1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận) tiểu luận môn học pháp luật đại cương đề tài chiếm hữu tài sản trong luật dân sự việt nam

28 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiếm hữu tài sản trong luật dân sự Việt Nam
Tác giả Nhóm Sinh Viên, Nguyễn Hoàng Anh, Trần Thái Vân Hà, Trần Ngọc Kim Khanh, Nguyễn Thị Phương Linh, Đoàn Thành Nam
Người hướng dẫn Th.s Nguyễn Thị Tuyết Nga
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Pháp luật đại cương
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ  TIỂU LUẬN MÔN HỌC PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG ĐỀ TÀI CHIẾM HỮU TÀI SẢN TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM GVHD Th s Nguyễn Thị Tuyết Nga Mã LHP GEL[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



TIỂU LUẬN MÔN HỌC: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

ĐỀ TÀI CHIẾM HỮU TÀI SẢN TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tuyết Nga

Mã LHP: GELA220405_21_3_01CLC

Nguyễn Hoàng Anh 21116336 Trần Thái Vân Hà 21116064 Trần Ngọc Kim Khanh 21116354 Nguyễn Thị Phương Linh 21116356 Đoàn Thành Nam 21116087

Tp Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2022

Trang 2

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN: CHIẾM HỮU TÀI SẢN TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

1 Nguyễn Hoàng Anh

21116336

Viết phần mở đầu, phần 1.1, tổng hợp và làm word

Hoàn thành

2 Trần Thái Vân Hà

21116064

Viết phần 1.2, 1.3

và 2.3

Hoàn thành

3 Trần Ngọc Kim Khanh

21116354

Viết phần 1.2, 1.3

và 2.2

Hoàn thành

4 Nguyễn Thị Phương Linh

21116356

Viết phần 1.1, 2.2

và kết luận

Hoàn thành

21116087

Viết phần 1.2, 1.3

và 2.1

Hoàn thành

Trưởng nhóm: Nguyễn Hoàng Anh

Nhận xét của giáo viên

KÝ TÊN

Trang 3

MỤC LỤC

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ 2

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu 1

3 Mục đích nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục bài tiểu luận 2

B PHẦN NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHIẾM HỮU TÀI SẢN 3

1.1 Khái niệm, phân loại tài sản 3

1.1.1 Khái niệm tài sản 3

1.1.2 Phân loại tài sản 3

1.2 Nội dung quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng và định đoạt) 4

1.2.1 Quyền chiếm hữu 4

1.2.2 Quyền sử dụng 6

1.2.3 Quyền định đoạt 7

1.3 Quy định pháp luật về Chiếm hữu tài sản 8

1.3.1 Các loại chiếm hữu được quy định 8

1.3.2 Chiếm hữu có căn cứ và không có căn cứ theo pháp luật 12

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ CHIẾM HỮU TÀI SẢN 15

2.1 Nhận xét thực trạng chung về Chiếm hữu tài sản 15

2.2 Phân tích các vụ việc chiếm hữu tài sản 19

2.3 Đề xuất giải pháp 22

C PHẦN KẾT LUẬN 24

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội ngày càng phát triển và đi lên mạnh mẽ Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới hiện nay thì vấn đề giao lưu dân sự giữa các quốc gia, các tập đoàn, công ty, các tổ chức, cá nhân công dân cũng được phát triển mạnh mẽ Quan hệ tài sản là một trong những quan hệ quan trọng nằm trong đối tượng điều chỉnh của luật dân sự cũng cùng đó mà được phát triển và mở rộng hơn Quan hệ này là quan hệ giữa người với người thông qua một tài sản Vậy để quản lý tốt hơn các mặt trong quan hệ tài sản thì cần thiết phải đặt ra những quy định đúng đắn và chính xác về chế định tài sản Tài sản luôn được đánh giá là biểu hiện cho sự phát triển văn minh của xã hội loài người, là điều hết sức quan trọng và cần thiết để duy trì một đời sống kinh tế vững mạnh và phát triển Việc nghiên cứu mang tính lý luận về chiếm hữu tài sản sẽ mang ý nghĩa to lớn trong công tác quản lý xã hội của nhà nước, cũng như phát hiện được những hạn chế còn tồn tại trong pháp luật hiện hành quy định về tài sản ở nước hiện nay rồi từ đó tìm hướng giải quyết Bộ luật Dân sự 2015 (bộ luật hiện hành của nước ta) có các quy định

về vấn đề chiếm hữu tài sản

Vì thế nhóm chúng em quyết định lấy đề tài “Chiếm hữu tài sản trong Luật dân

sự Việt Nam” làm đề tài tiểu luận nhằm tập trung nghiên cứu, hiểu biết sâu hơn về các vấn đề lý luận và thực tiễn của việc chiếm hữu tài sản ngày nay Qua đó, giúp mọi người có cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về vấn đề chiếm hữu tài sản đồng thời đề xuất phương hướng để hoàn thiện quy định của pháp luật.

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là các quy định dân sự của pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan đến chiếm hữu tài sản trong để từ đó đứa ra nhận xét, bình luận và giải pháp.

3 Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu cho phần lý thuyết: Đề tài cung cấp hệ thống kiến thức về chiếm hữu tài sản trong Luật dân sự Dựa vào đó đi sâu nghiên cứu về những vấn đề của chiếm

Trang 5

hữu tài sản trong thực tiễn và chỉ ra được bản chất, ý nghĩa của tài sản trong dân sự cũng như đối với Nhà nước trong việc điều hành và quản lý đất nước

Mục tiêu cho phần liên hệ thực tiễn: Rút ra bài học, kinh nghiệm từ những liên

hệ thực tiễn để dễ dàng và thuận lợi cho việc vận dụng những thành tựu của thực tiễn vào trong việc phát triển và vận hành nền kinh tế đất nước.

4 Phương pháp nghiên cứu

Tham khảo và trích lược các nguồn tài liệu sơ cấp như văn bản pháp luật để làm cơ sở cho việc xác định các khái niệm xuất hiện trong đề tài

Tiểu luận sử dụng và vận dụng các cơ sở lý luận trong giáo trình, các phương pháp nghiên cứu định tính, phân tích hệ thống, suy luận logic, phương pháp so sánh, đối chiếu,… để làm sáng tỏ và làm rõ các nội dung nghiện cứu, đồng thời học hỏi tiếp thu có phê phán và chọn lọc những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài.

5 Bố cục bài tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì bài tiểu luận được chia làm hai phần:

Chương 1: Quy định của pháp luật về Chiếm hữu tài sản

Chương 2: Thực trạng áp dụng quy định về Chiếm hữu tài sản

Trong quá trình thực hiện đề tài “Chiếm hữu tài sản trong Luật dân sự Việt Nam”, với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của sinh viên, bài báo cáo này không thể tránh được những thiếu sót Chúng em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến từ cô để chúng em có điều kiện bổ sung, nâng cao ý thức và kiến thức của mình, phục vụ tốt hơn cho quá trình học tập sau này

Một lần nữa chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHIẾM HỮU TÀI SẢN

1.1 Khái niệm, phân loại tài sản

1.1.1 Khái niệm tài sản

Tài sản là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng phổ biến trong xã hội có tư hữu, có nhà nước và có pháp luật Theo Bộ luật dân sự năm 2015 “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá

để chỉ những vật mà con người có thể chiếm hữu được, chi phối được, có thể cân, đo, đong đếm, xác định được bề rộng, bề dài, theo sự tồn tại và vật hình thành trong tương lai và con người phải khai thác được, sử dụng được phục vụ cho lợi ích của mình Như vậy, ngoài yếu

tố là bộ phận của yếu tố vật chất, đáp ứng được nhu cầu của con người, vật có thực với tính cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự Xét về mặt vật lý, vật chất tồn tại dưới ba dạng: rắn, lỏng, khí

Xét theo cấu tạo hóa, lý, sinh và công dụng của vật thì: vật còn được xác định là vật chính và vật phụ (Điều 110, ví dụ: điện thoại là vật chính, vỏ ốp của chiếc điện thoại đấy là vật phụ), vật chia được và vật không chia được (Điều 111, ví dụ: gạo, xăng, dầu là những vật chia được; giường, tủ, bàn là những vật không chia được), vật tiêu hao và vật không tiêu hao (Điều 112, ví dụ: xà phòng qua một lần sử dụng bị giảm trọng lượng là vật tiêu hao; ngôi nhà, chiếc xe ô tô là vật không tiêu hao), vật cùng loại và vật đặc định (Điều 113, ví dụ: gạo, sữa

là vật cùng loại còn bức tranh nàng Monalisa có chữ kí tác giả là vật đặc định), vật đồng bộ (Điều 114, ví dụ: đôi giày) Cách phân loại vật trong BLDS là căn cứ để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ có đối tượng là vật trong việc chuyển giao, đồng thời là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp có đối tượng là vật phát sinh từ các quan hệ nghĩa vụ và hợp đồng dân sự cụ thể

Xét về chế độ pháp lý, vật được phân loại là: vật tự do lưu thông (vật lưu thông không cần điều kiện, được tự do mua bán, thuê, mượn, tặng cho,… và là giao dịch của các

Trang 7

giao dịch dân sự), vật hạn chế lưu thông (vật khi lưu thông cần điều kiện về chủ thể, hình thức, thủ tục,… nhất định VD: dược phẩm) và vật cấm lưu thông (là những vật tuyệt đối không được lưu thông dân sự VD: ma túy)

- Tài sản là tiền:

Tiền theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó đang có giá trị lưu hành trên thực tế Tiền có các chức năng như trao đổi, thanh toán, dự trữ và khi xét về mặt chủ quyền quốc gia thì tiền có chức năng bình ổn giá cả và giữ chủ quyền quốc gia Tuy nhiên, chỉ có tiền mệnh giá Việt Nam đồng (VNĐ) mới được lưu thông trong giao dịch dân

sự Việt Nam

- Tài sản là giấy tờ có giá:

Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự Theo Điều

4 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005, giấy tờ có giá là trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu,… Tuy nhiên, các loại giấy tờ như: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, sổ hưu trí, sổ tiết kiệm, giấy biên một khoản nợ không phải là giấy tờ có giá; chỉ có tài khoản dư trong ngân hàng hay cơ sở quỹ tiết kiệm mới là tài sản

- Tài sản là quyền tài sản:

Điều 115 BLDS 2015 quy định về quyền tài sản như sau: “Quyền tài sản là quyền

trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền

sử dụng đất và các quyền tài sản khác” Khái quát hơn, quyền tài sản là các quyền trị giá được

bằng tiền, có thể chuyển giao được trong quan hệ pháp luật dân sự

1.2 Nội dung quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng và định đoạt)

1.2.1 Quyền chiếm hữu

a Khái niệm của chiếm hữu

Chiếm hữu là một trong những nội dung của quyền sở hữu Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản, nếu được chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp luật quy định thuộc quyền của chủ sở hữu

Trang 8

Điều 179 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.” Đây là

lần đầu tiên tron Bộ luật Dân sự, các nhà làm luật quy định về khái niệm chiếm hữu

b Phân loại quyền chiếm hữu

Chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản bao gồm chủ sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu ủy quyền, người có quyền chiếm hữu tài sản trên cơ sở một giao dịch dân sự hợp pháp, người được nhà nước giao quyền chiếm hữu thông qua một quyết định có hiệu lực hoặc qua một bản án có hiệu lực pháp luật, người chiếm hữu không theo ý chí của chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền

- Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu:

Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội

- Quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản:

Người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản thực hiện việc chiếm hữu tài sản

đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định

Người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này

- Quyền chiếm hữu của người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự: Khi chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội dung không bao gồm việc chuyển quyền sở hữu thì người được giao tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch

Người được giao tài sản có quyền sử dụng tài sản được giao, được chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đó cho người khác nếu được chủ sở hữu đồng ý

Người được giao tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này

Các chủ thể nắm giữ và chi phối tài sản tức là trực tiếp quản lý, tác động vào tài sản theo ý chí của mình nhằm duy trì tình trạng tài sản theo ý chí của mình nhằm duy trì tình trạng tài sản theo ý chí của mình Chủ thể có thể bằng hành vi của mình thực hiện việc chiếm hữu goi là chiếm hữu trực tiếp Chủ thể thực hiện việc chiếm hữu thông qua hành vi của người khác gọi là chiếm hữu gián tiếp Trường hợp này người chiếm hữu giao tài sản của mình cho

Trang 9

người khác kiểm soát, vì vậy người kiểm soát tài sản phải thực hiện các hành vi mà người chiếm hữu cho phép

Chiếm hữu của các chủ thể không phải là chủ sở hữu được quy định từ điều 228 đến

điều 233 và điều 236 là căn cứ để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu

c Bảo vệ việc chiếm hữu

Nếu việc chiếm hữu bị người khác xâm phạm, người chiếm hữu có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm đó phải chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại

Về trường hợp đòi lại tài sản: Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó

Nếu trường hợp chủ sở hữu quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của

chủ sở hữu

1.2.2 Quyền sử dụng

Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng và khai thác những lợi ích vật chất của tài sản trong phạm vi pháp luật cho phép Nguyên tắc chung là việc khai thác những giá trị sử dụng của tài sản nhằm để thoả mãn những nhu cầu về sinh hoạt vật chất hoặc tinh thần cho bản thân mình

Thực hiện quyền sử dụng còn là việc dựa vào tính năng của vật mà con người khai thác lợi ích vật chất của chúng để thoả mãn các nhu cầu trong sản xuất, kinh doanh Ngoài ra, việc khai thác lợi ích vật chất của tài sản còn bao gồm cả việc thu nhận những kết quả của tài sản do tự nhiên mang lại như hưởng trứng do gia cầm đẻ ra, hoa quả trên cây, gia súc nhỏ do

mẹ chúng sinh ra

Trang 10

Như vậy, việc sử dụng tài sản là một trong những quyền năng quan trọng và có ý nghĩa thực tế của chủ sở hữu Chủ sở hữu có toàn quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức của tài sản theo ý chí tuỳ nghi của mình Thông thường, chủ sở hữu trực tiếp sử dụng tài sản của mình nhưng có thể được chuyển giao cho người khác trên cơ sở một hợp đồng hợp pháp của chủ sở hữu

Trong một số trường hợp khác mà pháp luật quy định, cơ quan hoặc tổ chức cũng

có quyền sử dụng tài sản trên cơ sở một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ví dụ:

Cơ quan, tổ chức sử dụng tài sản bị trưng dụng

Do sự phát triển nhanh của khoa học kĩ thuật nên có trường hợp chủ sở hữu không

đủ trình độ chuyên môn để sử dụng những tài sản là các phương tiện kĩ thuật hiện đại Ví dụ: Việc sử dụng máy vi tính, xe ô tô, các thiết bị kĩ thuật khác Trong trường hợp này chủ sở hữu phải thông qua người thứ ba để thực hiện quyền sử dụng tài sản thì mới khai thác được các lợi ích vật chất, tính năng của tài sản

Vì vậy có hai đối tượng được áp dụng quyền sử dụng:

- Quyền sử dụng của chủ sở hữu: Chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

- Quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu: Người không phải là chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo thỏa thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật

1.2.3 Quyền định đoạt

Điều 192 Bộ luật dân sự quy định Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản

a Phân loại quyền định đoạt

Chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt biểu hiện ở hai khía cạnh:

- Định đoạt về số phận thực tế của các vật:

Định đoạt về số phận thực tế của các vật (làm cho vật không còn trong thực tế nữa) như: tiêu dùng hết, huy bố, hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với vật Trong việc định đoạt số phận thực tế của vật, chủ sở hữu chỉ cần bằng hành vi của mình tác động trực tiếp đến vật

- Định đoạt về số phận pháp lý của pháp luật:

Định đoạt về số phận pháp lý của vật là việc làm chuyển giao quyền sở hữu đối vổi vật từ người này sang người khác Thông thường định đoạt về số phận pháp lý của vật phải

Trang 11

thông qua các giao dịch phù hợp với ý chí của chủ sỡ hữu như bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế… thông qua việc định đoạt mà chủ sở hữu có thể tiêu dùng hết; chuyển quyền chiếm hữu tạm thời (trong hợp đồng gửi giữ); quyển chiếm hữu và quyện sử dụng tài sản trong một khoảng thời hạn (trong hợp đổng cho thuê, cho mượn) hoặc chủ sở hữu chuyển giao quyển sở hữu tài sản cho người khác bằng hợp đổng bán, đổi, cho…

Trong việc định đoạt về số phận pháp lý chủ sở hữu phải thiết lập với chủ thể khác một quan hệ pháp luật dân sự Đối với hình thức định đoạt này, BLDS đã quy định: Người định đoạt tài sản phải là người có năng lực hành vi Nghĩa là, người đó phải có đầy đủ tư cách chủ thể Trong những trường hợp tài sàn ít giá trị (chủ yếu là động sản) việc thực hiện quyền định đoạt có thể bằng phương thức giản đơn: thoả thuận miệng, chuyển giao ngay tài sản… nhưng trong những trường hợp pháp luật cố quy định trình tự, thủ tục, thì phải tuân theo những quy định đó

Việc một người thực hiện quyền định đoạt đối với vật sẽ làm chấm dứt hoặc thay đổi các quan hệ pháp lụật liên quan đến vật đó

Ví dụ: Tiêu dùng hết tài sản sẽ làm chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản đó Khi bán một tài sản sẽ làm chấm dứt quyền sở hữu của người đã bán nhưng lại làm phát sinh quyền sở hữu về tài sản đó đến với người mua

b Hạn chế quyền định đoạt:

- Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do luật quy định

- Khi tài sản đem bán là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hoá theo quy định của Luật di sản văn hóa thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua

- Trường hợp cá nhân, pháp nhân có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó

1.3 Quy định pháp luật về Chiếm hữu tài sản

1.3.1 Các loại chiếm hữu được quy định

a Chiếm hữu ngay tình

Điều 180 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về chiếm hữu ngày tình như sau: "Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu

Trang 12

Chiếm hữu ngay tình là việc người chiếm hữu có lý do để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu Trường hợp giao dịch dân sự không thể thực hiện được việc thu lợi, lợi tức của một bên thì không phải nộp lại hoa lợi, lợi tức đó

Khi giao dịch dân sự vô hiệu mà tài sản đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì tài sản đó được chuyển giao cho bên thứ ba ngay tình mà trên cơ sở đăng ký, thông qua một giao dịch dân sự khác Nếu giao dịch được xác lập và thực hiện thì giao dịch

đó không bị vô hiệu, trong trường hợp trên, chủ sở hữu khởi kiện, cho rằng chủ thể có lỗi trong việc xác lập giao dịch, hoàn trả phí và bồi thường thiệt hại Khi sử dụng vật liệu độc quyền để tạo ra một sản phẩm khác, chủ sở hữu của vật liệu là chủ sở hữu hợp pháp của sản phẩm Sử dụng tài liệu của người khác mà có thiện ý với chủ sở hữu thì phải bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu đó Nếu người nhận gia công không trung thực thì chủ sở hữu nguyên vật liệu có quyền yêu cầu trả lại sản phẩm mới; nếu có nhiều chủ sở hữu nguyên vật liệu thì những người này là chủ sở hữu chung theo tỷ lệ hiện vật mới tạo ra, tương ứng với giá trị vật chất của mỗi người

Chủ sở hữu nguyên liệu thô được chế biến độc hại có quyền yêu cầu bên nhận gia công bồi thường thiệt hại Khái niệm chiếm hữu ngay tình được đặt cùng với các khái niệm chiếm hữu có căn cứ pháp luật, chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu tài sản Trong trường hợp chiếm hữu hợp pháp mà người chiếm hữu không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu là không có căn cứ pháp luật Người chiếm hữu phải tiếp tục trả lại tài sản cho chủ sở hữu, nhưng nếu việc chiếm hữu diễn ra liên tục, công khai thì người chiếm hữu hợp pháp được hưởng hoa lợi, lợi ích về tài sản trong một thời gian nhất định theo Điều 236 Bộ luật dân sự 2015 Theo đó, người chiếm hữu, người được lợi

về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ

thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

b Chiếm hữu không ngay tình

- Điều 181 Chiếm hữu không ngay tình

Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu

Trường hợp người chế biến không ngay tình thì chủ sở hữu nguyên vật liệu có quyền yêu cầu giao lại vật mới; nếu có nhiều chủ sở hữu nguyên vật liệu thì những người này là

Trang 13

đồng chủ sở hữu theo phần đối với vật mới được tạo thành, tương ứng với giá trị nguyên vật liệu của mỗi người Chủ sở hữu nguyên vật liệu bị chế biến không ngay tình có quyền yêu cầu người chế biến bồi thường thiệt hại

Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn

cứ pháp luật và không ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật

Theo đó, có hai trường hợp để nhận biết hành vi chiếm hữu không ngay tình:

Đó là chủ thể biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu hoặc chủ thể phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu

Thường người đang chiếm hữu sẽ được suy đoán là có quyền đối với tài sản và người nào tranh chấp quyền đối với người đang chiếm hữu tài sản thì phải tự mình chứng minh dựa vào những căn cứ luật định trong Bộ luật dân sự năm 2015 về “chiếm hữu có căn

cứ hay không có căn cứ pháp luật” để chứng minh

c Chiếm hữu liên tục

Chiếm hữu liên tục là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian

mà không có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu

Việc chiếm hữu không liên tục không được coi là căn cứ để suy đoán về tình trạng

và quyền của người chiếm hữu được quy định tại Điều 184 của Bộ luật này

- Người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình; người nào cho rằng người chiếm hữu không ngay tình thì phải chứng minh

- Trường hợp có tranh chấp về quyền đối với tài sản thì người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền đó Người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh về việc người chiếm hữu không có quyền

- Người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được áp dụng thời hiệu hưởng quyền và được hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan

Như vậy, Chiếm hữu liên tục được hiểu là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án

Trang 14

hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu

Hành vi chiếm hữu không liên tục sẽ không được pháp luật bảo vệ bởi nó không được coi là căn cứ để suy đoán về tình trạng của người chiếm hữu là ngay tình và được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu

d Chiếm hữu công khai

Điều 183 Bộ luật dân sự 2015 có quy định: “Chiếm hữu công khai là việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình.”

Hành vi chiếm hữu công khai được giải thích theo hình thức diễn giải từ nghĩa: công khai là minh bạch, không giấu giếm Tiếp theo, hành vi chiếm hữu công khai được cụ thể dưới 2 góc độ: chiếm hữu kèm sử dụng (tài sản được người chiếm hữu sử dụng theo đúng tính năng, công dụng của tài sản), chiếm hữu kèm theo bảo quản (người chiếm hữu phải có ý thức bảo quản và áp dụng các biện pháp bảo quản tài sản, giữ gìn tài sản như chính tài sản của mình)

Hành vi chiếm hữu không công khai thì pháp luật sẽ không bảo vệ, bởi nó không được xem là căn cứ để suy đoán về tình trạng chiếm hữu ngay tình của một người Chỉ khi nào người chiếm hữu công khai, ngay tình, liên tục trong khoảng thời gian luật định thì mới được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản chiếm hữu

e Suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu

- Điều 184 Suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu

 Người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình; người nào cho rằng người chiếm hữu không ngay tình thì phải chứng minh

 Trường hợp có tranh chấp về quyền đối với tài sản thì người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền đó Người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh

về việc người chiếm hữu không có quyền

 Người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được áp dụng thời hiệu hưởng quyền và được hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan

Ngày đăng: 10/05/2023, 15:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w