1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận) thực trạng phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của sinh viên khoá k15 chuyên nghành kỹ thuật phần mềm, khoa công nghệ thông tin

40 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của sinh viên khóa K15 ngành kỹ thuật phần mềm, khoa công nghệ thông tin
Tác giả Nguyễn Văn Mơ
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Duy Phương
Trường học Trường Đại Học Gia Định
Chuyên ngành Kỹ thuật phần mềm
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 241,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương I Cơ sở lí luận (6)
    • 1. Tư duy (6)
      • 1.1. Khái niệm (6)
      • 1.2. Phân loại tư duy (6)
      • 1.3. Các cấp độ tư duy (8)
      • 1.4. Vấn đề về tư duy (10)
    • 2. Khái niệm sáng tạo và tư duy sáng tạo (11)
      • 2.1. Định nghĩa về sáng tạo và tư duy sáng tạo (11)
      • 2.2. Các cấp độ sáng tạo (14)
      • 2.3. Thành phần của sáng tạo (15)
      • 2.4. Phân loại sáng tạo (17)
      • 2.5. Vấn đề của sáng tạo (18)
  • CHƯƠNG II. Thực trạng phát triển “ tư duy đổi mới sáng tạo “ của sinh viên nghành kỹ thuật phần mềm khoá 15, khoa Công nghệ thông tin, trường đại học Gia Định (19)
    • 1. Phát biểu vấn đề (19)
    • 2. Lí do khách quan của vấn đề (21)
    • 3. Lí do chủ quan của vấn đề (21)
    • 4. Thực trạng phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của sinh viên (22)
    • 5. Đánh giá vấn đề (24)
  • Chương III. Kết luận (27)
    • 1. Các giải pháp cho vấn đề (27)
    • 2. Thực trạng, các giải pháp và bài học rút kinh nghệm từ bản thân (36)
      • 2.1. Thực trạng của bản thân (36)
      • 2.2. Các giải pháp và bài học rút kinh nghiệm của bản thân (36)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIA ĐỊNH KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN MÔN TƯ DUY PHẢN BIỆN, TƯ DUY TÍCH CỰC VÀ TƯ DUY ĐỔI MỚI SÁNG TẠO ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN “ TƯ DUY ĐỔI MỚI SÁNG TẠO “ CỦA SINH VIÊN KHOÁ K15 CHUYÊN[.]

Cơ sở lí luận

Tư duy

Tư duy, từ góc độ sinh lý học, là hoạt động của hệ thần kinh, thể hiện qua việc tạo ra các liên kết giữa các phần tử đã được ghi nhớ và kích thích chúng để nhận thức thế giới xung quanh, từ đó định hướng hành vi phù hợp với môi trường sống.

Tư duy, từ góc độ tâm lý học, được xem là một hiện tượng tâm lý và là hoạt động nhận thức cao cấp của con người Nó phản ánh những thuộc tính bản chất, mối liên hệ và quan hệ bên trong, đồng thời thể hiện tính chất qui luật của các sự vật và hiện tượng trong thực tế khách quan.

Tư duy không chỉ giúp giải quyết các nhiệm vụ hiện tại mà còn chuẩn bị cho những thách thức trong tương lai Nó tiếp nhận và tổ chức thông tin, làm cho những dữ liệu này trở nên có ý nghĩa hơn trong các hoạt động của con người.

Cơ sở sinh lý của tư duy nằm ở hoạt động của vỏ đại não, nơi diễn ra các hoạt động trí tuệ Tư duy nhằm mục đích khám phá triết lý, lý luận, phương pháp luận, và các giải pháp cho những tình huống trong hoạt động của con người.

Có nhiều phương pháp để phân loại tư duy, và dưới đây là một số phân loại phổ biến Theo GS.VS Nguyễn Cảnh Toàn, GS.TS Nguyễn Văn Lê và nhà giáo Châu An, tư duy được chia thành các loại khác nhau.

- Các loại tư duy cơ bản, phổ biến: tư duy logic (dựa trên luật bài trung và tam đoạn luận), tư duy biện chứng và tư duy hình tượng

Tư duy được phân loại thành 4 bậc dựa trên mức độ độc lập, bao gồm tư duy lệ thuộc, tư duy độc lập, tư duy phê phán (phản biện) và tư duy sáng tạo.

- Xét đặc điểm của đối tượng để tư duy, tư duy được chia ra làm 2 loại: tư duy trừu tượng và tư duy cụ thể

Theo GS.TS Nguyễn Quang Uẩn và nhiều tác giả nghiên cứu về tâm lý học đại cương, tư duy được phân loại như sau:

- Xét về mức độ phát triển của tư duy có thể chia tư duy làm 3 loại:

Tư duy trực quan – hành động (con người giải quyết nhiệm vụ bằng những hành động cụ thể, thực tế);

Tư duy trực quan – hình ảnh (tư duy phụ thuộc vào hình ảnh của đối tượng đang tri giác);

Tư duy trừu tượng (giải quyết nhiệm vụ dựa trên việc sử dụng các khái niệm, các kết cấu logic, được tồn tại và vận hành nhờ ngôn ngữ).

- Xét theo hình thức biểu hiện của nhiệm vụ và phương thức giải quyết vấn đề, có:

 Tư duy thực hành (nhiệm vụ được đề ra một cách trực quan, dưới hình thức cụ thể, phương thức giải quyết là những hành động thực hành);

 Tư duy hình ảnh cụ thể (giải quyết nhiệm vụ dựa trên những hình ảnh trực quan đã có);

Tư duy lý luận là quá trình giải quyết nhiệm vụ thông qua việc sử dụng các khái niệm trừu tượng và tri thức lý luận.

1.3 Các cấp độ tư duy

Theo nhà giáo dục Mỹ Benjamin S Bloom, tư duy của con người gồm 6 cấp độ, thường được gọi tắt là Thang Bloom (1956) hay Bảng phân loại Bloom (Bloom’s Taxonomy):

- Cấp độ 1: Biết (Knowledge) – có thể nhắc lại những tài liệu đã học trước đó bằng cách gợi nhớ các sự kiện, thuật ngữ và khái niệm cơ bản

- Cấp độ 2: Hiểu (Comprehension) – chứng tỏ việc hiểu vấn đề và ý tưởng thông qua khả năng sắp xếp, so sánh, diễn giải trình bày các ý chính

Cấp độ 3: Vận dụng (Application) – Đây là giai đoạn mà người học giải quyết các vấn đề bằng cách áp dụng kiến thức đã học, kết hợp với các sự kiện, phương pháp và quy tắc theo nhiều cách khác nhau.

Cấp độ 4: Phân tích (Analysis) là quá trình nghiên cứu và phân chia thông tin thành các phần nhỏ hơn bằng cách xác định động cơ và lý do Qua đó, người phân tích tạo ra các lập luận và tìm kiếm các luận cứ để hỗ trợ cho việc khái quát hóa thông tin.

- Cấp độ 5: Tổng hợp (Synthesis) – biên soạn và tổng hợp thông tin lại với nhau theo những cách khác nhau, đề xuất những giải pháp thay thế

Cấp độ 6 trong quá trình đánh giá (Evaluation) yêu cầu người thực hiện trình bày và bảo vệ ý kiến của mình thông qua việc đưa ra những phán đoán về thông tin, tính hợp lý của các quan điểm hoặc chất lượng công việc Điều này được thực hiện dựa trên các tiêu chí và chuẩn mực đã được xác định.

Vào giữa thập niên 1990, Lorin Anderson, học trò của Benjamin Bloom, cùng với một số cộng sự đã nhận thấy thang phân loại chưa hoàn chỉnh và đề xuất sự điều chỉnh cần thiết (Pohl, 2000).

Cấp độ 1: Nhớ (Remembering) là khả năng nhắc lại thông tin đã tiếp nhận trước đó, chẳng hạn như viết lại một công thức, đọc lại một bài thơ, mô tả một sự kiện, hoặc nhận biết phương án đúng.

Cấp độ 2: Hiểu (Understanding) yêu cầu người học nắm bắt ý nghĩa của thông tin, thể hiện các định luật, phân biệt cách sử dụng các thiết bị, viết tóm tắt một bài báo và trình bày quan điểm cá nhân.

Cấp độ 3: Vận dụng (Applying) đề cập đến việc sử dụng thông tin đã biết trong các tình huống và điều kiện mới Ví dụ, người học có thể vận dụng một định luật để giải thích một hiện tượng, áp dụng một công thức để thực hiện các phép tính, hoặc tiến hành một thí nghiệm dựa trên quy trình đã được thiết lập.

Cấp độ 4: Phân tích (Analyzing) liên quan đến việc chia nhỏ thông tin và chỉ ra mối liên hệ của chúng với tổng thể Ví dụ, có thể lý giải nguyên nhân thất bại của một doanh nghiệp, hệ thống hóa các văn bản pháp quy, và xây dựng biểu đồ phát triển của doanh nghiệp.

Khái niệm sáng tạo và tư duy sáng tạo

2.1 Định nghĩa về sáng tạo và tư duy sáng tạo

Sáng tạo, theo từ điển triết học, là quá trình con người tạo ra giá trị mới về chất trong các lĩnh vực như khoa học, kỹ thuật, và nghệ thuật Nó hiện diện trong mọi khía cạnh của cuộc sống, với sự mới mẻ là yếu tố cốt lõi, không thể đánh giá bằng tiêu chuẩn cụ thể Nhà tâm lý học L.X Vưgốtxki nhấn mạnh rằng sáng tạo không chỉ giới hạn ở những tác phẩm vĩ đại mà còn tồn tại trong mọi hành động tưởng tượng và biến đổi của con người Trong cuộc sống hàng ngày, sáng tạo là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại, với mọi điều vượt qua khuôn khổ cũ đều bắt nguồn từ quá trình sáng tạo Giá trị mới được tạo ra có thể được coi là hữu ích hay có hại tùy thuộc vào quan điểm của người sử dụng Theo GS.TS Phạm Thành Nghị, sáng tạo là quá trình tiến tới cái mới, được đánh giá qua sản phẩm độc đáo và có giá trị TS Huỳnh Văn Sơn xác định sáng tạo có ba thuộc tính cơ bản.

- Tính mới mẻ: Sáng tạo phải tạo ra cái gì đó mới mẻ, có thể là mới đối với cá nhân hoặc mới đối với xã hội

- Tính độc lập – tự lập:

Tính độc lập và tự lập không chỉ tồn tại trong tư duy mà còn trong hoạt động, không đồng nghĩa với sự cô đơn mà vẫn cho phép sự phối hợp giữa các cá nhân Mỗi cá nhân hay tổ chức đều cần có tư duy độc lập để phát triển ý tưởng và khám phá giải pháp mới Chính nhờ vào tư duy độc lập, sự sáng tạo mới có thể nảy sinh và phát triển.

Sáng tạo phải tạo ra cái mới nhưng cái mới ấy phải đảm bảo tính hiện thực, phục vụ cho lợi ích của con người và xã hội.

Sáng tạo được hiểu là quá trình tìm ra cái mới và cách giải quyết mới có giá trị, thể hiện qua ý tưởng và sản phẩm ở cả cấp độ cá nhân và xã hội Nó gắn liền với sự thay đổi, đổi mới, và phát triển các phương án lựa chọn độc đáo Sự sáng tạo không chỉ thuộc về năng lực ra quyết định mà còn là khả năng kết hợp và liên tưởng để tạo ra ý tưởng mới có ích Mọi người có thể sử dụng tính sáng tạo để phát triển các phương án, làm phong phú khả năng và tưởng tượng hậu quả Tư duy sáng tạo là một quá trình độc đáo, không chỉ đơn thuần là thao tác với thông tin đã biết mà còn là cách nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau.

"nhìn" theo những cách không bị hạn chế bởi thói quen, bởi phong tục, bởi tiêu chuẩn ”

Tư duy sáng tạo được hiểu là:

Khả năng giải quyết vấn đề hiệu quả thông qua việc tạo ra những giải pháp mới và sáng tạo là rất quan trọng Điều này không chỉ dựa trên việc phân tích các lựa chọn tốt nhất mà còn hướng đến xu thế tối ưu Tư duy sáng tạo được định nghĩa là cách nhìn nhận vấn đề, sự việc, và con người theo những cách khác biệt so với quan điểm thông thường Nó bao gồm việc sử dụng kiến thức hiện có và thay đổi bối cảnh để phát triển những ý tưởng mới mẻ, giúp nhìn nhận những điều quen thuộc từ một góc độ khác.

Tư duy sáng tạo phát triển từ tư duy phản biện, là quá trình phân tích và đánh giá thông tin theo nhiều cách nhìn khác nhau để làm sáng tỏ vấn đề Cơ sở của tư duy sáng tạo là phép phân kỳ, giúp cá nhân tìm ra nhiều phương pháp giải quyết khác nhau Đây là lĩnh vực nghiên cứu mới, nhằm kích hoạt khả năng sáng tạo và tăng cường tư duy cho cá nhân hoặc tập thể Ứng dụng của tư duy sáng tạo không chỉ giới hạn trong khoa học kỹ thuật mà còn mở rộng sang chính trị, kinh tế, xã hội, nghệ thuật và các phát minh Học kỹ năng tư duy sáng tạo là học các kỹ thuật để tiếp cận và giải quyết vấn đề một cách linh hoạt và mới mẻ, thoát ra khỏi lối mòn tư duy.

2.2 Các cấp độ sáng tạo

Sáng tạo có thể được biểu đạt ở các cấp độ khác nhau Có thể chia sáng tạo thành 5 cấp độ sau:

Sáng tạo biểu đạt là việc thể hiện các mối quan hệ và liên tưởng trong cuộc sống hàng ngày và sản phẩm lao động Nó có thể xuất hiện trong giao tiếp qua việc diễn đạt ý tưởng một cách hóm hỉnh, cải biến các quan hệ lao động, và mang đến những chi tiết mới trong sản phẩm.

Sáng chế là quá trình tạo ra những sản phẩm, công cụ mới mà chưa từng tồn tại trong tự nhiên và đời sống con người, dựa trên kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn.

Phát minh là quá trình khám phá các quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy đã tồn tại nhưng chưa được con người nhận biết Những quy luật này luôn hiện hữu và tác động đến cuộc sống, nhưng chỉ khi được phát hiện, chúng mới có thể mang lại giá trị cho nhân loại.

Sáng tạo ở mức cải biến đề cập đến những thay đổi quan trọng được tạo ra thông qua các đột phá trong khoa học và công nghệ Những phát minh và sáng chế trong nhiều lĩnh vực đã góp phần thay đổi xã hội, đồng thời thay đổi cách nhìn nhận và xử lý tình huống một cách tổng thể Sự tham gia của nhiều nhà khoa học và các ngành công nghệ khác nhau là yếu tố then chốt trong việc cải biến thực tiễn.

- Sáng tạo có thể tạo ra các lĩnh vực, ngành nghề mới

2.3 Thành phần của sáng tạo

Nhà khoa học Teresa Amabile cho rằng sáng tạo bao gồm 3 thành phần:

(1) Sự thông thạo kiến thức;

(2) Những kỹ năng tư duy sáng tạo;

(3) Động cơ Mô hình 3 nhân tố hình thành sự sáng tạo cá nhân

Sự thông thạo kiến thức:

Để phát triển phần mềm mới, các lập trình viên cần nắm vững kỹ thuật lập trình và quy trình tạo ra phần mềm Tương tự, những nhà soạn nhạc tài ba cũng phải có kiến thức sâu rộng về âm nhạc Sự sáng tạo gia tăng khi chúng ta có nhiều kiến thức trong một lĩnh vực, và một định nghĩa khác về sáng tạo là “khả năng sắp xếp những thứ đã có sẵn theo một trật tự mới” Nguyên liệu cho sự sáng tạo chính là kiến thức, là nền tảng cho tư duy của mỗi người Tuy nhiên, kiến thức chỉ là điều kiện cần, không đủ để tạo ra ý tưởng mới Nhiều người có kiến thức sâu sắc nhưng không thể đưa ra ý tưởng sáng tạo vì họ chưa bao giờ suy nghĩ theo hướng mới Do đó, kỹ năng tư duy sáng tạo là yếu tố quan trọng quyết định khả năng sáng tạo của chúng ta.

Kỹ năng tư duy sáng tạo là cách tiếp cận vấn đề một cách linh hoạt và giàu trí tưởng tượng Những giải pháp được đưa ra từ tư duy sáng tạo thường vượt ra ngoài những suy nghĩ thông thường Thuật ngữ này mô tả khả năng "suy nghĩ ra ngoài chiếc hộp", tức là những ý tưởng vượt qua các lề thói thông thường mà chúng ta thường gặp trong cuộc sống hàng ngày.

Động cơ là yếu tố thúc đẩy cá nhân tìm ra giải pháp sáng tạo, quy định phương hướng và cường độ hoạt động Nó thể hiện qua tinh thần say mê và tính tích cực, chủ yếu nhờ vào hứng thú và sự thỏa mãn nhu cầu khám phá ý tưởng mới Câu nói “cái khó ló cái khôn” phản ánh rằng trong hoàn cảnh khó khăn, con người mới có động lực để tìm kiếm giải pháp Động cơ có thể là hướng nội hoặc hướng ngoại; các yếu tố bên ngoài như môi trường, phần thưởng và hình phạt có thể kích thích khả năng sáng tạo Tuy nhiên, động cơ bên trong, như niềm đam mê về một lĩnh vực, cũng rất quan trọng cho sự sáng tạo, như Daniel Pink đã chỉ ra trong cuốn sách Động lực 3.0 Ở thế kỷ 21, với yêu cầu ngày càng cao về sự sáng tạo, các công ty cần tạo điều kiện để nhân viên phát huy đam mê trong công việc của họ.

Phân tích cho thấy rằng sự sáng tạo có thể được phát triển thông qua ba yếu tố quan trọng: kiến thức, kỹ năng tư duy sáng tạo và động lực.

Để sáng tạo hiệu quả trong bất kỳ lĩnh vực nào, trước tiên cần nắm vững kiến thức chuyên môn Sáng tạo không chỉ nhằm mục đích phát triển ý tưởng mới mà còn phải ứng dụng kiến thức nhân loại để cải thiện cuộc sống một cách nhanh chóng và hiệu quả Chỉ khi hiểu rõ nền tảng khoa học hiện tại, chúng ta mới có thể đưa ra những sáng kiến giá trị.

Chúng ta cần phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo để tiếp cận vấn đề một cách linh hoạt, mềm dẻo và giàu trí tưởng tượng.

Thực trạng phát triển “ tư duy đổi mới sáng tạo “ của sinh viên nghành kỹ thuật phần mềm khoá 15, khoa Công nghệ thông tin, trường đại học Gia Định

Phát biểu vấn đề

Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, ngành công nghiệp phần mềm đang mở ra nhiều cơ hội mới Tuy nhiên, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt yêu cầu sinh viên kỹ thuật phần mềm cần có tư duy đổi mới và sáng tạo để đáp ứng nhu cầu thị trường.

Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghệ thông tin đã tạo ra nhu cầu cao về kỹ năng sáng tạo và đổi mới, đặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật phần mềm Các sinh viên chuyên ngành này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy sáng tạo, giúp họ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Để thành công, sinh viên cần có kiến thức chuyên môn sâu rộng và khả năng tư duy đổi mới sáng tạo, từ đó tìm kiếm và tiếp thu thông tin mới nhất về công nghệ, phần mềm và phần cứng Hiện nay, sinh viên kỹ thuật phần mềm đang tích cực phát triển tư duy đổi mới trong quá trình học tập và làm việc, đồng thời nâng cao kỹ năng mềm cần thiết cho sự nghiệp tương lai.

Sinh viên chuyên ngành kỹ thuật phần mềm hiện nay được đào tạo về các công nghệ tiên tiến như AI, IoT, Big Data và Machine Learning, cùng với các kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm và quản lý thời gian Những kỹ năng này giúp sinh viên áp dụng kiến thức vào thực tiễn hiệu quả Tuy nhiên, sự phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của họ vẫn đối mặt với nhiều thách thức và vấn đề.

Một trong những thách thức lớn là sự thiếu hụt kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong phát triển sản phẩm phần mềm Dù sinh viên được đào tạo qua các môn học liên quan, nhưng để thành công trong lĩnh vực này, họ cần có kỹ năng thực tiễn, thường chỉ có được thông qua việc tham gia vào các dự án thực tế.

Thách thức lớn tiếp theo là sự thiếu hụt tài nguyên và hỗ trợ từ doanh nghiệp và ngành công nghiệp, khiến sinh viên chuyên ngành kỹ thuật phần mềm gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các dự án thực tế để tham gia hoặc cơ hội thực tập Điều này có thể cản trở khả năng thực hành và phát triển tư duy đổi mới, sáng tạo của sinh viên.

Lí do khách quan của vấn đề

Hiện nay, tư duy đổi mới sáng tạo của sinh viên chuyên ngành kỹ thuật phần mềm đang phát triển khá tích cực nhờ vào những yếu tố sau:

Sinh viên thường thiếu kiến thức thực tế do chỉ được giảng dạy lý thuyết và cơ sở lý luận, dẫn đến việc thiếu kinh nghiệm áp dụng vào các vấn đề thực tiễn Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đổi mới và sáng tạo của họ.

Nhiều sinh viên chuyên ngành kỹ thuật phần mềm gặp khó khăn do thiếu kỹ năng tư duy sáng tạo, điều này có nghĩa là họ không thể nghĩ ra những giải pháp mới và khác biệt để giải quyết các vấn đề phức tạp.

Nhiều sinh viên thiếu tinh thần thử nghiệm và ngại đối mặt với rủi ro, điều này cản trở khả năng học hỏi và cải tiến của họ Sự sợ hãi thất bại làm giảm khả năng đổi mới và sáng tạo, dẫn đến việc không dám khám phá những ý tưởng mới.

Thiếu tương tác và hỗ trợ từ giảng viên, chuyên gia hoặc đồng nghiệp có thể làm giảm khả năng đổi mới sáng tạo của sinh viên Để khắc phục tình trạng này, các trường đại học và chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật phần mềm nên cung cấp khóa đào tạo về tư duy sáng tạo, đồng thời tăng cường sự tương tác và hỗ trợ trong quá trình học tập và nghiên cứu Bên cạnh đó, sinh viên cũng cần tự rèn luyện tư duy sáng tạo và tinh thần thử nghiệm để phát triển khả năng đổi mới của mình.

Lí do chủ quan của vấn đề

Một số nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của sinh viên ngành kỹ thuật phần mềm bao gồm:

Một số sinh viên thể hiện thái độ tiêu cực, không muốn khám phá ý tưởng mới hay tìm kiếm giải pháp sáng tạo cho những vấn đề khó khăn Họ thường ưa chuộng các giải pháp cũ và né tránh rủi ro.

Việc phát triển tư duy đổi mới sáng tạo cần sự kiên trì và kiên nhẫn để tìm ra các giải pháp mới và đột phá Tuy nhiên, nhiều sinh viên thiếu kiên trì và thường từ bỏ nhanh chóng khi không thấy kết quả trong thời gian ngắn.

Nhiều sinh viên thiếu tự tin vào khả năng của mình, dẫn đến nỗi sợ thất bại khi họ muốn thử nghiệm những ý tưởng mới.

Họ có thể cảm thấy lo lắng về việc bị chỉ trích hoặc không được chấp nhận.

Sinh viên thường thiếu sự động viên và hỗ trợ từ giáo viên, đồng nghiệp và gia đình, điều này ảnh hưởng đến khả năng phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của họ Sự hỗ trợ này đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích sinh viên khám phá và phát triển ý tưởng mới.

Để phát triển tư duy đổi mới sáng tạo, sinh viên cần duy trì thái độ tích cực, kiên trì và tự tin vào khả năng của bản thân, đồng thời cần nhận được sự động viên và hỗ trợ từ những người xung quanh.

Thực trạng phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của sinh viên

Hiện nay, tư duy đổi mới sáng tạo đang thu hút sự chú ý lớn trong giới học thuật và doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật phần mềm Tuy nhiên, việc đào tạo và phát triển tư duy này cho sinh viên chuyên ngành kỹ thuật phần mềm vẫn gặp nhiều thách thức và hạn chế.

- Giáo dục truyền thống tập trung vào kiến thức hẹp và lý thuyết, ít tập trung vào phát triển tư duy đổi mới sáng tạo.

- Thiếu sự kết nối giữa giảng dạy và thực tiễn, hạn chế việc sinh viên thực hành và áp dụng kiến thức vào thực tế.

- Thiếu nguồn tài liệu phong phú, cập nhật về phát triển tư duy đổi mới sáng tạo, đặc biệt là tiếng Việt.

Nhiều hoạt động và chương trình được tổ chức để phát triển tư duy đổi mới sáng tạo cho sinh viên ngành kỹ thuật phần mềm, bao gồm các cuộc thi lập trình, hackathon, chương trình hợp tác giữa doanh nghiệp và trường đại học, cùng với các khóa học trực tuyến về phát triển tư duy đổi mới sáng tạo.

Ngoài những thách thức và hạn chế đã đề cập, còn nhiều vấn đề khác tác động đến sự phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của sinh viên ngành kỹ thuật phần mềm.

Việc thiếu sự đa dạng trong giảng dạy dẫn đến việc sinh viên chỉ tập trung vào lý thuyết và kiến thức cơ bản, điều này không chỉ hạn chế trải nghiệm thực tế mà còn làm giảm tính đa dạng trong các phương pháp giảng dạy.

Sự cạnh tranh trong lĩnh vực kỹ thuật phần mềm ngày càng trở nên khốc liệt do sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghệ thông tin, điều này tạo ra áp lực lớn cho sinh viên và khiến họ khó khăn trong việc dành thời gian để phát triển tư duy đổi mới sáng tạo.

Các doanh nghiệp hiện nay chưa đầu tư đủ mạnh vào việc phát triển tư duy đổi mới sáng tạo cho sinh viên chuyên ngành kỹ thuật phần mềm, dẫn đến việc các hoạt động và chương trình liên quan đến lĩnh vực này còn hạn chế.

Sinh viên chuyên ngành kỹ thuật phần mềm thường gặp khó khăn trong việc quản lý thời gian và áp lực do phải đối mặt với nhiều bài tập, dự án và bài kiểm tra cùng lúc Thiếu kỹ năng quản lý thời gian có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng hoàn thành công việc hiệu quả, từ đó làm giảm khả năng phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của họ.

Sinh viên kỹ thuật phần mềm không chỉ cần kiến thức chuyên ngành mà còn phải trang bị các kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm, lãnh đạo, quản lý dự án và giải quyết xung đột Những kỹ năng này rất quan trọng để phát triển tư duy đổi mới sáng tạo và đóng góp hiệu quả vào các dự án thực tế Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều sinh viên vẫn chưa được đào tạo và phát triển đầy đủ các kỹ năng này.

Nhiều sinh viên chuyên ngành kỹ thuật phần mềm gặp khó khăn trong việc áp dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế Nguyên nhân chính là do họ thiếu kinh nghiệm thực tiễn và chưa có cơ hội tham gia các dự án thực tế trong quá trình học tập.

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ yêu cầu sinh viên phải liên tục cập nhật kỹ năng và kiến thức Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của khả năng tự học và học tập suốt đời để không bị lạc hậu và đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Sinh viên chuyên ngành kỹ thuật phần mềm cần phát triển khả năng tìm kiếm thông tin và nghiên cứu để theo kịp sự phát triển liên tục của công nghệ phần mềm Thiếu kỹ năng này có thể cản trở khả năng tư duy đổi mới sáng tạo của họ.

Để phát triển tư duy đổi mới sáng tạo, sinh viên ngành kỹ thuật phần mềm cần có khả năng tưởng tượng và sáng tạo nhằm tạo ra những sản phẩm mới và tiên tiến Tuy nhiên, nhiều sinh viên vẫn chưa được đào tạo và phát triển đầy đủ những kỹ năng này.

Nhiều sinh viên thiếu trải nghiệm thực tế trong việc phát triển tư duy đổi mới sáng tạo, điều này đòi hỏi kỹ năng và kinh nghiệm làm việc với các dự án phần mềm thực tế Việc không có cơ hội tham gia vào các dự án này khiến họ không thể đóng góp vào các sản phẩm phần mềm thực tế.

Sự cạnh tranh trong thị trường tuyển dụng ngày càng gia tăng do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ phần mềm, đòi hỏi ứng viên phải có kỹ năng cao và tư duy đổi mới sáng tạo Thiếu những khả năng này có thể gây khó khăn cho sinh viên trong việc tìm kiếm việc làm và phát triển sự nghiệp.

Việc phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của sinh viên kỹ thuật phần mềm là yếu tố quan trọng cho sự phát triển ngành công nghệ và đất nước Tăng cường khả năng sáng tạo trong lĩnh vực này sẽ nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, giúp Việt Nam trở thành trung tâm phát triển phần mềm hàng đầu khu vực Để đạt được điều này, cần có sự hỗ trợ từ tổ chức, doanh nghiệp, chính phủ và các trường đại học Các trường cần thiết kế chương trình đào tạo linh hoạt, giúp sinh viên tiếp cận kỹ năng mới và phù hợp với nhu cầu cá nhân Đồng thời, cần thiết lập cơ chế đánh giá và khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu, phát triển sản phẩm phần mềm và các cuộc thi công nghệ.

Đánh giá vấn đề

Trong thời đại công nghệ số, tư duy đổi mới sáng tạo là yếu tố quan trọng cho sự phát triển kỹ thuật phần mềm Sinh viên ngành kỹ thuật phần mềm được xem là nhân tài tiềm năng, và việc phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của họ đang trở thành mối quan tâm lớn.

Một số nhân tố có thể ảnh hưởng đến việc phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của sinh viên chuyên ngành kỹ thuật phần mềm bao gồm:

Chất lượng giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tư duy đổi mới sáng tạo của sinh viên Nếu hệ thống giáo dục không khuyến khích sự phát triển tư duy này hoặc không trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết, sinh viên sẽ gặp khó khăn trong việc phát triển khả năng đổi mới sáng tạo.

Môi trường học tập và làm việc đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của sinh viên Khi sinh viên hoạt động trong một môi trường căng thẳng và khắt khe, hoặc không được khuyến khích thử nghiệm, họ sẽ gặp khó khăn trong việc phát triển khả năng sáng tạo.

Các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, đám mây, blockchain và IoT đang ngày càng được ứng dụng trong lĩnh vực kỹ thuật phần mềm Việc nắm bắt và áp dụng những công nghệ này sẽ giúp sinh viên phát triển tư duy đổi mới sáng tạo.

Để phát triển tư duy đổi mới sáng tạo, sinh viên cần chú trọng đến tính đa dạng và toàn diện trong các kỹ năng như suy nghĩ, giải quyết vấn đề, giao tiếp, lãnh đạo và quản lý Việc rèn luyện những kỹ năng này là cần thiết để đáp ứng các yêu cầu trong môi trường hiện đại.

Trong ngành kỹ thuật phần mềm đầy cạnh tranh, việc phát triển tư duy đổi mới sáng tạo là rất quan trọng để sinh viên có thể nổi bật và đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Tư duy đổi mới sáng tạo trong kỹ thuật phần mềm yêu cầu khả năng học hỏi liên tục Sinh viên cần phải cập nhật kiến thức thường xuyên và áp dụng chúng để giải quyết các vấn đề mới trong một lĩnh vực luôn thay đổi.

Tinh thần sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy đổi mới của sinh viên Khi sinh viên có đam mê và động lực để tìm ra những giải pháp mới, họ sẽ dễ dàng nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của mình.

Kỹ thuật phần mềm yêu cầu khả năng làm việc nhóm cao, vì đây là lĩnh vực cần sự cộng tác chặt chẽ Để phát triển tư duy đổi mới sáng tạo, việc thảo luận, trao đổi ý tưởng và học hỏi lẫn nhau trong nhóm là rất quan trọng.

Tính tự tin là yếu tố quan trọng trong việc phát triển tư duy đổi mới sáng tạo Sinh viên cần có sự tự tin để dám thử nghiệm và tạo ra những giải pháp mới Nếu thiếu tự tin và lo ngại về thất bại, họ sẽ gặp khó khăn trong việc phát triển khả năng tư duy sáng tạo.

Môi trường học tập và nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy đổi mới sáng tạo của sinh viên ngành kỹ thuật phần mềm Một môi trường học tập sáng tạo và đầy động lực sẽ thúc đẩy sinh viên phát triển khả năng tư duy đổi mới sáng tạo hơn.

Tương tác với các chuyên gia và giảng viên trong lĩnh vực kỹ thuật phần mềm giúp sinh viên phát triển tư duy đổi mới sáng tạo Những người đi trước có thể chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm quý báu, từ đó giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các thách thức và cơ hội trong ngành.

Các hoạt động ngoại khoá như tham gia cuộc thi, chương trình học tập tại các trung tâm, tình nguyện và sự kiện kỹ thuật phần mềm giúp sinh viên phát triển tư duy đổi mới sáng tạo Những hoạt động này không chỉ giúp sinh viên áp dụng kiến thức và kỹ năng vào thực tế mà còn rèn luyện các kỹ năng mềm như làm việc nhóm, giao tiếp và tự tin trình bày ý tưởng.

Sự hỗ trợ từ trường và công ty đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy đổi mới sáng tạo cho sinh viên chuyên ngành kỹ thuật phần mềm Trường cung cấp công cụ học tập và nghiên cứu tiên tiến, giúp sinh viên tiếp cận các hoạt động học tập và nghiên cứu Đồng thời, công ty mang đến cơ hội thực tập và làm việc, hỗ trợ sinh viên phát triển kỹ năng thực tiễn và tham gia vào các dự án mới, sản phẩm đổi mới.

Phát triển tư duy đổi mới sáng tạo là yếu tố quan trọng đối với sinh viên ngành kỹ thuật phần mềm Để đạt được điều này, sinh viên cần một môi trường học tập tích cực, áp dụng công nghệ mới và rèn luyện các kỹ năng tư duy phản biện, phân tích, sáng tạo và giải quyết vấn đề Họ cũng nên thường xuyên tìm kiếm thông tin, đọc sách, tham gia hoạt động ngoại khóa và tìm kiếm cơ hội thực tập để nâng cao kỹ năng và kinh nghiệm.

Ngày đăng: 10/05/2023, 15:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tài liệu tham khảo môn học về ‘ Tư duy phản biện, tư duy tích cực và tư duy phản biện ‘ của ThS. Nguyễn Duy Phương trường đại học Gia Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy phản biện, tư duy tích cực và tư duy phản biện
Tác giả: ThS. Nguyễn Duy Phương
Nhà XB: trường đại học Gia Định
2. "Innovation and Creativity in Education and Training in the Field of Software Engineering" của Carina González-González và cộng sự, xuất bản trong tạp chí IEEE Education Society Sách, tạp chí
Tiêu đề: Innovation and Creativity in Education and Training in the Field of Software Engineering
Tác giả: Carina González-González
Nhà XB: IEEE Education Society
3. "Developing Creativity and Innovation Skills in Software Engineering Education" của Günay Karlı và cộng sự, xuất bản trong tạp chí International Journal of Information and Education Technology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Developing Creativity and Innovation Skills in Software Engineering Education
Tác giả: Günay Karlı
Nhà XB: International Journal of Information and Education Technology
4. "Creativity and Innovation in Software Engineering Education: A Systematic Review" của Lutfi Albasha và cộng sự, xuất bản trong tạp chí Journal of Computer Science and Technology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Creativity and Innovation in Software Engineering Education: A Systematic Review
Tác giả: Lutfi Albasha
Nhà XB: Journal of Computer Science and Technology
5. "Fostering Creativity and Innovation in Software Engineering Education:A Case Study" của Emmanuel Adanu và cộng sự, xuất bản trong tạp chí IEEE Transactions on Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fostering Creativity and Innovation in Software Engineering Education:A Case Study
Tác giả: Emmanuel Adanu
Nhà XB: IEEE Transactions on Education
6. "Developing Creativity and Innovation in Software Engineering Education through Project-based Learning" của Olga Ormandjieva và cộng sự, xuất bản trong tạp chí Journal of Computing Sciences in Colleges Sách, tạp chí
Tiêu đề: Developing Creativity and Innovation in Software EngineeringEducation through Project-based Learning
7. "Phát triển tư duy sáng tạo cho sinh viên chuyên ngành Công nghệ thông tin" của Nguyễn Thị Thu Hà, xuất bản trong tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tư duy sáng tạo cho sinh viên chuyên ngành Công nghệ thôngtin
8. "Phát triển tư duy đổi mới sáng tạo cho sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật phần mềm" của Nguyễn Thị Thu Hà và Trần Thị Nhật Linh, xuất bản trong tạp chí Tạp chí Khoa học Công nghệ ĐH Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tư duy đổi mới sáng tạo cho sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật phần mềm
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà, Trần Thị Nhật Linh
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Công nghệ ĐH Thái Nguyên
9. "Đào tạo kỹ năng tư duy sáng tạo cho sinh viên ngành Công nghệ thông tin" của Nguyễn Hồng Quang, xuất bản trong tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo kỹ năng tư duy sáng tạo cho sinh viên ngành Công nghệ thôngtin
10. "Ứng dụng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề và học tập hướng tới kỹ năng tư duy sáng tạo cho sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật phần mềm" của Nguyễn Thị Thanh Huyền và cộng sự, xuất bản trong tạp chí Khoa học Công nghệ Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề và học tập hướng tới kỹ năng tư duy sáng tạo cho sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật phần mềm
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền, cộng sự
Nhà XB: tạp chí Khoa học Công nghệ Đại học Thái Nguyên
11. "Phát triển tư duy sáng tạo cho sinh viên Kỹ thuật phần mềm thông qua hoạt động ngoại khóa" của Lê Thị Ngọc Mai và cộng sự, xuất bản trong tạp chí Khoa học Công nghệ Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tư duy sáng tạo cho sinh viên Kỹ thuật phần mềm thông qua hoạt động ngoại khóa
Tác giả: Lê Thị Ngọc Mai, cộng sự
Nhà XB: tạp chí Khoa học Công nghệ Đại học Huế

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w