Trước tình hình đó, ngày 30/03/2021 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 09/2021/TT-BGDĐT quy định về quản lý và tổ chức dạy học trực tuyến trong cơ sở giáo dục phổ thông và cơ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Trần Công Sang, học viên Cao học ngành Quản lí giáo dục khóa 20.2 tại trường Đại học Sài Gòn Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại, Thành phố Hồ Chí Minh” đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của Thầy Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Phương Kết quả nghiên cứu của các tác giả khác được sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn đầy đủ, rõ ràng Các số liệu trình bày trong luận văn là trung thực
Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào
Tác giả luận văn
Trần Công Sang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều tổ chức và cá nhân Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Sài Gòn, Phòng Đào tạo sau Đại học Trường Đại học Sài Gòn đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Ngọc Phương, giảng viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô đã giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Sài Gòn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban Giám Đốc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên, trung cấp, cao đẳng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi luôn tri ân bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã hỗ trợ, tạo điều kiện giúp tôi về tinh thần lẫn vật chất để tôi học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù tôi đã rất cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của quý Thầy Cô, bạn bè và đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trần Công Sang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i LỜI CẢM ƠN ii MỤC LỤC iii CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO HÌNH THỨC TRỰC TUYẾN Ở CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 7 1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 17 1.2.1 Khái niệm hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 17 1.2.2 Khái niệm quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 21 1.3 Hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 23 1.3.1 Vai trò của dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 23 1.3.2 Mục tiêu hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 25 1.3.3 Nội dung hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 25 1.3.4 Các phương thức hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 28 1.3.5 Các điều kiện thực hiện, hỗ trợ cần cho hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 29 1.4 Quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 32 1.4.1 Tầm quan trọng của quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ
sở giáo dục nghề nghiệp 32 1.4.2 Xây dựng kế hoạch hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 33 1.4.3 Tổ chức hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 34 1.4.4 Chỉ đạo hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 35
Trang 61.4.5 Kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo
dục nghề nghiệp 36
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 37
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 37
1.5.2 Các yếu tố khách quan 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO HÌNH THỨC TRỰC TUYẾN Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 41
2.1 Khái quát về giáo dục nghề nghiệp thành phố Hồ Chí Minh 41
2.2 Khái quát về tổ chức khảo sát thực trạng 45
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 45
2.2.2 Nội dung khảo sát 46
2.2.3 Đối tượng khảo sát 46
2.2.4 Phương pháp và công cụ khảo sát 46
2.2.5 Thời gian tiến hành khảo sát 47
2.3 Thực trạng hoạt động dạy học qua mạng ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh 47
2.3.1 Thực trạng thực hiện vai trò của dạy học theo hình thức trực tuyến 47
2.3.2 Thực trạng thực hiện các mục tiêu hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến 48
2.3.3 Thực trạng thực hiện các nội dung hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến 49
2.3.4 Thực trạng sử dụng các phương thức hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến 50
2.3.5 Thực trạng ảnh hưởng của các điều kiện thực hiện, hỗ trợ cần cho hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến 51
2.4 Thực trạng quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh 52
2.4.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến 52
2.4.2 Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 53
Trang 72.4.3 Thực trạng tổ chức hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo
dục nghề nghiệp 55
2.4.4 Thực trạng chỉ đạo hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 56
2.4.5 Thực trạng quản lí các điều kiện thực hiện, hỗ trợ cho hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 58
2.5 Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh 60
2.5.1 Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan 60
2.5.2 Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố khách quan 62
2.6 Đánh giá chung về thực trạng 63
2.6.1 Mặt mạnh và nguyên nhân 63
2.6.2 Mặt yếu và nguyên nhân 63
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO HÌNH THỨC TRỰC TUYẾN Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 66
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 66
3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 66
3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống 66
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 67
3.1.4 Đảm bảo tính khả thi 67
3.2 Các biện pháp quản lí hoạt động dạy học trực tuyến ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh 68
3.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến cho cán bộ quản lí và giáo viên 68
3.2.2 Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 69
3.2.3 Tăng cường tổ chức quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ trong dạy học trực tuyến 72
3.2.4 Thường xuyên chỉ đạo hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 75
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động dạy học trực tuyến 77
Trang 83.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 79
3.4 Khảo sát tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất 80
3.4.1 Mục đích, nội dung, phương pháp và khách thể khảo sát 80
3.4.2 Kết quả khảo sát 81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
1.KẾT LUẬN 89
1.1 VỀ LÍ LUẬN 89
1.2 VỀ THỰC TIỄN 90
2 KHUYẾN NGHỊ 91
2.1 ĐỐI VỚI SỞ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 91
2.2 ĐỐI VỚI HIỆU TRƯỞNG, GIÁM ĐỐC CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 91
2.3 ĐỐI VỚI TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 97
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
BẢNG
Bảng 2.1 Số liệu CBQL, GV các cơ sở DGNN TP Hồ Chí Minh tham gia khảo sát
46
Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL và GV về vai trò của dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 47
Bảng 2.3 Thực trạng thực hiện các mục tiêu hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến 48
Bảng 2.4 Thực trạng thực hiện các nội dung hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến 49
Bảng 2.5 Sự phù hợp của các phương pháp dạy học trong hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến 50
Bảng 2.6 Thực trạng về các điều kiện thực hiện, hỗ trợ cần cho hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến 51
Bảng 2.7 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến 52
Bảng 2.8 Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 53
Bảng 2.9 Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiểm tra đánh giá chất lượng giảng viên, giáo viên tham gia dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 55
Bảng 2.10 Thực trạng chỉ đạo hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 56
Bảng 2.11 Thực trạng quản lí các điều kiện thực hiện, hỗ trợ cho hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 58
Bảng 2.12 Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan 60
Bảng 2.13 Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố khách quan 62
Bảng 3.1 Đánh giá về tính cấp thiếtcủa các biện pháp đề xuất 83
Bảng 3.2 Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp đề xuất 85
Trang 11BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các biện pháp 80 Biểu đồ 3.2: Đánh giá về tính cấp thiết của các biện pháp đề xuất 82 Biểu đồ 3.3 Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp đề xuất 86
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu Cách mạng khoa học công nghệ, thông tin và truyền thông, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ tạo ra nhiều cơ hội to lớn, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự nghiệp phát triển Giáo dục và Đào tạo Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" Muốn giáo dục
và đào tạo thực hiện tốt sức mệnh của mình, bên cạnh việc đổi mới toàn diêṇ tất cả các khâu từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách thì một trong những vấn đề quan trọng cần phải thực hiện chính là đổi mới trong cách quản lí, đổi mới trong từng suy nghĩ của người cán bộ quản lí ngay cả trong việc thực hiện các hình thức dạy học nào cho phù hợp
Do ảnh hưởng của dịch COVID-19, trong năm học 2021 - 2022, hơn 20 triệu học sinh, sinh viên và gần 2 triệu nhà giáo các cấp học ở Việt Nam chưa thể tiếp tục dạy học và học theo phương thức dạy học trực tiếp Nhiều cơ sở giáo dục và đào tạo phải đóng cửa kéo dài hoặc chuyển sang dạy học trực tuyến trong điều kiện thiếu sự chuẩn bị và bị động về năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và cơ sở vật chất,
hạ tầng kỹ thuật Tình trạng này bị gián đoạn và kéo dài qua bốn đợt bùng phát dịch COVID-19 đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo đảm chương trình, phương pháp,
kế hoạch tổ chức dạy và học, hoạt động của trường, lớp và đến sự phát triển của trẻ
em, học sinh, sinh viên cả nước
Trước tình hình đó, ngày 30/03/2021 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông
tư số 09/2021/TT-BGDĐT quy định về quản lý và tổ chức dạy học trực tuyến trong
cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên nhằm mục đích truyền tải kiến thức đến học sinh, sinh viên một cách linh hoạt, giúp cho người học theo được mạch bài giảng đạt được mục tiêu của bài học và môn học Dạy học theo hình thức trực tuyến đã, đang và sẽ trở thành xu hướng được tăng cường, củng cố và dần trở
Trang 14thành một xu thế tất yếu, nhiệm vụ chính trong các nhiệm vụ triển khai năm học để thích ứng với tình hình mới
Trên thế giới, việc dạy và học theo hình thức trực tuyến là một hình thức đã hình thành và phát triển từ lâu chứ không phải từ khi đại dịch bùng phát và cũng đã đạt được nhiều kết quả tích cực
Chúng ta đang thực hiện đổi mới giáo dục, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 2018 theo Thông tư số 32 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việc thực hiện đổi mới
có được thực hiện tốt hay không trong tình hình hiện tại thì việc dạy học theo hình thức trực tuyến là một nhân tố hết sức quan trọng nhằm thực thi các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong việc đổi mới chương trình
Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nhằm đảm bảo tiến độ, kế hoạch đào tạo nhưng vẫn đảm bảo an toàn phòng chống dịch bệnh, giáo dục nghề nghiệp đã và đang triển khai chuyển đổi số mạnh mẽ; tiếp cận và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý, quản trị, trong hoạt động dạy và học trực tuyến
Cán bộ quản lí tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã chủ động đổi mới phương pháp quản lí theo hướng tích cực, hiện đại, đẩy mạnh chuyển đổi từ hình thức quản lí dạy học truyền thống sang quản lí thông qua nền tảng công nghệ số hóa, khuyến khích nhà giáo đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực dạy học trực tuyến Xây dựng và quản lí hệ thống dữ diệu để áp dụng trong giảng dạy
và đào tạo, kết nối các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các doanh nghiệp trong và ngoài nước tạo điều kiện cho sinh viên đến thực tập và tăng cơ hội việc làm Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc quản lí dạy và học theo hình thức trực tuyến vẫn còn tồn tại những hạn chế, làm ảnh hưởng đến chất lượng hiệu quả giáo dục như: không chủ động về đường truyền, phụ thuộc vào tính kỷ luật, chủ động của người học, trình độ
về khoa học công nghệ của giáo viên, quản lí không gian học tập và tạo sự ấn tượng cho người học, quản lí việc tương tác giữa giáo viên với người học bị hạn chế,
Để khắc phục những tồn tại nêu trên, cần thiết phải có những biện pháp quản
lí cụ thể nhằm đẩy mạnh hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyếnp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, nâng cao hiệu quả công tác quản lí và chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp Hiện nay chưa có công trình khoa học nào công
Trang 15bố kết quả nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở các
cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lí hoạt động dạy học theo hình
thức trực tuyến ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh” là
có tính thời sự, cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh, luận văn đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
4 Giả thuyết nghiên cứu
Trong những năm qua, quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh đã được quan tâm và đạt
được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay thì còn bộc lộ những bất cập
Nếu khái quát, hệ thống hóa được đầy đủ lí luận về quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và khảo sát, đánh giá được thực trạng quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản
lí hoạt động dạy học qua mạng ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh có tính cấp thiết vả khả thi cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 165.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động tổ chức dạy học theo hình thức trực tuyến ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến
ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh và khảo sát tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp đề xuất
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Về đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu hoạt động quản lí hoạt dạy học theo hình thức trực tuyến của chủ thể quản lí là hiệu trưởng/giám đốc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
6.2 Về mẫu và khách thể khảo sát: khảo sát CBQL, giáo viên ở 9 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (gồm 3 trung tâm giáo dục nghề nghiệp, 3 trường trung cấp, 3 trường cao đẳng) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
6.3 Về thời gian: Các số liệu thống kê phục vụ khảo sát được thu thập trong 3 năm học: 2019 – 2020; 2020 – 2021; 2021 – 2022
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Mục đích: Xây dựng cơ sở lí luận cho vấn đề nghiên cứu
- Cách thức thực hiện: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại,
hệ thống hóa các tài liệu, các văn bản pháp quy, các công trình nghiên cứu liên quan
để tổng quan nghiên cứu vấn đề, xây dựng khung lí luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
- Mục đích: Nhận biết đối tượng nghiên cứu một cách có hệ thống để thu thập thông tin cần thiết, đồng thời kiểm chứng các thông tin, giả thuyết đã có trước đó
- Cách thực hiện: Chọn mẫu quan sát (quan sát hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến tại 3 cơ sở giáo dục nghề nghiệp); Xây dựng nội dung quan sát (quan sát hoạt động và quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến tại 3 cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh); Thực hiện quan sát (có ghi chép biên
Trang 17bản khảo sát); Xử lí kết quả quan sát (nắm được thông tin về đối tượng nghiên cứu, kiểm chứng các thông tin, giả thuyết, trên cơ sở này sẽ tiến hành các bước nghiên cứu tiếp theo)
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: Thu thập thông tin để phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh và đánh giá tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất
- Cách thực hiện: Chọn mẫu, khách thể khảo sát; xây dựng công cụ khảo sát (bảng hỏi, thang đo, thang đánh giá); Thực hiện khảo sát; Xử lí và đánh giá kết quả khảo sát
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Mục đích: Thu thập các thông tin để hỗ trợ việc phân tích, đánh giá thực trạng thông quan các sản phẩm hoạt động của các cấp quản lí
- Cách thực hiện: Nghiên cứu các quy định, quy chế, văn bản quản lí, báo cáo tổng kết, … để tỉm hiểu hoạt động quản lí của các nhà quản lí
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu, kết quả nghiên cứu thu thập được trong quá trình nghiên cứu
8 Đóng góp mới của luận văn
8.1 Về lí luận
Hệ thống hóa lí luận về quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở
cơ sở giáo dục nghề nghiệp; hình thành khung lí thuyết về quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Trang 18Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực
tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO HÌNH THỨC TRỰC TUYẾN Ở CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Sự phát triển ngày càng văn minh của con người, đi cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ đã góp phần rất lớn trong sự nghiệp giáo dục Dạy học vốn xưa nay được xem là một hình thức giáo dục truyền thống Khi nói đến hình thức dạy học truyền thống, chúng ta thường hình dung có một lớp học được cố định ở một chỗ,
có học sinh ngồi trong lớp và có giáo viên đứng giảng bài Tuy nhiên, trong kỷ nguyên nền kinh tế tri thức nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ con người
có thể tiếp cận một hình thức dạy học khác nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng
đa dạng, người học có nhu cầu học tập ở mọi nơi, mọi lúc Đó chính là hình thức dạy học từ xa Với hình thức này, người học và người dạy không nhất thiết phải có mặt trên lớp học nhưng vẫn chủ động truyền đạt kinh nghiệm lịch sử cho nhau được Từ những yêu cầu mới này của người học mà hình thức dạy học từ xa đã ra đời.Hình thức DHTT được hình thành với sự tham gia hỗ trợ của các công nghệ như công nghệ
in ấn, công nghệ phát thanh, điện tín v.v tới truyền thông đa phương tiện và liên lạc điện tử vào những năm 90 của thế kỷ XIX Sự phát triển của một mạng lưới Tivi được phủ sóng trên phạm vi rộng trở nên phù hợp với mô hình lớp học chỉ với một giáo viên tại chỗ và người học ở nhiều địa điểm khác nhau Trở ngại của phương thức dạy học này là người học phải sẵn sàng học vào giờ phát sóng Tiếp đó là mạng Internet
và công nghệ Web và ngày nay là hệ thống học tập điện tử và các công nghệ DHTT đang khẳng định vị trí trong môi trường học tập DHTX thực tế đã bắt đầu với sự xuất hiện của “Trung tâm học tập với sự trợ giúp của máy tính” vào năm 1982 ở Rindge, New Hampshire, Mỹ - trường học trực tuyến đầu tiên của quốc gia ở Tây bán cầu này Từ 1994 - 1995, khi Internet đã trở nên phổ biến chỉ từ một mô hình nhỏ ban đầu của các nhà cung cấp Internet nội bộ, nhờ đó giáo dục trực tuyến đã thực sự bùng nổ Các lợi ích của giáo dục trực tuyến ngày càng trở nên rõ ràng hơn Chính sự phát triển
Trang 20của công nghệ E-Learning, khả năng tổ chức một lớp học ảo và một môi trường học tập ảo đã dần phá vỡ tồn tại của những quan niệm trước đây chưa thực sự coi trọng DHTX khi chuyển từ hình thức giáo dục truyền thống sang E-Learning với sự trợ giúp của máy tính, hệ thống công nghệ thông tin và truyền thông Hiện nay, một chương trình đào tạo trực tuyến có cấp bằng có thể dễ dàng được tìm thấy từ các trường cao đẳng, các trường chuyên nghiệp Hơn nữa các cơ hội từ giáo dục trực tuyến tăng nhanh hàng ngày và bằng cấp trực tuyến đã được những người sử dụng lao động đón nhận một cách bình thường (Nguyễn Tiến Dũng, 2013)
Theo tác giả Natalie Aranda (2005), E-Learning là một thuật ngữ rất rộng Nó thường được sử dụng để mô tả môi trường dạy học có sử dụng máy tính Có rất nhiều công nghệ có thể sử dụng cho E-Learning Thuật ngữ DHTX được sử dụng để
mô tả một môi trường học tập mà địa điểm lớp học, môi trường dạy học thay đổi
so với lớp học truyền thống E-Learning bắt đầu xuất hiện vào khoảng thời gian máy tính được phát triển do nhu cầu thực hành cá nhân Trên thực tế, ý tưởng và thực hành
về DHTX xảy ra trước thời kỳ của máy tính khoảng 100 năm Ở Anh, vào năm 1840, các lớp học tốc ký đã được đề xuất bởi các khóa học tương tự qua thư tín Sự phát triển của dịch vụ bưu điện đã làm cho phương thức của DHTX này thông dụng ở giai đoạn đầu thế kỷ trước Phương thức này đã làm xuất hiện một số lượng lớn các chương trình giáo dục “thông qua thư tín” Máy tính làm cho DHTX dễ dàng hơn và tốt hơn Tivi, băng video, radio v.v tất cả đã góp phần thúc đẩy DHTX phát triển mạnh mẽ
Vào đầu những năm 1900, công nghệ truyền thông được cải thiện và giáo dục
từ xa đã lên sóng vô tuyến Năm 1919, các giáo sư tại Đại học Wisconsin thành lập một đài phát thanh nghiệp dư, trở thành đài phát thanh được cấp phép đầu tiên dành riêng cho việc phát sóng giáo dục Ngay sau đó, khả năng tiếp cận giáo dục đại học lại được mở rộng thông qua việc phát minh ra tivi; khai sinh ra cái được gọi là đào tạo từ xa Đại học Iowa bắt đầu thử nghiệm truyền hình cho mục đích giáo dục vào những năm 1930 Mãi cho đến những năm 1950, khi FCC bắt đầu xây dựng các kênh truyền hình cho mục đích giáo dục, các khóa học từ xa mới thu hút sự chú ý của công chúng Giá trị của truyền hình đối với giáo dục càng được nâng cao khi Tổng công ty
Trang 21Phát thanh Truyền hình Công cộng (CPB) được thành lập vào năm 1967 Sứ mệnh của CPB là "khuyến khích sự tăng trưởng và phát triển của phát thanh và truyền hình công cộng, bao gồm cả việc sử dụng các phương tiện này để giảng dạy, mục đích giáo dục và văn hóa " (Kentnor, H, 2015)
Theo tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy học trực tuyến xuất hiện vào năm 1982 khi Viện Khoa học Hành vi Phương Tây ở La Jolla, California mở Trường Quản lí và Nghiên cứu Chiến lược Trường đã sử dụng máy tính hội nghị để cung cấp một chương trình đào tạo từ xa cho các giám đốc điều hành doanh nghiệp Năm 1989, Đại học Phoenix bắt đầu cung cấp các chương trình giáo dục thông qua internet Năm
1993 với sự ra mắt của trình duyệt web Internet đầu tiên, được tạo ra bởi Đại học Illinois, việc học trực tuyến bắt đầu phát triển mạnh mẽ Năm 1998, các chương trình trực tuyến hoàn toàn đầu tiên được thành lập: Đại học Trực tuyến New York, Đại học Thống đốc Western, Đại học Ảo California và Đại học Quốc tế Trident
Chương trình Lãnh đạo Công nghệ Giáo dục được thông qua Trường Cao học Giáo dục và Phát triển con người tại Đại học George Washington, cấp bằng Thạc sĩ bắt đầu từ năm 1992 Chương trình do Tiến sĩ William Lynch phát triển, ban đầu cung cấp nội dung khóa học liên quan đến Đại học Mind Extension của Jones Intercable (ME/U) Các lớp học được phát qua vệ tinh vào ban đêm, và học sinh giao tiếp thông qua hệ thống Bảng tin Nhóm học viên đầu tiên của họ tốt nghiệp vào tháng 5 năm
1994 Đến đầu năm 1996, Bill Robie đã chuyển đổi Chương trình ETL sang Internet, nơi chương trình cấp bằng sau đại học được cung cấp hoàn toàn trực tuyến Ông đã tập hợp một bộ công cụ dựa trên web và các trang HTML cho phép giao tiếp không đồng bộ giữa sinh viên và giảng viên, phân phối bài giảng, hộp thả bài tập và các tính năng khác mà từ đó đã trở thành bộ công cụ cốt lõi cho hệ thống quản lí khóa học
Năm 2000 chỉ có 8% sinh viên đăng ký tham gia một khóa học trực tuyến, nhưng đến năm 2008, số sinh viên đăng ký đã tăng lên 20% (Radford, A.W, 2011) Việc mở rộng giáo dục trực tuyến cũng không bị chậm lại; vào mùa thu năm 2013, gần 30% tổng số học sinh sau trung học đã đăng ký tham gia một số loại hình đào tạo
từ xa (National Center for Education Statistics, 2016) Mặc dù dữ liệu về quá trình hoàn thành khóa học trực tuyến và chương trình rất phức tạp, các nhà nghiên cứu đã
Trang 22ghi nhận tỷ lệ hao mòn cao (dao động từ 20% -50%) ở những sinh viên đăng ký các khóa học trực tuyến so với những người tham gia các khóa học trực tiếp truyền thống (Jazzar, M, December 7, 2012)
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, đến nay ĐTTT đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại ĐTTT mang nhiều ưu điểm, lợi ích vượt trội trong hoạt động giảng dạy bởi nó giúp người dạy và người học đạt được những kỹ năng cần thiết cho công việc ở thế kỷ XXI Vì vậy, nhiều học giả và các tổ chức đã quan tâm nghiên cứu cũng như tiến hành triển khai ĐTTT trên các giác độ, phạm vi khác nhau Như, (Belawati, T and Baggaley, 2010) đã nêu ra nguyên lý “giáo dục phải được mở cho tất cả mọi người”, nhấn mạnh sự linh hoạt và mềm dẻo của hệ thống giáo dục - đào tạo trực tuyến, giảm thiểu các rào cản xuất phát từ tuổi tác, vị trí địa lý, thời gian và tình trạng tài chính (Resta, P and Patru, M (Eds), 2010) cho rằng ĐTTT là hình thức học tập bằng truyền thông qua mạng Internet theo cách tương tác với nội dung học tập và được thiết kế dựa trên nền tảng phương pháp dạy học (Horton, W, 2006) xác định, xét một cách đơn giản, ĐTTT là việc sử dụng các CNTT và máy tính nhằm tạo ra các trải nghiệm học tập (Karl, K, 2001) cho rằng ĐTTT là việc giảng dạy trong môi trường học tập mà người dạy và người học có sự cách biệt về thời gian hay không gian, hoặc cả hai Người dạy cung cấp nội dung khóa học thông qua các ứng dụng quản lí học tập (LMS, LCMS), các nguồn tài nguyên đa phương tiện, mạng Internet, hội thảo trực tuyến…, còn người học nhận nội dung khóa học và tương tác với người dạy thông qua cùng các phương tiện kỹ thuật đó Theo (Elliott, K.M and Healy, M.A, 2001), ĐTTT là “việc áp dụng công nghệ để tạo ra, cung cấp, chọn lựa, quản trị, hỗ trợ và mở rộng cách học truyền thống” Việc phát triển của Internet, cùng với khả năng giúp người học tiếp cận liên tục các khóa đào tạo một cách hiệu quả và tiết kiệm, đã tạo nên một thời kỳ mới cho việc dạy và học đạt đến những tầm cao mới
mà chưa có công nghệ nào có thể sánh được
Cùng với sự phát triển không ngừng của CNTT, ĐTTT đã được triển khai tại nhiều trường đại học trên thế giới, các tiêu chuẩn công nghệ mới được áp dụng nhằm tiếp cận với những cơ hội giáo dục và đào tạo mới Theo tổng kết của (Taylor, J, 2001), các hoạt động ĐTTT đã trải qua 5 thế hệ công nghệ, đó là: (i) Mô
Trang 23hình học hàm thụ: Mô hình này tương tác dựa trên công nghệ in ấn, tài liệu được gửi đến sinh viên qua đường bưu điện, tương tác giữa người dạy và sinh viên gặp rào cản
về thời gian, vị trí địa lý và tốc độ học tập (ii) Mô hình tương tác đa phương tiện dựa trên công nghệ in ấn, âm thanh và video Mô hình này làm giàu thêm kinh nghiệm học tập cho người học, nhưng sự tương tác giữa người học và người dạy vẫn phụ thuộc vào thư từ và điện thoại (iii) Mô hình tương tác qua CNTT dựa trên các ứng dụng của công nghệ viễn thông để đào tạo Mô hình này bị hạn chế về thời gian, địa điểm và tốc độ đường truyền thông tin (iv) Mô hình học tập linh hoạt dựa trên giao diện Website trực tuyến qua Internet và Website toàn cầu (www), với một loạt các giải pháp tạo thuận lợi cho sự tương tác giữa người dạy – người học, người học – người học thông qua email, diễn đàn trao đổi và các phương tiện truyền thông đa phương tiện (v) Mô hình học tập linh hoạt thông minh, thừa hưởng tất cả các giải pháp của mô hình thế hệ thứ tư và bổ sung giải pháp tương tác truyền thông đa phương tiện hai chiều và hệ thống trả lời tự động, áp dụng phương thức học tập với nguồn lực được chia sẻ trên toàn cầu Với mô hình này, ĐTTT trở nên hoàn thiện hơn với chi phí tối thiểu, không bị hạn chế về điều kiện kinh tế, mang lại hiệu quả cao
Sự phát triển của công nghệ và Internet không chỉ có tiềm năng thay đổi cách thức tiếp cận tri thức mà còn làm chuyển đổi và tái cơ cấu các mô hình giáo dục đại học truyền thống (Karon, R, 2000) cho rằng ĐTTT có khả năng tiếp cận các khóa học dễ dàng hơn, chúng có sẵn thông qua Internet nên phù hợp hơn so với cách học truyền thống Trong khi đó, (Urdan, T and Weggen, C, 2000) gợi ý rằng ĐTTT có thể dẫn đến tỉ lệ duy trì cao hơn do các tài liệu được cá nhân hóa và phản ánh các kiểu học khác nhau Các nhà giáo dục truyền thống có xu hướng bỏ qua ĐTTT, xem nó như là một công cụ đào tạo, không phản ánh môi trường học tập của một lớp học truyền thống khuyến khích sự tranh luận, thảo luận và học tập tương tác Tuy nhiên,
sự phát triển của các công cụ học tập trực tuyến đang tạo cơ hội cho các yếu tố này xuất hiện và ĐTTT đang phát triển thành một lớp học ảo… (Trần Thị Lan Thu, 2019)
Vào năm 2020, đại dịch covid-19 toàn cầu đã khiến nhiều trường đại học và trung học vội vàng chuyển sang học trực tuyến thay vì tổ chức lớp học trực tiếp
Trang 241.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Dạy học trực tuyến ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện rõ nét cách đây gần 30 năm Tiền thân của nó là đào tạo từ xa được Đài tiếng nói Việt Nam thực hiện qua các chương trình phát thanh dạy tiếng Việt, tiếng nước ngoài v.v Hình thức dạy học này mới nghe chỉ là chương trình của đài phát thanh, nhưng nhìn nhận dưới góc độ giáo dục và đào tạo thì đây là hình thức dạy học mới được thực hiện trên môi trường công nghệ truyền thông Vô hình chung nó trở thành một hình thức dạy học đã giúp hàng triệu người dân Việt Nam nâng cao dân trí
Theo (Nguyễn Tiến Dũng, 2013), thuật ngữ “Giáo dục từ xa” được biết đến từ những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX dưới những khoá học hàm thụ (vừa học vừa thực hành) theo hình thức gửi thư của Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội Tuy nhiên hình thức học này gặp phải giai đoạn nước ta còn rất khó khăn về kinh tế do chiến tranh nên không được tiếp tục phát triển Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về giáo dục từ xa không được thực hiện liên tục và kết quả học tập bằng hình thức này còn chưa được xã hội coi trọng, vì vậy hình thức giáo dục, đào tạo này đã
bị bỏ ngỏ một thời gian rất dài
Thuật ngữ “Đào tạo từ xa” được biết đến trong công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước ta từ những năm 90 của thế kỷ trước Thuật ngữ này được văn bản hoá trên các quyết định của Chính phủ về việc thành lập cơ sở đào tạo
có chức năng đào tạo từ xa Cụ thể: ngày 26/7/1993, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 389/QĐ-TTg về việc thành lập Đại học mở bán công thành phố Hồ Chí Minh trong đó tại điều 2 có nêu “Đại học mở bán công thành phố Hồ Chí Minh là cơ sở đào tạo đại học có các loại hình đào tạo từ xa, đào tạo tại chỗ, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, góp phần tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật cho đất nước” Tiếp theo ngày 03/11/1993, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 535/QĐ-TTg về việc thành lập Viện Đại học mở Hà Nội trong đó tại điều 2 có nêu
“Viện Đại học mở Hà Nội là cơ sở đào tạo đại học và nghiên cứu với các loại hình đào tạo từ xa, đào tạo tại chỗ nhằm đáp ứng các nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, góp phần tăng cường tiềm lực cán bộ khoa học - kỹ thuật cho đất nước” Cùng với
Trang 25tốc độ phát triển nhanh chóng của CNTT&TT ở Việt Nam, hình thức dạy học qua truyền hình cũng đã phát triển rất mạnh mẽ Cụ thể là các chương trình dạy ôn thi đại học, học ngoại ngữ v.v trên kênh sóng VTV2 của Đài truyền hình Việt Nam Bên cạnh các cơ sở đào tạo và các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp cũng đã bắt đầu nghiên cứu và tiến hành thử nghiệm kinh doanh hoạt động DHTT thông qua sản xuất các băng hình, băng audio, CD-ROM Năm 2002 được ghi nhận là năm đầu tiên hoạt động thương mại DHTT là một hình thức đào tạo độc lập trong lĩnh vực đào tạo qua mạng Internet tại địa chỉ Webiste: www.truongthi.com.vn; năm 2008 là website http://topica.edu.vn
Cách đây khoảng 10 năm, nhiều cơ sở đào tạo đã xây dựng Website và cung cấp dịch vụ ĐTTX, DHTT qua mạng Internet để đào tạo cấp chứng chỉ, cấp văn bằng tốt nghiệp hoặc hỗ trợ đào tạo truyền thống Hiện nay, có rất nhiều website hay hỗ trợ việc học trực tuyến cho học sinh, sinh viên, người đi làm muốn học thêm kiến thức hay dựa trên những nền tảng công nghệ tốt nhất hiện nay như:
Ngày nay song song với hình thức dạy học truyền thống, DHTT đã và đang khẳng định vị trí trong hệ thống giáo dục bởi những ưu điểm vượt trội như tiết kiệm thời gian, chi phí đào tạo, người học không phải tập trung đến lớp nhưng vẫn có thể tham gia học Để có được ưu thế này, công nghệ Internet đóng vai trò vô cùng quan trọng Internet đang được phổ cập rộng rãi tới các trường học ở vùng sâu, vùng xa Mặt khác tốc độ truyền dữ liệu không ngừng tăng lên trên các công nghệ ADSL,
Trang 26LeasedLine, Wireless, WiMax, 3G, 4G, v.v đang góp phần đáng kể thúc đẩy sự phát triển của DHTT
Về mặt quản lí, có thể phân loại các cơ sở ĐTTT thành Hệ thống các cơ sở đào tạo chính quy có cấp bằng theo hệ thống giáo dục quốc dân và Hệ thống các cơ
sở đào tạo không chính quy Có nhiều cơ sở đào tạo không chính quy đã thành công với các mô hình đào tạo ngoại ngữ, luyện thi đại học, đào tạo bồi dưỡng kiến thức, v.v qua mạng Internet Cơ sở ĐTTT chính quy có cấp bằng theo hệ thống giáo dục quốc dân phải kể đến Trường Đại học Công nghệ thông tin – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Đây là trường đại học công lập chuyên ngành công nghệ thông tin được thành lập theo quyết định số 134/2006/QĐ-TTg ngày 08/06/2006 của Thủ tướng Chính phủ Hiện nay, nhà trường đang tổ chức ĐTTT và cấp bằng theo quy định của Bộ GD&ĐT đối với hệ cử nhân chuyên ngành công nghệ thông tin Ngoài ra, Viện Công nghệ thông tin – Đại học Quốc gia Hà Nội cũng là một đơn vị triển khai và ứng dụng E- Learning khá hiệu quả thông qua hệ thống sát hạch trực tuyến (CmTest)
Về ứng dụng công nghệ trong DHTT, nhiều hệ thống DHTT được triển khai trên nền mã nguồn mở Moodle là một trong nhiều phần mềm mã nguồn mở được đưa vào Việt Nam năm 2005 bởi Cộng đồng Moodle Việt Nam với mục đích hỗ trợ các cơ sở đào tạo triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến Moodle là một trong các hệ thống quản lí học tập thông dụng nhất tại Việt Nam bởi đây là phần mềm miễn phí giúp người sử dụng giải quyết các khó khăn về cài đặt, kinh phí
Có thể nói dạy học qua mạng thông tin, truyền thông đã dần không còn xa lạ trong hệ thống giáo dục Việt Nam Tuy nhiên, DHTT là hình thức đào tạo mới được đưa vào và phát triển tại các cơ sở đào tạo trong vài năm trở lại đây Đặc biệt, công tác quản lí hoạt động DHTT hoặc ĐTTT còn nhiều vướng mắc, chưa có chế tài cụ thể phù hợp với thực tiễn, còn khá nhiều hạn chế
Nhấn mạnh ĐTTT là một trong những giải pháp ứng dụng CNTT trong giáo dục, (Nguyễn Văn Linh, Phan Phương Lan, Trần Minh Tân, Phan Huy Cường, Võ Huỳnh Trâm và Trần Ngân Bình, 2013) chỉ ra, để xây dựng thành công một hệ thống ĐTTT chuẩn mực, bao gồm hệ thống quản lí đào tạo và các nội dung số phục vụ công
Trang 27tác đào tạo theo học chế tín chí, các nhà quản lí giáo dục cần phải: Chọn giải pháp xây dựng một hệ thống ĐTTT phù hợp; nghiên cứu lựa chọn chuẩn và hệ quản lí đào tạo nền cho ĐTTT; xây dựng một số công cụ hỗ trợ, đặc biệt là các công cụ tích hợp vào hệ nền cho ĐTTT; đề xuất cấu trúc bài giảng điện tử và ma trận kiến thức đáp ứng yêu cầu; triển khai hệ thống trong thực tiễn Với những lợi ích thiết thực mà hệ thống ĐTTT mang lại, các tác giả khuyến nghị, ngoài việc mở các lớp ĐTTT ở dạng đại học hoặc liên thông, các cơ sở đào tạo có thể sử dụng ĐTTT trong tập huấn ngắn hạn, hỗ trợ đào tạo cho giáo dục phổ thông và sau đại học
Từ kinh nghiệm triển khai phương thức ĐTTT tại Trường Đại học Cần Thơ, với việc áp dụng hệ thống quản lí học tập Dokeos (gồm các chức năng: tạo tài liệu học tập, tương tác, wiki và quản trị), (Thạch Thị Tuyến, 2015) đề xuất một số giải pháp quản lí hoạt động ĐTTT: (i) Nghiên cứu thêm về phần mềm mã nguồn mở Moodle để hướng tới chuyển sang Moodle, khắc phục những hạn chế của phần mềm Dokeos; (ii) Lãnh đạo nhà trường phải có quy định chính sách rõ ràng về bản quyền học liệu; (iii) Tổ chức tập huấn thường xuyên cho cán bộ giảng dạy có nhu cầu ứng dụng ĐTTT vào công tác giảng dạy cũng như đội ngũ cán bộ thư viện vì đó
là những người trực tiếp tư vấn kỹ năng tìm kiếm thông tin và xử lý thông tin cho bạn đọc; (iv) Cấu trúc lại cây thư mục để người dùng dễ dàng tiếp cận; (v) Nâng cấp đường truyền tốc độ cao để lượng truy cập cùng một thời điểm sẽ nhanh hơn; (vi) Hỗ trợ chế độ phù hợp để khuyến khích giảng viên soạn bài giảng ĐTTT; (vii) Giảng viên nên kết hợp sử dụng ĐTTT và các phương pháp giảng dạy truyền thống
để người dạy và người học có thể giao tiếp, thảo luận, trao đổi và giải quyết một số vấn đề nhằm mục đích rèn luyện kĩ năng giao tiếp xã hội (Trần Thị Lan Thu, 2019)
(Bùi Kiên Trung, 2016) tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ đào tạo với sự hài lòng và mức độ trung thành của sinh viên trong đào tạo từ
xa ĐTTT Nghiên cứu đã chứng minh sự hài lòng của sinh viên là nền tảng hình thành lòng trung thành của sinh viên trong môi trường ĐTTT, từ đó đưa ra khuyến nghị về quản lí ĐTTT: (i) Đối với các cơ quan quản lí nhà nước: Đẩy mạnh cải cách toàn diện nền giáo dục Việt Nam, tạo sân chơi bình đẳng cho các trường đại học, các cơ sở giáo dục có đủ điều kiện và năng lực tham gia phương thức ĐTTT; Quy hoạch nguồn lực
Trang 28theo từng giai đoạn phát triển cụ thể của đất nước, trên cơ sở đó các tổ chức giáo dục ĐTTT sẽ xây dựng kế hoạch đào tạo phu hợp, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho từng địa phương cụ thể; Có chính sách không phân biệt đối xử với cùng hệ đào tạo khi triển khai theo các hình thức đào tạo khác nhau; Có chính sách, dự án ưu tiên đầu tư phát triển loại hình ĐTTT; (ii) Đối với các đơn vị tổ chức ĐTTT: Định hình cơ cấu tổ chức phù hợp; Phát triển chương trình ĐTTT theo hướng mở rộng; Nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ đào tạo trong ĐTTT; Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu ĐTTT theo tính chất đặc thu của loại hình đào tạo; Phát triển hệ thống CNTT trực tuyến; Phát triển công tác học sinh, sinh viên trong ĐTTT; Triển khai công tác đảm bảo chất lượng, truyền thông để khẳng định vị thế ĐTTT trong hệ thống đào tạo quốc dân; Nâng cao hiệu quả quản lí tài chính Nghiên cứu đã cung cấp cho nhà quản lí nhận thức đúng đắn về chất lượng đào tạo trực tuyến
và sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo trực tuyến để từ đó thấy được vai trò và sự cần thiết của công tác quản lí đào tạo trực tuyến để có các giải pháp quản
lý chất lượng nhằm cung cấp các khoá học E-learning đáp ứng cho ngày càng đông đảo người học
(Trần Thị Lan Thu và cộng sự, 2016) tiến hành nghiên cứu đánh giá chất lượng đào tạo từ xa theo phương thức trực tuyến của Trường Đại học Mở Hà Nội, trong đó chỉ ra vai trò quan trọng của công tác đánh giá chất lượng ĐTTT trong nhà trường, đồng thời cho thấy vai trò của công tác đảm bảo chất lượng nhằm thực hiện đào tạo theo hướng mở rộng quy mô, đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội Dựa trên các bộ tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng của Hiệp hội Các trường đại học Mở châu Á, một số trường đại học trực tuyến trong khu vực và trên thế giới, các tác giả
đã nghiên cứu cơ sở lý luận và xây dựng bộ tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng đào tạo đại học hệ từ xa trực tuyến áp dụng cho Trường Đại học Mở Hà Nội Nghiên cứu đã đặt ra yêu cầu mới đối với nhà quản lí giáo dục trong việc đặt ra các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng cho loại hình đào tạo từ xa trực tuyến Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ cung cấp một phần nội dung trong quản lí ĐTTT
Như vậy, từ tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới về quản lí DHTT hay ĐTTT, có thể đi đến một số nhận xét chính sau:
Trang 29Một là, những thay đổi trong môi trường kinh tế - xã hội cũng như những tiến
bộ trong CNTT đã thúc đẩy các trường đại học đầu tư ngày càng mạnh vào
hệ thống ĐTTT cũng như thay đổi chiến lược truyền thống sang chiến lược ĐTTT Tuy nhiên, sự thành công của một hệ thống ĐTTT phụ thuộc rất lớn vào vai trò quản
lí cũng như nhiều yếu tố khác như cá nhân, xã hội, văn hóa, công nghệ, tổ chức và môi trường…
Hai là, đi vào nghiên cứu cụ thể, các công trình nước ngoài nhấn mạnh vào
yếu tố chiến lược trong quản lí ĐTTT, liên quan tới tầm nhìn và sứ mệnh, các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của tổ chức, yếu tố giảng viên và người học… Đặc biệt, hoạt động quản lí ĐTTT phải đối mặt với nhiều thách thức như mức độ hài lòng của người học, vấn đề đảm bảo chất lượng, vấn đề quản lí học liệu phục vụ ĐTTT Do đó, lãnh đạo nhà trường cần đưa ra một cái nhìn dài hạn tập trung vào các vấn đề như duy trì chiến lược ĐTTT; Đào tạo và hỗ trợ về chính sách và kỹ năng liên quan đến CNTT và truyền thông; Chi phí và công nghệ; Khả năng truy cập; Quy
mô lớp học; Đánh giá chương trình giảng dạy; Các vấn đề cơ sở hạ tầng và kỹ thuật; Động lực giảng viên nhằm đảm bảo hoạt động ĐTTT hiệu quả
Ba là, xuất phát muộn hơn so với thế giới, các trường đại học ở Việt Nam đã
bước đầu phát triển ĐTTT và ứng dụng một số phần mềm thông dụng của ĐTTT trong các khóa học và dự án Mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai và quản lí hoạt động ĐTTT song với sự chỉ đạo và quán triệt định hướng về quản
lí ĐTTT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học đã nghiên cứu ứng dụng phương thức ĐTTT vào hoạt động đào tạo của nhà trường với nhiều giải pháp về quản lí ở tầm vĩ mô và vi mô, tập trung vào các vấn đề về nhận thức của lãnh đạo, năng lực giảng viên, đầu tư công nghệ, quản lí sự thay đổi, đổi mới cơ chế chính sách
và hoạt động đào tạo
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp
1.2.1.1 Cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Trang 30Theo Điều 5 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm: (1) Trung tâm giáo dục nghề nghiệp; (2) Trường trung cấp; (3) Trường cao đẳng
Cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tổ chức theo các loại hình sau đây:
a) Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất;
b) Cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc
cá nhân, do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất;
c) Cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm cơ sở giáo dục nghề nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; cơ sở giáo dục nghề nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài
1.2.1.2 Dạy học theo hình thức trực tuyến
E-learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới Hiểu theo nghĩa rộng, E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin
Lợi ích của việc sử dụng công nghệ thông tin trong học tập
Trang 31Hình 1.1: Lợi ích của việc sử dụng công nghệ thông tin trong học tập (nguồn
Hình 1.2: Mô hình hệ thống dạy học trực tuyến e-learning (nguồn VVOB, 2010) Tóm lại dạy học trực tuyến (E-learning) là hình thức giảng dạy và học tập ở các lớp học trên Internet Người dạy và người học sẽ sử dụng phần mềm nền tảng học trực tuyến, ứng dụng truyền âm thanh, hình ảnh và các thiết bị thông minh (laptop, smartphone, máy tính bảng, )
Các bài giảng, tài liệu (dưới dạng văn bản, hình ảnh, video…) được đưa lên các nền tảng và người dùng có thể dễ dàng truy cập và học mọi lúc mọi nơi Bên cạnh
đó còn có các khóa học cùng thời gian thực có sự tham gia và tương tác giữa giáo viên và học viên
1.2.1.3 Hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến
Trang 32Cũng như khái niệm từ dạy học trực tuyến, cũng như một số khái niệm về ĐTTT của nhiều nguồn tham khảo như UNESCO xác định ĐTTT là quá trình học tập sử dụng các phương tiện điện tử, CNTT và truyền thông Đào tạo trực tuyến cho phép mọi người có thể học ở mọi lúc, mọi nơi, xóa bỏ những giới hạn về thời gian và không gian để cho mọi người có cơ hội học tập và học tập theo nhu cầu của mình (UNESCO, 2002) Theo tác giả Tony Bates, tất cả các hoạt động trên máy tính và Internet hỗ trợ giảng dạy và học tập - cả trong trường và ở xa, bao gồm cả việc sử dụng các CNTT và truyền thông về hành chính cũng như khoa học để hỗ trợ học tập, như phần mềm liên kết giữa cơ sở dữ liệu của sinh viên và việc giảng dạy, ví dụ như danh sách lớp học, địa chỉ e-mail, v.v Ngoài ra, ĐTTT có các hình thức khác nhau,
từ trợ giúp lớp học đến học tập trực tuyến hoàn toàn
Có thể nói rằng, những khái niềm về dạy học trực tuyến hay đào tạo trực tuyến
từ nhiều nguồn website hay các tác giả khác nhau Nhưng nhìn chung đều có những quan điểm chung xoay quanh việc dạy và học tập dựa trên CNTT cùng với mối liên
hệ giữa người dạy, người học thông qua các hoạt động dạy và học, nội dung, phương pháp
Trong luận văn này, tác giả xác định khái niệm về hoạt động dạy học trực tuyến là hoạt động dạy và học sử dụng các phương tiện điện tử, CNTT và truyền thông nhằm thực hiện truyền đạt, chia sẻ kiến thức giữa người dạy và người học, xóa
bỏ giới hạn về thời gian và không gian
1.2.1.4 Hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Hoạt động dạy học trực tuyến ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là hoạt động dạy và học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử (Laptop, máy tính để bàn, máy tính bảng, điện thoại thông minh…), ứng dụng CNTT và truyền thông nhằm thực hiện việc truyền đạt, chia sẻ kiến thức giữa giáo viên và học sinh theo kế hoạch cụ thể của nhà trường
Một số hệ thống tổ chức dạy học trực tuyến theo văn bản 2310/ GDTrH ngày 21 tháng 8 năm 2021 được Sở khuyến khích sử dụng, có kết nối với cơ
SGDĐT-sở dữ liệu ngành
Trang 331.2.2.1 Khái niệm quản lí
Quản lý là một khái niệm đã được rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học đưa ra các định nghĩa khác nhau từ cách cách tiếp cận khác nhau Về mặt ngữ nghĩa của thuật ngữ “Quản lý”, đây là danh từ ghép của từ “quản” và từ “lý” Từ “quản” nghĩa
là cai quản, trông nom, coi sóc, giữ gìn Từ “lý” nghĩa là sửa sang, chỉnh sửa, làm cho tốt lên Có thể tiếp cận khái niệm “quản lý” từ các cách sau:
Theo tác giả (Bùi Đức Tú, 2018),“Quản lý” nghĩa là giữ ổn định để phát triển, trong ổn định tạo mầm mống cho sự phát triển và trong phát triển giữ được hạt nhân cho ổn định
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý là quá trình “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” (Nguyễn Quốc Chí & Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2010)
Frederick Winslow Taylor (1856-1915) – người được cho là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học với tác phẩm “The principles of scientific management” xuất bản năm 1911, cho rằng quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
Henry Fayol (1841-1925) cho rằng hoạt động quản lý gồm có 5 chức năng: Xây dựng kế hoạch, Tổ chức, Chỉ huy, Phối hợp và Kiểm tra Còn tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì phân chia quản lý có bốn chức năng cơ bản: Kế
Trang 34hoạch hóa (Planning), Tổ chức (Organizing), Chỉ đạo - Lãnh đạo (Leading) và Kiểm tra (Controlling) (Nguyễn Quốc Chí & Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2010)
Kế hoạch hóa (Planning): Là xác định mục tiêu, mục đích cho những hoạt động trong tương lai của tổ chức và xác định các biện pháp, cách thức để đạt được mục đích đó
Tổ chức (Organizing): Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu chung của tổ chức Người quản lý phải điều phối tốt các nguồn lực của tổ chức như nhân lực, tài chính, công nghệ v.v Chỉ đạo - Lãnh đạo (Leading): Sau khi cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được sắp xếp cho kế hoạch thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Đó
là quá trình liên kết với người khác, hướng dẫn và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức
Kiểm tra (Controlling): Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn khi cần thiết của người quản
lý Mỗi cấp quản lý (cấp cao, cấp trung và cấp thấp) có sự phân phối tầm hiểu biết, thời gian và công sức cho các chức năng quản trị khác nhau
Theo tác giả (Nguyễn Tiến Dũng, 2013), biểu đồ và tỷ lệ phân phối thời gian
và công sức cho các chức năng quản trị của các cấp quản lý như sau:
Bảng 1.1 Phân phối thời gian và công sức cho các chức năng quản trị của các cấp quản lý
Như vậy, quản lý là quá trình tác động có định hướng, có chọn lựa phù hợp với đối tượng và môi trường nhằm hướng đối tượng trong thế vừa ổn định, vừa phát triển theo mục tiêu đề ra Quản lý được thực hiện thông qua các hoạt động chức năng như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Trang 35Người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bổ nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động
có hiệu quả và đạt đến mục tiêu ổn định, thích ứng, tăng trưởng và phát triển thông qua hệ thống các quyền lực đảm bảo của người quản lý như quyền lực chuyên môn, quyền lực hình thức (chức vụ, địa vị) và quyền lực đạo đức (uy tín) Nhờ có quản lý
mà tổ chức đánh giá được các điểm mạnh, điểm yếu của mình và những tác động bên ngoài để có quyết sách ứng biến phù hợp nhất
1.2.2.2 Khái niệm quản lí hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Quản lý DHTT là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (gồm các cấp quản lý khác nhau từ Ban giám hiệu đến các Phòng, Khoa, Trung tâm đào tạo) lên các đối tượng quản lý (bao gồm giảng viên, sinh viên, cán bộ quản lý và cán bộ phục vụ đào tạo) để thực hiện các hoạt động đào tạo ứng dụng các trang thiết bị điện tử, phần mềm, mạng viễn thông Theo (Trần Thị Lan Thu, 2019), quản lý thông qua việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm giúp quá trình đào tạo được vận hành một cách hiệu quả, nâng cao chất lượng công tác dạy
và học trong giáo dục đào tạo Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý DHTT tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đó là: nhận thức của tổ chức về công tác DHTT; năng lực, trình
độ của đội ngũ quản lý DHTT; ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo; và cơ cấu tổ chức của đơn vị DHTT
1.3 Hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp 1.3.1 Vai trò của dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Dạy học trực tuyến ngày càng trở nên quan trọng và đang dần làm thay đổi mô hình học tập, cách thức tiếp cận tri thức của nhiều đối tượng tiềm năng như học sinh, sinh viên, viên chức nhà nước trong giai đoạn hiện nay Nó đang làm cho việc học tập trở nên thú vị hơn, hấp dẫn hơn và thuyết phục hơn Tầm quan trọng của DHTT
có thể được kể ra như:
1.3.1.1 Môi trường dạy học mọi lúc mọi nơi
DHTT cung cấp kiến thức rất linh hoạt về thời gian và địa điểm cho cả người học và người dạy Họ có thể tham gia QTDH vào bất kỳ thời điểm nào trong khung
Trang 36thời gian của khoá học và hoàn toàn chủ động sắp xếp thời gian học tập, giảng dạy của mình Người học và người dạy cũng chủ động lựa chọn địa điểm, sử dụng thiết
bị kỹ thuật được kết nối với hệ thống HTTT giống như người dùng truy cập mạng Internet, tạo cơ hội cho những người vì một lý do nào đó không thể theo học các lớp học truyền thống Người học có thể học tập bất kỳ khi nào và người dạy có thể theo dõi tiến trình học tập, trao đổi hỏi đáp của người học bất kỳ thời gian nào miễn là có máy tính kết nối hệ thống Do tính linh hoạt này, người học không phải đi những quãng đường dài để theo học tại những địa điểm nhất định, hay phải lên lớp đúng giờ Như vậy DHTT đã xóa nhòa các ranh giới địa lý, ràng buộc thời gian để mang giáo dục đến với mọi người
1.3.1.2 Môi trường dạy học đa phương tiện
Xét về mặt nội dung của hoạt động DHTT, bài giảng có thể bao gồm văn bản,
đồ hoạ, âm thanh, video và một số dạng tương tác khác Thông thường các bài giảng được biên soạn trên các công cụ phần mềm theo chuẩn SCORM sẽ được lồng ghép các kỹ sảo về âm thanh, hình ảnh v.v để làm bài học trở nên sinh động và lôi cuốn Đối với PPDH truyền thống, người dạy cũng chỉ vận dụng công cụ phần mềm thông dụng như Microsoft PowerPoint để hỗ trợ giảng dạy
Đối với phương pháp DHTT, tất cả các đa phương tiện trên có thể được tích hợp và mô phỏng đồng thời khi bài giảng được đóng gói và xuất bản Phương pháp này cho phép mô phỏng các tình huống thực tế trong đời sống, các bài tập thí nghiệm v.v thay vì phải ra thực địa để thí nghiệm trước khi có các hình ảnh minh hoạ Như vậy người học có thể truy cập tới rất nhiều nguồn tài nguyên ứng dụng đa phương tiện để phục vụ cho quá trình học tập
1.3.1.3 Người học chủ động học tập
Xưa nay, người học qua nhiều thế hệ vốn đã rất quen thuộc với PPDH giáp mặt, trong đó vai trò chủ động của người học còn rất lu mờ DHTT ra đời đã và đang khiến cho việc học tập thụ động bị lấn át Người học dần dần phải nâng cao trách nhiệm học tập, chủ động tìm tòi, khám phá tri thức Thứ nhất, người học chủ động nơi học và cách học Người học không nhất thiết phải đến tập trung trong các lớp học
để nghe thầy giảng theo kiểu đọc và chép, mà có thể ở tại nhà học và đơn giản hoá
Trang 37cách ghi chép để tập trung vào sự tương tác, học lý thuyết kết hợp với thực hành ảo Thứ hai, người học có thể sắp xếp, lựa chọn thời gian học tập Người học đồng thời vừa học, vừa làm, tranh thủ thời gian dỗi để nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp
vụ Thứ ba, người học chủ động kiểm soát lộ trình học tập của bản thân Người học
dễ dàng nắm được toàn bộ nội dung chương trình khoá học, các học phần cần phải hoàn thành, đã hoàn thành để có định hướng học tập tiếp theo
1.3.2 Mục tiêu hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Mục tiêu hỗ trợ hoặc thay thế dạy học trực tiếp tại các cơ sở GDNN, giúp các
cơ sở GDNN linh động trong tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục nhà trường và hoàn thành chương trình giáo dục, phù hợp với điều kiện thực tiễn tại cơ sở GDNN, góp phần nâng cao chất lượng dạy học của đơn vị
Việc tổ chức dạy học trực tuyến là phương án thay thế dạy học trực tiếp tại cơ
sở GDNN trong thời gian học sinh không thể đến trường để học tập vì lý do bất khả kháng, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành giáo dục, tăng cường sử dụng công nghệ thông tin, phương tiện thông tin và internet trong dạy và học, phát triển năng lực hướng dẫn tự học, tự đào tạo của giáo viên và khả năng tự học của học sinh Giáo dục trực tuyến còn nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho học sinh, tạo điều kiện để học sinh được học ở mọi nơi, mọi lúc
Để thực hiện tốt các mục tiêu đó, nội dung dạy học trực tuyến phải đáp ứng mức độ cần đạt hoặc yêu cầu cần đạt được của chương trình GDNN Hoạt động dạy học trực tuyến được thực hiện theo các chủ đề và được xây dựng trên cơ sở chương trình GDNN Chuyên đề dạy học trực tuyến phải đảm bảo sự tương tác giữa giáo viên với người học, người học với người học và giáo viên phải giám sát được toàn bộ quá trình học tập này
1.3.3 Nội dung hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Cụ thể hơn là công nghệ mạng,
kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán… tạo môi trường học tập linh hoạt về thời gian, không gian tổ chức
Trang 38DHTT bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống do DHTT có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người
HTTT sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức Hiện nay, DHTT đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực này
Đánh giá ưu điểm – khuyết điểm của phương pháp DHTT
1.3.3.1 Ưu điểm
a) Đối với nội dung học tập
Hỗ trợ các đối tượng học theo yêu cầu, cá nhân hóa việc học Nội dung học tập đã được phân chia thành các modul riêng biệt theo từng môn học Điều này tạo ra tính mềm dẻo cao hơn, giúp cho học viên có thể lựa chọn những môn học phù hợp với nhu cầu học tập của mình, sau đó sẽ tự tạo cho mình các kế hoạch học tập Nội dung môn học được cập nhật, phân phối dễ dàng, nhanh chóng Sự phát triển nhanh chóng của trình độ kỹ thuật công nghệ, các chương trình đào tạo cần được thay đổi, cập nhật thường xuyên để phù hợp với thông tin, kiến thức của từng giai đoạn phát triển Hiệu quả tiếp thu bài học của học viên được nâng lên vượt bậc vì học viên có thể học với những giáo viên tốt nhất, tài liệu mới nhất …
b) Đối với học viên
Hệ thống DHTT hỗ trợ học theo khả năng cá nhân, theo thời gian biểu tự lập nên học viên có thể chọn phương pháp học thích hợp cho riêng mình Học viên có thể chủ động thay đổi tốc độ học cho phù hợp với bản thân, giảm căng thẳng và tăng hiệu quả học tập Bên cạnh đó, khả năng tương tác, trao đổi với nhiều người khác cũng giúp việc học tập có hiệu quả hơn
c) Đối với giáo viên
DHTT cho phép dữ liệu được tự động lưu lại trên máy chủ Giảng viên có thể đánh giá các học viên thông qua cách trả lời các câu hỏi kiểm tra và thời gian trả lời những câu hỏi đó
Trang 39Giảng viên chỉ cần xây dựng nội dung bài giảng một lần và có thể sử dụng trong nhiều năm Thời gian lên lớp giảm tối đa , trung bình 4-5 buổi cho một môn học Thời gian còn lại sẽ lên diễn đàn theo dõi và hướng dẫn cho học viên
d) Đối với việc đào tạo nói chung
DHTT giúp giảm chi phí học tập Bằng việc sử dụng các giải pháp học tập qua mạng, các tổ chức (trường học, trung tâm đào tạo…) có thể giảm được các chi phí học tập như tiền lương phải trả cho giảng viên, tiền thuê phòng học Học tập qua mạng không mất nhiều thời gian, công sức đi lại, tổ chức lớp học… , góp phần tăng hiệu quả công việc Thêm vào đó, giá cả các thiết bị công nghệ thông tin hiện nay cũng tương đối thấp, việc trang bị những chiếc máy tính có thể truy cập vào Internet với các phần mềm trình duyệt miễn phí để thực hiện việc học tập qua mạng là điều hết sức dễ dàng
Hỗ trợ triển khai đào tạo từ xa Giáo viên và học viên có thể truy cập vào khóa học ở bất cứ chỗ nào, trong bất cứ thời điểm chỉ cần có máy tính có thể kết nối Internet
1.3.3.2 Khuyết điểm
DHTT đang là một xu hướng phát triển ở rất nhiều nơi trên thế giới Việc triển khai hệ thống DHTT cần có những nỗ lực và chi phí lớn, mặt khác nó cũng có những rủi ro nhất định do phụ thuộc vào CNTT&TT
Do đã quen với phương pháp học tập truyền thống nên học viên giáo viên sẽ gặp một số khó khăn về cách học tập và giảng dạy Ngoài ra họ còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các công nghệ mới
Bởi vì đào tạo từ xa là môi trường học tập phân tán nên mối liên hệ gặp gỡ giữa giảng viên và học viên bị hạn chế cũng làm ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập của học viên Do đó, học viên cần phải tập trung, cố gắng nỗ lực hết mình khi tham gia khóa học để kết quả học tập tốt
Mặt khác, DHTT được tổ chức cho đông đảo học viên tham gia, có thể thuộc nhiều vùng quốc gia, khu vực trên thế giới nên mỗi học viên có thể gặp khó khăn về các vấn đề yêu tố tâm lý, văn hóa
Trang 40Giảng viên phải mất rất nhiều thời gian và công sức để soạn bài giảng, tài liệu giảng dạy, tham khảo cho phù hợp với phương thức DHTT
1.3.4 Các phương thức hoạt động dạy học theo hình thức trực tuyến ở cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Phương thức học trực tuyến hiện nay rất đa dạng Qua nghiên cứu tài liệu, tác giả đã xác định có ba phương thức học tập trực tuyến đó là: Dạy học trực tuyến hoàn toàn, dạy học trực tuyến có tổ chức, dạy học trực tuyến kết hợp với dạy học trực tiếp Mỗi phương thức có những đặc điểm điển hình sau:
1.3.4.1 Dạy học trực tuyến hoàn toàn
HS, SV chủ động học trên học liệu có sẵn, cách học và thời gian học tự do Nội dung học là kiến thức các môn học trong chương trình được các công ty phần mềm đầu tư sản xuất từ những năm 2000 cho đến nay HS, SV có thể dễ dàng truy cập Website để học như: E-learning.com.vn, cleverlear.com, saigoncntt.com,
Violet.vn, Hocmai.vn, Topica, Viettelstudy.vn, vioedu.vn, OLM vn…Năm 2019, xuất hiện một ứng dụng học tập Kiến guru (app Kiến guru) cung cấp hệ thống bài giảng và câu hỏi đánh giá bài học, bài kiểm tra đánh giá hoàn chỉnh cho các môn học từ lớp 1 đến lớp 12 và có tổ chức thi online và phản hồi kết quả thi ngay trên app Với phương thức học tập này, HS hoàn toàn tự chủ nhưng phải trả một khoản kinh phí nhất định và không được cấp bằng hoặc chứng chỉ Phương thức dạy học này thường được áp dụng trong giáo dục phổ thông
1.3.4.2 Dạy học trực tuyến có tổ chức
Đây là phương thức dạy học không giáp mặt hoàn toàn nhưng có GV hướng dẫn, hỗ trợ, có khung kế hoạch GD xác định Cách học này được thực hiện nhiều nhất trong khoảng thời gian HS, SV nghỉ học do dịch Covid-19 Tất cả các trường học đều xây dựng kế hoạch học tập, xây dựng nội dung học tập trực tuyến, triển khai kế hoạc học tập dưạ trên chương trình môn học của Bộ GD&ĐT, Bộ LĐTB&XH qui định Tuy nhiên, hình thức triển khai có thể khác nhau
1.2.4.3 Dạy học trực tuyến kết hợp với dạy học trực tiếp
Đây là phương thức HS, SV tham gia hoạt động GD trực tiếp ở trường, lớp để lĩnh hội kiến thức cơ bản và kĩ năng môn học, một số nội dung học tập khác được