ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THẢO LUẬN NHÓM ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ ĐƯỢC BẢO ĐẢM Ngành Luật học Học phần Luật Hiến pháp 2 Giảng viên giảng dạy học phần ThS Nguyễn Thị Nữ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
THẢO LUẬN NHÓM
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG
XÉT XỬ ĐƯỢC BẢO ĐẢM
Ngành: Luật học
Học phần: Luật Hiến pháp 2
Giảng viên giảng dạy học phần: ThS Nguyễn Thị Nữ
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 1
Lớp: K46S - Luật học
THỪA THIÊN HUẾ, năm 2023
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Tranh tụng là quá trình xác minh, làm rõ công khai và tranh luận giữa các bên dưới sự điều khiển của Tòa án để phân tích, thẩm định, đánh giá chứng cứ nhằm mục đích xác định sự thật khách quan của vụ án, tạo cơ
sở để Tòa án giải quyết vụ án khách quan, công bằng, đúng pháp luật, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng
Vì vậy, nguyên tắc bảo đảm tranh tụng là một trong những nguyên tắc quan trọng trong tố tụng nói chung và xét xử nói riêng, là dấu hiệu đặc trưng của nền tư pháp dân chủ, bình đẳng, công bằng và minh bạch.Việc bảo đảm và nâng cao chất lượng tranh tụng trong xét xử là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong hoạt động cải cách tư pháp thời gian qua Điều này được thể hiện rõ nét qua Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị
về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp thời gian tới, theo đó yêu cầu việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn quy định; Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược đẩy mạnh
tư pháp đến năm 2020 nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử là khâu đột phá của hoạt động tư pháp
Nguyên tắc tranh tụng trong Tố tụng hình sự đã được ghi nhận và từng bước được quy định trong Hiến pháp, luật pháp và đưa vào thực hiện, nhưng quyền lợi của người phạm tội, người bị hại và những người tham gia
tố tụng khác vẫn còn những dấu hiệu bị vi phạm Vị trí, vai trò và chức năng của họ chưa được đánh giá một cách đúng đắn dẫn đến không được bảo đảm đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp theo Hiến định và Luật định
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, tuy nhiên đáng chú ý hơn là việc các chủ thể tham gia tố tụng chưa nhận thức đầy đủ và chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong
Tố tụng hình sự Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy
đủ, có hệ thống và toàn diện về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam
Trang 6I Khái quát về nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được đảm bảo”
I.1 Khái niệm
Tranh tụng trong tố tụng dân sự là một quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định có hiệu pháp luật theo đó các chủ thể tham gia tố tụng được đưa ra chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật
tố tụng dân sự quy định
Hiện nay, trong khoa học pháp lý ở Việt Nam có nhiều quan điểm khác nhau về “tranh tụng” như: Theo từ điển luật học tranh tụng là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập đưa ra những chứng cứ để bảo vệ quan điểm và lợi ích của phía đối lập” Có quan điểm khác cho rằng “tranh tụng là một quá trình xác tranh tụng được hiểu là các hoạt động được thực hiện bởi các bên buộc tội và bên gỡ tội tham gia tố tụng có quyền bình đẳng với những sự thật khách quan về vụ án đồng thời cũng chính là phương tiện để đạt được mục đích, các nhiệm vụ đặt ra của Luật tố tụng hình sự” Qua những quan điểm trên có thể hiểu tranh tụng là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự, thể hiện tư tưởng chỉ đạo của nhà nước trong việc xác định trách nhiệm trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm được các điều kiện cần thiết làm cho các chủ thể tranh tụng thực hiện được quyền tranh tụng trong suốt quá trình tố tụng dân sự, bao gồm việc đưa ra chứng cứ, trao đổi chứng cứ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của đương sự trước Tòa án Tòa án căn cứ vào kết quả tranh tụng để quyết định về việc giải quyết vụ án dân sự Hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bởi bên buộc tội và bên gỡ tội tham gia tố tụng để bảo
vệ quan điểm của mình và bác bỏ quan điểm của phía đối lập, dựa trên cơ sở đó giúp Toà án giải quyết khách quan, toàn diện, đầy đủ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia
I.2 Đặc điểm
Mô hình tố tụng hình sự tranh tụng có những đặc điểm cơ bản sau:
Có sự phân định rành mạch quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện các chức năng cơ bản của Tố tụng hình sự Toà án giữ vai trò trung lập, làm trọng tài điều khiển sự tranh tụng giữa các bên;
Vai trò của của Luật sư bào chữa được tham gia từ rất sớm trong Tố tụng hình sự;
Luật sư bào chữa có vai trò rất lớn trong việc chứng minh và thuyết phục Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn đưa ra quyết định xét xử;
Nguyên tắc phân quyền quy định Toà án là bộ phận độc lập tách rời khỏi hành pháp và tư pháp;
Trang 7Tố tụng tranh tụng mang tính chất công khai và mở ra cơ hội cho các bên buộc tội và gỡ tội.
II.Phân tích nguyên tắc: “ Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”
II.1 Căn cứ pháp lý:
Khoản 5 điều 103 Hiến pháp 2013: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”
II.2 Nội dung của nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 được ban hành, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, nguyên tắc tranh tụng được thừa nhận
Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” Đây là định hướng chỉ đạo cho việc quy định nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Nguyên tắc này có ý nghĩa bảo đảm quyền con người, đảm bảo hoạt động tố tụng được diễn
ra khách quan, dân chủ, công bằng, phán quyết, quyết định của Tòa án được đưa ra trên cơ sở những chứng cứ, sự việc có thật đã được làm rõ tại phiên tòa; bảo đảm quyền và lợi ích của các bên, quyền bình đẳng của những người tham gia tố tụng với nhau và với cơ quan nhà nước trong tranh tụng
Thứ nhất, hoạt động xét xử phải bảo đảm tranh tụng giữa kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng khác; tranh tụng là trọng tâm của hoạt động xét xử
Thứ hai, các bên tranh tụng bình đẳng với nhau về quyền đưa ra tài liệu, chứng cứ, yêu cầu; đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận chứng của mình; bình đẳng trong đối đáp, tranh luận, chứng minh, bác bỏ quan điểm lẫn nhau
Thứ ba, kiểm sát viên và người tham gia tranh tụng phải tranh tụng với tinh thần trách nhiệm, trên cơ sở chứng cứ khách quan và quy định của pháp luật; với tinh thần tôn trọng lẫn nhau, có văn hóa ứng xử
Thứ tư, tòa án ra phán quyết phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện các luận điểm, luận cứ và luận chứng của các bên tranh tụng
Thứ năm, tòa án có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện, thực thi các quy định của pháp luật theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự để các bên tham gia tranh tụng
Với các nội dung trên, phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc tranh tụng chủ yếu là tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự; bắt đầu từ khi tòa án mở phiên tòa cho
Trang 8đến khi kết thúc phiên tòa và tập trung trong phần tranh luận của kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng
II.3 Ý nghĩa
Thứ nhất, quy định nguyên tắc tranh tụng trong Hiến pháp đã thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của cán bộ tư pháp, của công dân trong quá trình thực hiện các quyền năng khi tham gia tranh tụng Đồng thời thực tiễn xét xử sẽ thay đổi, với bước tiến mới trọng tâm là hoạt động tranh tụng được bảo đảm, phát huy tối đa tính công bằng, dân chủ
Thứ hai, nguyên tắc đảm bảo tranh tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm quyền con người, đảm bảo hoạt động tố tụng được diễn ra khách quan, dân chủ, công bằng, phán quyết, quyết định của Tòa án được đưa ra trên cơ sở những chứng cứ, sự việc có thật đã được làm rõ tại phiên tòa; bảo đảm quyền và lợi ích của các bên, quyền bình đẳng của những người tham gia tố tụng với nhau và với cơ quan nhà nước trong tranh tụng
Hiện nay, ở nước ta cũng như các quốc gia trên thế giới các vấn đề về nhân quyền luôn là vấn đề nóng thu hút nhiều sự quan tâm Cũng vì vậy các thế lực hiếu chiến và phản động đã lợi dụng vấn đề này để kích động nhân dân và chống phá chính quyền Vì vậy, việc ghi nhận nguyên tắc “tranh tụng trong xét
xử được đảm bảo” và các cơ chế đảm bảo khác đã thể hiện được tính dân chủ của nước ta, lấy con người làm gốc và là động lực cho sự phát triển
Thứ ba, khẳng định sự tồn tại song song của hai chức năng cơ bản không thể thiếu trong Bộ luật tố tụng hình sự bên cạnh chức năng xét xử, đó là chức năng buộc tội và chức năng bào chữa Hai chức năng này không chỉ tồn tại song song mà còn đối lập và ức chế nhau tạo nên một cơ chế tranh tụng có hiệu quả nhất trong hoạt động tố tụng để xét xử vụ án
Thứ tư, đảm bảo tranh tụng trong xét xử góp phần vào việc nâng cao việc giáo dục và ý thức chấp hành pháp luật của bị can, bị cáo, người tiến hành
và tham gia tố tụng cũng như toàn thể xã hội nói chung Điều này có thể hiểu là muốn bảo vệ bản thân mình thì người gỡ tội cần phải hiểu rõ pháp luật đã trao cho mình những quyền năng tố tụng gì, đó cũng là một trong các cách để nâng cao sự hiểu biết về pháp luật cho các chủ thể tham gia Bên cạnh đó việc đảm bảo tranh tụng trong xét xử còn tác động đến người tham gia tố tụng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc đảm bảo tranh tụng thì đòi hỏi họ phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng những nhu cầu trên
Ngoài ra, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc nó thể hiện chính sách nhân vân của Nhà nước ta Tính nhân văn của
Trang 9nguyên tắc được thể hiện trong trường hợp theo quy định của pháp luật nếu bị cáo hay người đại diện hợp pháp không có người bào chưa thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc toà án sẽ yêu cầu đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ Bị cáo có quyền tự bào chữa cho mình, khi bào chữa bị cáo có quyền bình đẳng với các chủ thể khác, bị cáo có cơ hội để đưa ra các chứng cứ để minh oan hoặc giảm nhẹ tội danh của mình Ngoài ra, nguyên tắc này còn góp phần bảo vệ nền pháp chế Xã hội chủ nghĩa ở nước ta, giúp Toà án ra các bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nâng cao uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng và củng cố lòng tin của người dân
III Một số vấn đề đặt ra khi thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử vụ án hình sự
Thực tiễn cho thấy, ở hầu hết các phiên tòa, Hội đồng xét xử quan tâm
và tạo điều kiện cho luật sư, bị cáo, đương sự trình bày các quan điểm, ý kiến của mình về các tình tiết của vụ án; cơ quan báo chí cũng được tạo điều kiện để thông tin về hoạt động tại phiên tòa kịp thời, bảo đảm phiên tòa diễn ra công khai; quyền bào chữa, quyền công khai xét xử được tuân thủ Phiên tòa được tổ chức theo tinh thần cải cách tư pháp đã thể hiện sự trang nghiêm, bình đẳng giữa các bên, tạo tâm lý thoải mái cho luật sư khi tranh tụng Bản án đượctuyên bảo đảm tính khách quan, công bằng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm các quyền của bị cáo, việc tranh tụng tại các phiên tòa được thực thi nghiêm túc Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét
xử vẫn còn có những bất cập
Thứ nhất, BLTTHS quy định trong mọi trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt phải hoãn phiên tòa trong khi BLTTHS quy định người bào chữa hoặc bị cáo, các chủ thể khác vắng mặt thì vẫn có thể tiến hành xét xử vụ án Quy định như vậy là chưa đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng, sẽ không bảo đảm được quyền của bị cáo Sự vắng mặt của luật sư và bị cáo tại phiên tòa sẽ làm cho quá trình tranh tụng mất đi ý nghĩa bởi thiếu một bên tham gia tranh tụng và bào chữa là chức năng quan trọng không được thực hiện, những phiên tòa không có luật sư bào chữa thì việc tranh tụng diễn ra một chiều.
Thứ hai, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, lần đầu được quy định trong BLTTHS năm 2015, tuy nhiên cho đến nay các Thẩm phán
và Kiểm sát viên chưa được tập huấn chuyên sâu về kỹ năng điều khiển tranh tụng của Chủ tọa phiên tòa và kỹ năng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa.
Thứ ba, BLTTHS năm 2015 không quy định về biện pháp áp dụng trách nhiệm đối với trường hợp Kiểm sát viên không thực hiện nghĩa vụ đối đáp tại phiên tòa để làm rõ sự thật khách quan của vụ án là chưa bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong tranh tụng khi xét xử vụ án hình sự.
Thứ tư, về việc thực hiện trách nhiệm của các chủ thể tiến hành tố tụng khi xét hỏi cũng còn hạn chế, bất cập Có trường hợp Kiểm sát viên còn có
Trang 10định kiến với bị cáo, coi họ đã là tội phạm, chưa quán triệt nguyên tắc suy đoán vô tội; có trường hợp Kiểm sát viên chưa tích cực, chủ động trong việc xét hỏi mà coi việc xét hỏi là nhiệm vụ chính của Chủ tọa phiên tòa Khi phát biểu ý kiến, có trường hợp Kiểm sát viên không căn cứ vào kết quả xét hỏi công khai tại phiên tòa mà căn cứ vào bản cáo trạng đã truy tố bị cáo, mặc dù kết quả xét hỏi công khai tại phiên toà có nhiều nội dung không đúng với bản cáo trạng.
Một số vụ án, tại phiên tòa Hội đồng xét xử chưa điều hành tốt quá trình tranh luận giữa các bên; chưa thực sự chú ý đến những tình tiết, chứng cứ mới của vụ án nên những mâu thuẫn trong chứng cứ và lời khai chưa được làm sáng
tỏ Các tình tiết quan trọng và chứng cứ gỡ tội mà người bào chữa đưa ra có trường hợp không được Hội đồng xét xử quan tâm xem xét, chấp nhận và chưa được đề cập trong bản án Có trường hợp Kiểm sát viên do chưa chuẩn bị tốt, không dự lường được tình huống xảy ra nên khi bị cáo và người bào chữa đưa
ra những chứng cứ mới Kiểm sát viên bị động, lúng túng, né tránh những vấn
đề mà bên gỡ tội nêu ra trái với quan điểm của Kiểm sát viên hoặc trả lời không đi thẳng vào trọng tâm của vấn đề đang tranh luận
Thứ năm, về giới hạn xét xử của Tòa án, tại phiên tòa phán quyết của Tòa án phải dựa trên việc xem xét đánh giá những chứng cứ được đưa ra và tranh luận giữa các bên Tuy nhiên, qua thẩm tra và đánh giá chứng cứ xét thấy bị cáo phạm tội khác nặng hơn Hội đồng xét xử cũng không có quyền ra phán quyết về tội nặng hơn đó, nếu xét xử về tội nặng hơn đó vượt quá thẩm quyền xét xử của Tòa án.
Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố A về tội Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ
chính đáng, qua xem xét toàn diện các chứng cứ và đấu tranh tại phiên tòa có căn cứ kết luận A phạm tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, Tòa án không được ra phán quyết đối với A về tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mà phải trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung, truy tố lại vì liên quan đến giới hạn của việc xét xử Theo quy định tại Điều 298 BLTTHS: “Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố” Trường hợp này, Hội đồng xét xử phải căn cứ vào Điều 280 BLTTHS trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung và truy tố lại vì tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có khung hình phạt cao hơn tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng mà Viện kiểm sát truy tố Như vậy, phải qua những khâu
tố tụng lòng vòng mới giải quyết được vụ án và trong trường hợp này tranh tụng tại phiên tòa chưa phải là căn cứ có tính quyết định, Tòa án không ra được phán quyết cuối cùng
Thứ sáu, một trong những nguyên nhân dẫn đến việc tranh tụng tại phiên tòa chưa đúng với tinh thần tranh tụng đó là yếu tố con người.
Hiện nay cónhiều Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hội thẩm giỏi về chuyên