăng ký phù hợp với quy định của phápluật
Đoạn trong bản án cho câu trả lời: “Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba ngày 07/9/2009 Sau khi các bên ký kết hợp
Trang 20bên nhận thế chấp và bên vay ghi nhận rõ việc bên thế chấp và bên vay ký tên và Hợpđồng trước mặt công chứng viên tại địa chỉ số 60 V, phường T, quận H, Hà Nội sau đócông chứng viên đóng dấu và trả hồ sơ cho phía Ngân hàng Công chứng viên, ông KhúcMạnh C khẳng định khi ký kết hợp đồng, ông Q và bà V đã xuất trình đầy đủ chứng minhthư nhân dân, hộ khẩu và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất.bên ngân hàng đã có Giấy đề nghị Công chứng và Biên bản định giá tài sản, hợp đồng thếchấp đều ghi ngày 07/9/2009 được ký và đóng dấu bởi người có thẩm quyền của Ngânhàng Ngoài ra Biên bản định giá có đầy đủ chữ ký của bên thế chấp là vợ chồng ông Q
và bà V; bên khách hàng vay là Công ty V do ông Nguyễn Tử D làm đại diện ký tên vàđóng dấu Văn phòng công chức đã thực hiện đúng pháp luật công chứng, nội dung vănbản công chứng không trái với quy định của pháp luật, không vi phạm Điều 122 Bộ luậtdân sự 2005 nên không thể tự vô hiệu” Và đoạn: “Tại thời điểm ngày 30/9/2009 chỉ cầnmột bên là bên thế chấp hoặc bên nhận thế chấp, bảo lãnh ký là được Mà theo yêu cầuđăng ký thế chấp ngày 30/9/2009 thì bên nhận thế chấp là Ngân hàng có ký đóng dấu vàođơn này nên Đơn đăng ký vẫn đúng quy định và phát sinh hiệu lực.”
Câu 2.4 Theo Tòa án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/9/2019 có
vô hiệu không? Vì sao?
Trả lời:
Nếu không được đăng ký hợp lệ thì hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 sẽ bị vô hiệu
vì vi phạm vào điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 về điều kiện có hiệu lực của giaodịch dân sự Theo điểm b mục 1 Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP về đăng ký biệnpháp bảo đảm có quy định về những trường hợp phải đăng ký như sau:
“a) Thế chấp quyền sử dụng đất;
b) Thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã được chứng nhậnquyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sảnkhác gắn liền với đất;
c) Cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay;
d) Thế chấp tàu biển”
Trang 21Trong trường hợp này, Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 thế chấp quyền sử dụng đất vàcăn nhà gắn liền với đất của ông Q và bà V nên phải đăng ký biện pháp bảo đảm thì hợpđồng mới không bị vô hiệu.
Câu 2.5 Hướng của Tòa án như trong câu hỏi trên có thuyết phục không? Vì sao?
Trả lời:
Hướng của Tòa án như trong câu hỏi trên là thuyết phục
Tòa đã bác yêu cầu về việc tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng số1013.2009/HĐTC ngày 07/09/2009 là vô hiệu Vì:
- Sau khi các bên ký kết, công chứng viên đã lặp lời chứng ghi nhận rõ các bêntham gia ký kết
- Công chứng viên khẳng định bị đơn đã xuất trình đầy đủ chứng minh thư, hộ khẩu
và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất
- Bên ngân hàng có giấy đề nghị công chứng và biên bản định giá tài sản, hợp đồngthế chấp đều ghi ngày 7/9/2009 đã được đại diện các bên ký đầy đủ
- Văn phòng công chứng dã thực hiện đúng pháp luật, nội dung đầy đủ không tráiluật nên không vô hiệu
Câu 2.6 Hợp đồng thế chấp trong Quyết định số 21 có hiệu lực đối kháng với người thứ ba không? Vì sao?
Trả lời:
Hợp đồng thế chấp có hiệu lực đối kháng với người thứ ba
Thứ nhất, khoản 1 Điều 297 BLDS 2015 đã quy định: "Biện pháp bảo đảm phát
sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm."
Thứ hai, khoản 1 Điều 6 Thông tư 08/2018/TT-BTP đã quy định:
“Các tài sản bảo đảm được đăng ký tại Trung tâm Đăng ký theo yêu cầu, gồm:
Trang 22Thứ ba, điểm a Khoản 1 Điều 5 Thông tư 08/2018/TT-BTP đã quy định:
“1 Việc đăng ký biện pháp bảo đảm theo yêu cầu tại Trung tâm Đăng ký bao gồm cáctrường hợp sau đây:
a) Thế chấp động sản, trừ tàu bay, tàu biển bao gồm cả thế chấp động sản hình thànhtrong tương lai;”
Qua 3 cơ sở pháp lý ta thấy, ô tô là tài sản có thể yêu cầu đăng ký bảo đảm và có hiệu lựcđối kháng với người thứ ba kể từ khi đăng ký Tuy nhiên, theo bản án, ô tô không đượcđem đi đăng ký (do luật không bắt buộc trừ trường hợp ngoại lệ) Nhưng người thứ ba(ông Tân) biết về hợp đồng thế chấp giữa nguyên đơn và bị đơn, thể hiện ở đoạn: “ÔngTân đồng ý trả hết nợ cho ngân hàng Sau khi trả hết nợ, ông Tân yêu cầu ông Thọ làmthủ tục sang tên xe.”
Do đó, nên khi hợp đồng thế chấp được thành lập, có hiệu lực thì cũng đồng thời có hiệulực đối kháng với người thứ ba
Câu 2.7 Theo quy định về đòi tài sản (Điều 166 và tiếp theo BLDS năm 2015), Ngân hàng có quyền yêu cầu ông Tân (người thứ ba so với hợp đồng thế chấp) trả lại tài sản thế chấp (xe ô tô) không? Vì sao?
Trả lời:
Theo quy định về đòi tài sản thì ngân hàng có quyền yêu cầu ông Tân người thứ ba
so với hợp đồng thế chấp trả lại tài sản thế chấp ô tô Vì:
Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 166 BLDS 2015 đã quy định:
“Chủ sở hữu, chủ thể có quyền yêu cầu khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từngười chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ phápluật.”
Thứ hai, khoản 8 Điều 320 BLDS 2015 đã quy định về nghĩa vụ của bên thế chấp:
Không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp quy định tạikhoản 4 và khoản 5 Điều 321 của Bộ luật này
Trang 23Như vậy, có nghĩa là ông Thọ, bà Loan không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tàisản thế chấp như vậy giao dịch chuyển nhượng xe ô tô giữa các bên đương sự là không
có căn cứ pháp luật
Thứ ba, ngoài ra, theo khoản 5 Điều 323 BLDS 2015 quy định: “Yêu cầu bên thế
chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý khi bên thếchấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”
Như vậy, phía Ngân hàng có quyền yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tàisản thế chấp giao tài sản đó để xử lý khi nghĩa vụ không được thực hiện hoặc thực hiệnkhông đúng, như vậy ngân hàng có quyền đối với tài sản thế chấp Qua đó, ngân hàng đãthỏa mãn đủ điều kiện để đòi tài sản quy định tại Khoản 1 Điều 166 BLDS 2015
Câu 2.8 Việc Tòa án buộc ông Tân trả lại tài sản thế chấp (xe ô tô) cho Ngân hàng
có thuyết phục không? Vì sao?
ô tô và ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp theo Khoản 7 Điều 323 BLDS 2015
Trang 24Khái niệm Đặt cọc là việc một
bên (sau đây gọi làbên đặt cọc) giaocho bên kia (sauđây là bên nhận đặtcọc) một khoản tiềnhoặc kim khí quý,
đá quý hoặc vật cógiá trị khác (sau đâygọi chung là tài sảnđặt cọc) trong mộtthời hạn để bảo đảmgiao kết hoặc thựchiện hợp đồng
Cầm cố là việc mộtbên (sau đây gọi làbên cầm cố) giao tàisản thuộc quyền sởhữu của mình chobên kia (sau đây gọi
là bên nhận cầm cố)
để bảo đảm thựchiện nghĩa vụ
Thế chấp tài sản làviệc một bên (sauđây gọi là bên thếchấp) dùng tài sảnthuộc sở hữu củamình để bảo đảmthực hiện nghĩa vụ
và không giao tàisản cho bên kia (sauđây gọi là bên nhậnthế chấp) Tài sảnthế chấp do bên thếchấp giữ Các bên
có thể thỏa thuậngiao cho người thứ
ba giữ tài sản thếchấp
Đối tượng Chỉ giới hạn trong
phạm vi hẹp gồm:
tiền, kim khí quý,
đá quý hoặc các tàisản có giá trị khác
mà không bao gồmcác quyền tài sản,
Tài sản thuộc quyền
sở hữu của bên cầm
cố gồm: động sản,các loại giấy tờ cógiá (trái phiếu, cổphiếu…) Khôngbao gồm bất động
Đối tượng của thếchấp là vật, quyềntài sản, giấy tờ cógiá, có thể là tài sảnhiện tại hoặc tài sảnhình thành trongtương lai, tài sản