1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận) môn kinh tế lượng 2 ảnh hưởng của đô thị hóa đến chỉ số phát triển con người ở các nước châu á giai đoạn 2010 2020

32 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của đô thị hóa đến chỉ số phát triển con người ở các nước châu Á giai đoạn 2010-2020
Tác giả Nhóm 11
Người hướng dẫn TS. Chu Thị Mai Phương
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế lượng
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 504,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ BÀI GIỮA KỲ MÔN KINH TẾ LƯỢNG 2 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở CÁC NƯỚC CHÂU Á GIAI ĐOẠN 2010 2020 Lớp tín chỉ KTE318(GD2 H[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ -

BÀI GIỮA KỲ MÔN KINH TẾ LƯỢNG 2

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở CÁC NƯỚC CHÂU Á GIAI ĐOẠN 2010-2020

Giảng viên hướng dẫn: TS Chu Thị Mai Phương

Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 11

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG 3

ĐẶT VẤN ĐỀ 4

1 Cơ sở lý thuyết và tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.1 Tổng quan về chỉ số phát triển con người và đô thị hóa 5

1.1.1 Chỉ số phát triển con người (HDI) 5

1.1.2 Tổng quan về đô thị hóa 7

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến chỉ số phát triển con người và các giả thuyết 9

1.2.1 Chỉ số phát triển con người và tỷ lệ dân thành thị 9

1.2.2 Chỉ số phát triển con người và mức sinh 9

1.2.3 Chỉ số phát triển con người và tỷ lệ thất nghiệp 10

1.2.4 Chỉ số phát triển con người và tỷ lệ lạm phát 10

1.2.5 Chỉ số phát triển con người và tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài 11

2 Phương pháp nghiên cứu 12

2.1 Phương pháp nghiên cứu trong mô hình 12

2.2 Nguồn dữ liệu 12

2.3 Xây dựng mô hình hồi quy 12

3 Kết quả và thảo luận 16

3.1 Mô tả số liệu 16

3.1.1 Mô tả thống kê các biến 16

3.1.2 Mô tả tương quan giữa các biến 17

3.1.3 Phương pháp ước lượng 18

3.2 Các kiểm định 20

3.1.1 Kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy 20

3.1.2 Kiểm định các khuyết tật của mô hình 21

3.3 Kết quả ước lượng và thảo luận 23

4 Gợi ý giải pháp cho Việt Nam 26

KẾT LUẬN 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: HDI của Việt Nam và các nước Đông Nam Á năm 2016 - 2019 7

Bảng 2: Mô tả biến và kỳ vọng dấu 15

Bảng 3: Mô tả thống kê các biến 16

Bảng 4: Ma trận tương quan giữa các biến 17

Bảng 5: Kết quả hồi quy POLS, FEM, REM 18

Bảng 6: Kết quả kiểm định Breusch - Pagan Larange Multiplier 20

Bảng 7: Kết quả kiểm định Hausman 21

Bảng 8: Kết quả kiểm định tự tương quan 21

Bảng 9: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi 22

Bảng 10: So sánh hai mô hình hồi quy trước và sau khi khắc phục khuyết tật 22

Bảng 11: Kết quả ước lượng cuối cùng 23

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đô thị hóa và phát triển bền vững bao trùm luôn là vấn đề được toàn thế giới quan tâm, đặc biệt khi quá trình đô thị hóa đang diễn ra ngày một nhanh hơn và khó kiểm soát hơn, có khả năng ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người, một trong những tiêu chí quan trọng của mục tiêu phát triển bền vững Một thực tế được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu là nếu quản lý tốt, quá trình đô thị hoá sẽ góp phần chuyển dịch khu vực kinh tế từ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp sang cung cấp các loại hình dịch vụ, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như tạo “bộ mặt” cho quốc gia (Henderson, 2010) Ở các nước đang phát triển, các thành phố hiện nay đã trở thành trụ cột phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa cũng có nhiều mặt trái dẫn đến quá trình phát triển không bền vững, ví dụ như đô thị hóa tự phát kéo theo phá vỡ cảnh quan quy hoạch hoặc đô thị hóa tràn lan sẽ dẫn đến quá tải cơ sở hạ tầng hoặc đô thị hóa không được quản lý chặt chẽ sẽ làm

“bùng nổ” hiện tượng đầu cơ, thao túng thị trường bất động sản làm xuất hiện tình trạng “bong bóng” giá nhà ở và dẫn đến một lượng lớn hộ gia đình không đủ khả năng có được nhà ở ổn định, Nói cách khác, đô thị hóa không có tính chất bền vững và chưa bảo đảm các điều kiện thúc đẩy phát triển con người

Trong bối cảnh hướng đến phát triển bền vững, với mục tiêu chung là hướng đến con người, chúng ta cần nhanh chóng đưa ra những giải pháp thiết thực để đô thị hóa có thể đi đôi, song hành với phát triển con người Những vấn đề cản trở quá trình đó như lạm phát, thất nghiệp và một số vấn đề khác cần được giải quyết hợp lý Trên thực tế, nhiều nhà nghiên cứu (N H Khan, Y Ju và S T Hassan, 2018; S Tripathi, 2021; Khan và Cộng sự, 2019;…) đã thực hiện xem xét các mô hình tác động của đô thị hóa lên chỉ số phát triển con người nhưng còn nhiều tranh cãi về số lượng các biến cũng như cách thức đo lường biến và chiều hướng tác động của các biến liên quan đến đô thị có ảnh hưởng lên chỉ số phát triển con người Bên cạnh

đó, nhóm nhận thấy chưa có bài nghiên cứu nào được thực hiện trong phạm vi các nước châu

Á trong khoảng thời gian 10 năm gần đây nhất từ 2010 đến 2020 Chính vì vậy, nhóm tác giả

đã quyết định lựa chọn đề tài: “Ảnh hưởng của đô thị hóa đến chỉ số phát triển con người ở

các nước châu Á giai đoạn 2010-2020” với mong muốn phân tích tác động của đô thị hóa

cũng như một số yếu tố liên quan lên chỉ số phát triển con người thông qua các mô hình kinh

tế lượng với dữ liệu mảng từ nguồn số liệu thứ cấp Qua đó, nhóm đưa ra các giải pháp hợp lý cho Việt Nam nói riêng và các nước châu Á nói chung có hướng đi tốt nhất cho mục tiêu phát triển bền vững của mình

Trang 5

1 Cơ sở lý thuyết và tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1 Tổng quan về chỉ số phát triển con người và đô thị hóa

1.1.1 Chỉ số phát triển con người (HDI)

a Khái niệm

Theo Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), phát triển con người là quá trình làm tăng khả năng lựa chọn của mỗi người cũng như mức độ đạt được phúc lợi của họ Trong

đó, sự lựa chọn cốt yếu là trường thọ, khỏe mạnh, được học hành và được tận hưởng mức sống

tử tế; đồng thời, được bảo đảm về nhân quyền và bình đẳng về chính trị Để đo lường sự phát triển con người, năm 1990, UNDP đã đề xuất và khởi xướng tính chỉ số phát triển con người (HDI) Báo cáo phát triển con người (HDR) đầu tiên đã được UNDP biên soạn năm 1990 và công bố năm 1991

Trong các Báo cáo phát triển con người hàng năm, UNDP đưa ra khái niệm HDI là: Chỉ

tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp đo lường sự phát triển của con người trên 3 phương diện: Sức khỏe, giáo dục và thu nhập của quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa bàn địa phương của quốc gia, vùng lãnh thổ trong kỳ quan sát Khái niệm này cho thấy, HDI có thể và cần phải được tính toán ở những thời gian và không gian khác nhau

b Ý nghĩa

Thứ nhất, HDI là chỉ tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp khá toàn diện, không thuần túy dựa

vào khía cạnh kinh tế như chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP) nên có khả năng phản ánh đầy đủ hơn động thái và thực trạng kinh tế - xã hội theo không gian và thời gian quan sát

Thứ hai, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các quốc gia và vùng lãnh thổ ngày

càng nhận rõ con người không chỉ là nguồn lực, mà hơn thế còn là mục tiêu của sự phát triển Với ý nghĩa quan trọng đó, trong hoạch định cũng như đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển đất nước, HDI được xác định là một trong những chỉ tiêu chủ yếu

Thứ ba, HDI không chỉ tính theo phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ; mà còn tính cho các

địa phương hoặc nhóm dân cư, nhằm phản ánh trình độ phát triển con người của từng địa phương hoặc bộ phận dân cư trên địa bàn của một quốc gia, vùng lãnh thổ

Thứ tư, mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng HDI vẫn chưa phản ánh được mọi khía cạnh

kinh tế - xã hội, đặc biệt là mặt chất của sự phát triển Chính vì vậy, sử dụng chỉ tiêu HDI thường đi cùng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội khác

c Phương pháp tính Chỉ số tổng hợp HDI

HDI = (I sức khỏe × I giáo dục × I thu nhập ) 1/3

Trang 6

Trong đó:

– Isức khỏe: Chỉ số tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh;

những người từ 25 tuổi trở lên và số năm đi học kỳ vọng của trẻ em trong độ tuổi đi học;

cư trên địa bàn của một quốc gia, vùng lãnh thổ theo 4 nhóm:

- Nhóm 1, đạt mức rất cao với HDI ≥ 0,800;

- Nhóm 2, đạt mức cao với 0,700 ≤ HDI < 0,800;

- Nhóm 3, đạt mức trung bình với 0,550 ≤ HDI < 0,700;

- Nhóm 4, đạt mức thấp với giá trị HDI < 0,550

d Chỉ số HDI của Việt Nam

Trong những năm gần đây, kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và sự phát triển con người nói riêng đạt được những thành tựu quan trọng Chỉ số tổng hợp HDI đã tăng từ 0,682 năm 2016 lên 0,687 năm 2017; 0,693 năm 2018; 0,703 năm 2019 và 0,706 năm 2020 So với năm trước, HDI năm 2017 tăng 0,005 với tốc độ tăng 0,73%; 2018 tăng 0,006 và tăng 0,87%;

2019 tăng 0,10 và tăng 1,44%; 2020 tăng 0,003 và tăng 0,43% Tính chung những năm 2016 -

2020 tăng 0,024 với tốc độ tăng 3,52%; bình quân mỗi năm tăng 0,87%

Theo tiêu chuẩn xếp hạng của UNDP, HDI của Việt Nam đã từ nhóm trung bình những năm 2016 - 2018 lên nhóm cao trong năm 2019 - 2020 Thứ hạng HDI của Việt Nam tăng từ

vị trí 118 năm 2016; 119 năm 2017 và 118 năm 2018 lên vị trí 117 năm 2019 trong tổng số 180 quốc gia, vùng lãnh thổ thế giới Mặc dù có sự gia tăng nhưng HDI của Việt Nam vẫn thấp hơn mức bình quân chung của các quốc gia Đông Nam Á Năm 2016 thấp hơn 0,026; 2017 thấp 0,023; 2018 thấp 0,021 và đến năm 2019 vẫn còn thấp hơn 0,003 Trong những năm 2016 -

2019, HDI của Việt Nam chưa có sự cải thiện thứ hạng trong khu vực, luôn ở vị trí 7/11 quốc gia Đông Nam Á; chỉ xếp trên Timor - Leste, Lào, Campuchia và Mianma; thấp hơn Singapore, Brunei, Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia

Trang 7

Bảng 1: HDI của Việt Nam và các nước Đông Nam Á năm 2016 - 2019

Xin-ga-po 0,930 0,932 0,935 0,938 8 9 9 11 Bru-nây 0,852 0,853 0,845 0,838 40 39 43 47 Ma-lai-xi-a 0,799 0,802 0,804 0,810 57 57 61 62 Thái Lan 0,748 0,755 0,765 0,777 86 83 77 79 Phi-li-pin 0,696 0,699 0,712 0,718 111 113 106 107 In-đô-nê-xi-a 0,691 0,694 0,707 0,718 115 116 111 107

Ti-mo Lét-xtê 0,631 0,625 0,626 0,606 130 132 131 141 Lào 0,598 0,601 0,604 0,613 137 139 140 137 Căm-pu-chia 0,576 0,582 0,581 0,594 146 146 146 144 Mi-an-ma 0,574 0,578 0,584 0,583 147 147 145 147

Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam; HDR của UNDP 1.1.2 Tổng quan về đô thị hóa

a Khái niệm

Đô thị hóa là quá trình dân số tập trung ở thành thị hoặc tăng tỷ lệ dân cư sống ở thành thị

do dịch cư từ nông thôn ra thành thị hoặc do diện tích đất ở đô thị tăng lên (UN Habitat, 1992)

b Đặc điểm của đô thị hóa

Thứ nhất, gia tăng dân số đô thị và tỷ lệ dân số đô thị Theo báo cáo của Quỹ dân số Liên

Hiệp Quốc, năm 1800, chỉ có 3% dân số sống trong khu vực đô thị, chiếm khoảng 29,3 triệu người, đầu thế kỷ 20 là 13,6% với 220 triệu người Đến năm 1930, thế giới có khoảng 415 triệu người sống trong khu vực đô thị, chiếm khoảng 1/5 tổng dân số thế giới Bắt đầu từ đây, đô thị hóa không chỉ diễn ra nhanh mà còn rộng khắp trên thế giới Tốc độ gia tăng dân số đô thị trung bình khoảng 2,6%/ năm, trên bình diện toàn cầu, xu hướng tập trung dân cư sống ở khu vực đô thị vẫn tiếp tục với tốc độ cao

Thứ hai, gia tăng diện tích đô thị, phát triển mạng lưới đô thị Đô thị ngày càng chiếm

nhiều diện tích trái đất, hiện nay diện tích các đô thị khoảng 3 triệu km2, tức 2% diện tích các lục địa và 13% diện tích đất có giá trị sử dụng cao Số lượng đô thị đang tăng lên nhanh chóng

ở các nước đang phát triển Quá trình phát triển đô thị đã tạo nên những vùng đô thị hóa cao

độ như chuỗi đô thị từ Boston đến Washington D.C Hoa Kỳ dài 750km, chuỗi đô thị từ Tokyo đến Osaka (Nhật Bản), chuỗi đô thị từ Bắc Kinh đến Thiên Tây hay vành đai đô thị đồng bằng Châu Giang,…

Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu lao động trong quá trình đô thị hóa Quá trình chuyển dịch

lao động từ các hoạt động dựa trên nền tảng khai thác tài nguyên thiên nhiên (nông - lâm - ngư

Trang 8

nghiệp) sang các hoạt động và chế biến như công nghiệp chế biến, xây dựng cơ bản, thương mại, tài chính,…

Thứ tư, phổ biến rộng rãi lối sống đô thị Đô thị hóa kéo theo những biến đổi to lớn và

sâu rộng trong đời sống xã hội, đời sống của các cộng đồng nông thôn và đô thị Lối sống đô thị là một đặc trưng của đô thị Đô thị hóa cũng là sự phổ biến và lan truyền các khuôn mẫu về hành vi, ứng xử, vốn đặc trưng của người dân đô thị, sự lan truyền của lối sống đô thị đến các vùng nông thôn và trong toàn bộ xã hội

c Ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế - xã hội

Thứ nhất, ảnh hưởng tích cực Đô thị hóa không những góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng

trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động mà còn làm thay đổi sự phân bố dân cư và lao động, thay đổi các quá trình sinh, tử và hôn nhân ở các đô thị…

Thứ hai, ảnh hưởng tiêu cực Đô thị hóa nếu không xuất phát từ công nghiệp hóa, không

phù hợp, cân đối với quá trình công nghiệp hóa, thì việc chuyển cư ồ ạt từ nông thôn ra thành phố sẽ làm cho nông thôn mất đi một phần lớn nhân lực Trong khi đó thì nạn thiếu việc làm, nghèo nàn ở thành phố ngày càng phát triển, điều kiện sinh hoạt ngày càng thiếu thốn, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, từ đó dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh

tế - xã hội

d Thực trạng đô thị hóa của Việt Nam

Theo Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hóa cả nước tăng từ 30,5% năm 2010 lên đến 38,4% vào năm 2019

Năm 1999, Việt Nam có 629 đô thị và đến tháng 12-2020 có 862 đô thị, bao gồm 2 đô thị đặc biệt, 23 đô thị loại I, 31 đô thị loại II, 48 đô thị loại III, 90 đô thị loại IV và 668 đô thị loại

V Theo tổng điều tra dân số năm 2019 của Tổng cục Thống kê, dân số thành thị là hơn 33,1 triệu người, chiếm 34,4% tổng dân số cả nước Tỷ lệ tăng dân số bình quân khu vực thành thị giai đoạn 2009 - 2019 là 2,64%/năm, gấp hơn hai lần tỷ lệ tăng dân số của cả nước và gấp sáu lần tỷ lệ tăng dân số khu vực nông thôn cùng giai đoạn

Tốc độ tăng dân số thành thị bình quân hằng năm giai đoạn 2009 - 2019 thấp hơn tốc độ tăng dân số thành thị bình quân giai đoạn 1999 - 2009 (3,4%/năm) Yếu tố di cư góp phần làm dân số khu vực thành thị tăng thêm 1,2 triệu người, chiếm 3,5% dân số thành thị; sự “chuyển mình” từ xã thành phường/thị trấn của nhiều địa phương trong cả nước góp phần chuyển 4,1 triệu người đang là cư dân nông thôn thành cư dân thành thị, tương đương 12,3% dân số thành thị của cả nước năm 2019

Trang 9

Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa vẫn còn nhiều hạn chế và không đồng đều giữa các vùng Tốc độ đô thị hóa còn thấp so với mặt bằng chung của khu vực ASEAN và các nước trên thế giới

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến chỉ số phát triển con người và các giả thuyết

1.2.1 Chỉ số phát triển con người và tỷ lệ dân thành thị

Nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người (HDI) thông qua GDP, nhưng có rất ít các nghiên cứu về tác động giữa đô thị hóa

và phát triển con người N H Khan, Y Ju và S T Hassan (2018) đã sử dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ (ARDL) để phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, khủng bố và chỉ

số phát triển con người ở Pakistan trong giai đoạn 1990 - 2016 Trong đó, họ đã kết luận rằng

đô thị hóa có ảnh hưởng lớn và theo hướng tích cực với việc phát triển con người trong động lực dài hạn Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của S Tripathi (2021) Nghiên cứu

đã đánh giá tác động của đô thị hóa lên chỉ số phát triển con người cấp quốc gia bằng dữ liệu bảng và hiệu ứng ngẫu nhiên Tobit (Random effect Tobit) cho 187 quốc gia trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2017 Họ đã chỉ ra rằng tỷ lệ dân thành thị là thước đo quan trọng nhất của quá trình đô thị hóa và có ảnh hưởng tích cực đến HDI của các nước với các nhóm thu nhập khác nhau Trong khi đó, nghiên cứu của Khan và Cộng sự (2019) lại kết luận rằng trong dài hạn với sự xâm nhập của Internet, đô thị hóa không đóng góp vào quá trình phát triển con người, nhưng với sự thâm nhập của di động, đô thị hóa ảnh hưởng lớn đến sự phát triển con người

Đô thị hóa được coi là một minh chứng cho sự phát triển trong cuộc sống con người Số dân thành thị tăng đồng nghĩa với việc nhiều người có cuộc sống tiện nghi hơn, được chăm sóc sức khỏe tốt hơn và tiếp cận với nền giáo dục, văn minh tiên tiến hơn Điều này dẫn đến chỉ số phát triển con người của nước đó tăng lên

Dựa trên những lập luận đó, nhóm nghiên cứu đã đặt ra giả thuyết:

Giả thuyết 1 (H1): Tỷ lệ dân thành thị tác động tích cực tới chỉ số phát triển con người

1.2.2 Chỉ số phát triển con người và mức sinh

Cũng trong nghiên cứu của Tripathi (2021), nhà nghiên cứu đã chứng minh được mức sinh

là một biến số quan trọng ảnh hưởng đến phát triển con người Mức sinh càng cao sẽ dẫn đến chỉ số phát triển con người càng thấp Trong nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến HDI của Shah (2016), họ cũng chỉ ra mức sinh có mối quan hệ ngược chiều với chỉ số phát triển con người thông qua phân tích mô hình hồi quy logarit tự nhiên các biến số tác động lên chỉ số phát triển con người của 188 quốc gia Những kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Sangaji

Trang 10

(2016) Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) để đánh giá tác động của 4 yếu tố đến chỉ số phát triển con người của các nước có đạo Phật: Nhật Bản, Sri Lanka, Thailand, Vietnam, Bhutan, Lao People's Democratic Republic, Cambodia and Myanmar Nhà nghiên cứu chỉ ra rằng mức sinh ảnh hưởng tiêu cực đến chỉ số phát triển con người và chính phủ cần can thiệp để kiểm soát mức sinh nhằm nâng cao HDI

Mối quan hệ nghịch biến giữa mức sinh và chỉ số phát triển con người có thể được lý giải bởi khi dân số càng nhiều, sức ép về thực phẩm, lương thực, năng lượng, môi trường, tài nguyên cũng càng lớn, làm cạn kiệt tài nguyên, đồng thời tác động tiêu cực đến an ninh quốc phòng và các vấn đề xã hội khác Thêm nữa, dân số tăng khiến cho việc tiếp cận với những tiến bộ khoa học trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục hay cơ hội có việc làm của nhiều người bị hạn chế, dẫn đến chỉ số phát triển con người của quốc gia đó giảm

Dựa trên những lập luận đó, nhóm nghiên cứu đã đặt ra giả thuyết:

Giả thuyết 2 (H2): Tỷ lệ sinh tác động tiêu cực tới chỉ số phát triển con người

1.2.3 Chỉ số phát triển con người và tỷ lệ thất nghiệp

Nghiên cứu của Arisman (2018) đã sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với mô hình tác động cố định (FEM) để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người của mười nước thành viên ASEAN trong giai đoạn từ 2000 đến 2015 Trong đó, họ kết luận rằng tỷ lệ thất nghiệp không ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số phát triển con người

Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Sari (2022), kết quả cho thấy tỷ lệ thất nghiệp ảnh hưởng tiêu cực đến chỉ số phát triển con người Tỷ lệ thất nghiệp tăng có thể làm giảm mức độ thịnh vượng của cộng đồng và dẫn đến việc họ không thể đáp ứng nhu cầu và cải thiện chất lượng cuộc sống Tỷ lệ thất nghiệp cũng là một gánh nặng, không chỉ với chính phủ mà còn với môi trường và xã hội Theo lý thuyết về thất nghiệp của Keynes, thất nghiệp là kết quả của nhu cầu thấp đối với hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế hay còn được gọi là tổng cầu Mức cung lao động thấp làm tăng tỷ lệ thất nghiệp Điều này tác động làm cho tiền lương giảm sút, thu nhập của người dân giảm, không đáp ứng được nhu cầu cuộc sống và làm giảm chất lượng phát triển con người

Dựa trên những lập luận đó, nhóm nghiên cứu đã đặt ra giả thuyết:

Giả thuyết 3 (H3): Tỷ lệ thất nghiệp tác động tiêu cực tới chỉ số phát triển con người

1.2.4 Chỉ số phát triển con người và tỷ lệ lạm phát

Nghiên cứu của Arisman (2018) đã sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với mô hình tác động cố định (FEM) để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người của mười nước thành viên ASEAN trong giai đoạn từ 2000 đến 2015 Trong đó, họ chỉ ra rằng

tỷ lệ lạm phát không ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số phát triển con người Lạm phát tăng làm

Trang 11

giảm sức mua của đồng tiền, khiến đầu tư ít được ưa chuộng hơn và dẫn đến giảm GDP và HDI Tuy nhiên, đường cong Phillips chỉ ra rằng lạm phát cao đi liền với thất nghiệp thấp và ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế Qua đó, họ chưa có kết quả chính xác về mối quan

hệ giữa lạm phát và HDI

Tuy nhiên, theo Sangaji (2016) và Tripathi (2021), tỷ lệ lạm phát là một nhân tố quan trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến chỉ số phát triển con người Khi tỷ lệ lạm phát tăng, sức mua của đồng tiền sẽ suy giảm Khi các yếu tố khác không thay đổi mà sức mua đồng tiền giảm đồng nghĩa với việc người dân mua được ít món hàng hơn để phục vụ cho cuộc sống Việc tiếp cận với những trang thiết bị hiện đại giúp cải thiện sức khỏe, trình độ học vấn của họ cũng bị hạn chế Điều này dẫn đến chỉ số phát triển con người giảm

Dựa trên những lập luận đó, nhóm nghiên cứu đã đặt ra giả thuyết:

Giả thuyết 4 (H4): Tỷ lệ lạm phát tác động tiêu cực tới chỉ số phát triển con người

1.2.5 Chỉ số phát triển con người và tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

Mối quan hệ giữa FDI và HDI cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong nghiên cứu của K K Gökmenoğlu và Cộng sự (2018) về ảnh hưởng của FDI đến HDI ở Nigeria trong giai đoạn 1973 - 2013, họ đã chọn tỷ lệ dòng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài trên GDP làm chỉ số đại diện cho FDI Kết quả cho thấy FDI có tác động tích cực đến nhiều khía cạnh của phát triển con người như khả năng nhập học và GNI Điều này cũng được chứng minh trong nghiên cứu của Khan và Cộng sự (2019) Họ cho rằng thương mại và vốn đầu tư nước ngoài thúc đẩy thị trường lao động và tăng trưởng kinh tế Khi được nhiều nước đầu tư vào, người dân sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn Điều này không chỉ giúp cho nguồn thu nhập của người dân tăng mà dân trí cũng tăng theo do được tiếp xúc với các nền văn hóa văn minh trên thế giới Từ đó, chỉ số phát triển con người sẽ tăng

Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu phủ định lợi ích của FDI đến phát triển con người Điển hình có Đinh Hồng Linh và Trần Văn Nguyện (2018) nghiên cứu về tác động của FDI đến phúc lợi xã hội tại các nước châu Á giai đoạn 2010-2015, kết quả cho thấy thu hút dòng vốn FDI cao không đảm bảo có sự tác động tích cực tới HDI của quốc gia đó Trong nghiên cứu của Ngô Thanh Loan (2022) cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp FDI có những bất cập trong vấn đề về chế độ phúc lợi, chính sách lương cho người lao động khiến chất lượng cuộc sống của họ suy giảm và còn tồn tại các vấn đề về môi trường khiến sức khỏe của người dân kém hơn

Để hướng tới xu hướng hội nhập toàn cầu, có thể tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại giúp nâng cao dân trí và thu nhập cho người dân, nhóm nghiên cứu đã đặt ra giả thuyết:

Giả thuyết 5 (H5): Tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động tích cực tới chỉ số phát

triển con người

Trang 12

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Phương pháp nghiên cứu trong mô hình

Bài nghiên cứu của nhóm tuân thủ các bước sau:

Bước 1: Nêu lý thuyết kinh tế và các giả thuyết của lý thuyết

Bước 2: Thiết lập mô hình toán học mô tả quan hệ giữa các biến

Bước 3: Lựa chọn mô hình kinh tế lượng

Bước 4: Thu thập số liệu

Bước 5: Ước lượng mô hình kinh tế lượng

Bước 6: Kiểm định giả thuyết thống kê

Bước 7: Phân tích kết quả

Bước 8: Thảo luận và đưa ra giải pháp

2.2 Nguồn dữ liệu

Dữ liệu được sử dụng trong bài là dữ liệu mảng Các số liệu về chỉ số phát triển con người được nhóm thu thập từ trang Human Development Reports (HDR) cập nhật năm 2022 Tỷ lệ sinh, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được nhóm tác giả lấy từ Bộ dữ liệu về các chỉ số trên của World Bank (2022) của 46 nước châu Á trong giai đoạn 2010-2020

2.3 Xây dựng mô hình hồi quy

Mô hình trong bài nghiên cứu bao gồm:

● Biến phụ thuộc: Chỉ số phát triển con người (HDI)

Chỉ số phát triển con người là chỉ số tóm tắt thành tích trên các phương diện cơ bản của phát triển con người bao gồm có cuộc sống trường thọ và khỏe mạnh, có tri thức có mức sống tốt Trong đó:

○ Sức khỏe: tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh

○ Giáo dục: số năm đi học trung bình đối với người lớn từ 25 tuổi trở lên và số năm đi học kỳ vọng của nhóm người trong độ tuổi đến trường

○ Mức sống: thu nhập bình quân đầu người (HDI sử dụng logarit của thu nhập để thể hiện tầm quan trọng của thu nhập giảm đi khi thu nhập tăng lên)

Chỉ số phát triển con người được tính bằng công thức sau:

HDI = (I sức khỏe × I giáo dục × I thu nhập ) 1/3

Trong đó:

– Isức khỏe: Chỉ số tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh;

Trang 13

– Igiáo dục: Chỉ số giáo dục được tính thông qua 2 chỉ tiêu là số năm đi học bình quân của những người từ 25 tuổi trở lên và số năm đi học kỳ vọng của trẻ em trong độ tuổi đi học

Có nhiều thước đo để đo lường mức sinh Một trong số đó là công thức sau:

Thất nghiệp là tình trạng người đang trong độ tuổi lao động, có đầy đủ khả năng lao động

và có nhu cầu tìm việc làm nhưng chưa có việc làm Người thất nghiệp gồm cả những trường hợp: Sinh viên/học sinh/người nghỉ hưu nhưng đang tìm việc (toàn thời gian hoặc bán thời gian) và sẵn sàng làm việc trong thời kỳ tham chiếu; người làm nội trợ (hoặc làm các công việc nhà) cho gia đình mình nhưng đang tìm việc (toàn thời gian hoặc bán thời gian) và sẵn sàng làm việc trong thời kỳ tham chiếu

Theo Tổng cục thống kê (2016), tỷ lệ thất nghiệp (%) là chỉ tiêu biểu hiện tỷ lệ so sánh số người thất nghiệp với lực lượng lao động

Lực lượng lao động (L) = số người có việc làm (E) + số người thất nghiệp (U)

Tỷ lệ thất nghiệp được tính theo công thức:

Trang 14

Tỷ lệ lạm phát = 𝑃0 − 𝑃 −1

𝑃−1 x 100%

Trong đó:

P0: Mức giá trung bình của kỳ hiện tại

P-1: Mức giá trung bình của kỳ trước

○ Tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là việc một công ty hoặc một nhà đầu tư ở bên ngoài biên giới nước này mua quyền lợi trong công ty Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình đầu tư xuyên biên giới, trong đó nhà đầu tư cư trú tại một nền kinh tế thiết lập mối quan tâm lâu dài và mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với một doanh nghiệp cư trú trong nền kinh tế khác

Tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (%) là tỷ lệ lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng GDP của một quốc gia

=> Từ việc giải thích về biến độc lập và biến phụ thuộc cũng như đưa ra các giả thuyết trong phần cơ sở lý thuyết, nhóm đề xuất xây dựng mô hình hồi quy như sau:

HDI it = β 1 + β 2 URBAN it + β 3 FER it + β 4 UNE it + β 5 INF it + β 6 FDI it + c i + u it

Trong đó:

β1 là hệ số chặn; β2, β3, β4, β5, β6 là hệ số góc

ci là đặc điểm riêng không thấy được của từng quan sát; uit là nhiễu

HDIit là chỉ số phát triển con người của quốc gia i trong năm t

URBANit là số dân sống ở thành thị của quốc gia i trong năm t

FERit là mức sinh của quốc gia i trong năm t

UNEit là tỷ lệ thất nghiệp của quốc gia i trong năm t

INFit là tỷ lệ lạm phát của quốc gia i trong năm t

FDIit là tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của quốc gia i trong năm t

Các biến của mô hình được tóm tắt qua bảng sau:

Trang 15

Bảng 2: Mô tả biến và kỳ vọng dấu

Loại

Nguồn số liệu

Nghiên cứu đi trước

% +

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

Trang 16

3 Kết quả và thảo luận

3.1 Mô tả số liệu

3.1.1 Mô tả thống kê các biến

Để mô tả tổng quát về các biến, nhóm sử dụng câu lệnh:

su HDI URBAN FER UNE INF FDI

Bảng 3: Mô tả thống kê các biến

Biến quan sát Số quan sát

Giá trị trung bình

Độ lệch chuẩn

Giá trị nhỏ nhất

Giá trị lớn nhất

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ stata

Qua bảng thống kê nhóm rút ra một vài nhận xét như sau:

- Số quan sát của từng biến có sự chênh lệch, dao động từ 471 đến 506

- Biến HDI có giá trị trung bình nhỏ nhất

- Biến tỷ lệ dân thành thị (URBAN) có giá trị trung bình là 58.09 Giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất lần lượt là 16.77 và 100 Độ lệch chuẩn là 24.69 Điều này cho thấy số dân sống ở thành thị của các quốc gia có sự chênh lệch lớn, phân bổ từ rất ít đến rất nhiều

- Biến mức sinh (FER) có giá trị trung bình là 2.45 Giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất là 0.84 và 5.98 Độ lệch chuẩn là 0.89 Điều này cho thấy mức sinh ở các nước ở mức trung bình và không có sự chênh lệch nhiều

- Biến tỷ lệ thất nghiệp (UNE) có giá trị trung bình là 6.06 Giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất lần lượt là 0.1 và 26.26 Độ lệch chuẩn là 5.08 Điều này cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của hầu hết các nước ở mức trung bình và có sự chênh lệch lớn giữa các nước

Ngày đăng: 10/05/2023, 15:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w