ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÀI TẬP LỚN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC ĐỀ TÀI VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THỰC TRẠNG VÀ GIẢI P[.]
PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề dân tộc đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững của đất nước Bản sắc văn hóa của từng vùng dân tộc, bao gồm trang phục truyền thống, âm nhạc, ẩm thực, phong tục tập quán, lễ hội và sản phẩm thủ công mỹ nghệ, góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng Việc phát huy và gìn giữ văn hóa truyền thống của các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc ít người, là cần thiết để nâng cao đời sống văn hóa và trình độ văn hóa cho cộng đồng.
Trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách nhằm phát triển đồng bào dân tộc thiểu số, bao gồm an sinh xã hội và hỗ trợ sản xuất Dù đại dịch Covid-19 đã gây ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội, các Bộ ngành và địa phương vẫn nỗ lực cung cấp chính sách xã hội tốt nhất và ưu đãi học tập, khuyến khích nâng cao trình độ văn hóa cho các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng quan hệ bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc Việt Nam Vấn đề dân tộc không nên được xem là đã giải quyết xong, mà cần được nhìn nhận trong bối cảnh mới, với tính cấp bách và nhạy cảm Mặc dù chưa bùng nổ như ở một số quốc gia khác, nhưng một số vùng và dân tộc tại nước ta đang gặp phải những vấn đề phát sinh Nếu không kịp thời thu hẹp khoảng cách giữa các vùng và dân tộc, đặc biệt là về đời sống và văn hóa, sẽ làm giảm lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước, dẫn đến nguy cơ xung đột xã hội và mất ổn định chính trị - xã hội.
Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc cơ bản, đảm bảo quyền lợi cho các dân tộc thiểu số Tất cả các dân tộc, không phân biệt đa số hay thiểu số, đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong mọi lĩnh vực xã hội, được bảo vệ bởi Hiến pháp và pháp luật Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ các dân tộc có kinh tế chậm phát triển, nhằm đạt được sự phát triển đồng đều với các dân tộc khác trong cả nước.
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế mở, Việt Nam không chỉ đón nhận các quốc gia mà còn tiếp nhận nhiều nền văn hóa khác nhau Nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp từ nước ngoài đã làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, cũng có những giá trị văn hóa không lành mạnh có thể làm mất đi bản sắc văn hóa dân tộc Do đó, việc xây dựng các chính sách dân tộc phù hợp là rất quan trọng để bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế Xuất phát từ thực trạng này, nhóm nghiên cứu đề tài: “Vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Thực trạng và giải pháp thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước hiện nay.”
Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất, vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, thực trạng và giải pháp thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng và giải pháp thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước hiện nay.
Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, đánh giá thực trạng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua.
Thứ ba, giải pháp thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong thời điểm hiện tại.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Trong đó, các phương pháp chủ yếu bao gồm: phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích và tổng hợp, cùng với phương pháp lịch sử - logic.
Kết cấu của đề tài
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Chương 2: Thực trạng và giải pháp thực hiện chính sách dân tộc của Đảng vàNhà nước Việt Nam hiện nay.
PHẦN NỘI DUNG
1.1 Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc
Dân tộc là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của chủ nghĩa xã hội, diễn ra qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao như thị tộc, bộ lạc, bộ tộc và dân tộc, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Những thay đổi trong phương thức sản xuất là yếu tố quyết định đến sự biến đổi của cộng đồng dân tộc Tại phương Tây, dân tộc hình thành khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thay thế cho phương thức sản xuất phong kiến Trong khi đó, ở phương Đông, dân tộc được hình thành dựa trên nền văn hóa và tâm lý dân tộc đã phát triển tương đối chín muồi, cùng với một cộng đồng kinh tế đạt mức độ nhất định nhưng vẫn còn kém phát triển và phân tán.
Dân tộc (Nation) là một cộng đồng người ổn định, có lãnh thổ riêng và nền kinh tế thống nhất Họ chia sẻ ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất, gắn bó với nhau qua quyền lợi chính trị, kinh tế, và truyền thống văn hóa Sự kết nối này được củng cố qua quá trình lịch sử lâu dài trong việc dựng nước và giữ nước.
Theo nghĩa hẹp, dân tộc (Ethnie) là một cộng đồng tộc người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, hình thành trong lịch sử với ý thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa chung Cộng đồng này phát triển từ bộ lạc, bộ tộc, kế thừa và nâng cao các yếu tố tộc người của các cộng đồng trước đó Do đó, dân tộc được xem là một bộ phận hay thành phần của quốc gia.
Khái niệm dân tộc bao gồm hai cách hiểu gắn bó chặt chẽ với nhau: dân tộc quốc gia và dân tộc tộc người Dân tộc quốc gia bao hàm dân tộc tộc người, trong khi dân tộc tộc người là bộ phận cấu thành dân tộc quốc gia Do đó, khi đề cập đến Việt Nam, không thể không nhắc đến 54 cộng đồng tộc người.
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật tr.196
DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 6 1.1 Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc
Khái niệm dân tộc
Dân tộc là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của chủ nghĩa xã hội, diễn ra qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao như thị tộc, bộ lạc, bộ tộc và dân tộc, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Sự thay đổi trong phương thức sản xuất là yếu tố quyết định đến sự biến đổi của cộng đồng dân tộc Tại phương Tây, dân tộc hình thành khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thay thế cho phong kiến, trong khi ở phương Đông, dân tộc được xây dựng dựa trên nền văn hóa và tâm lý dân tộc đã phát triển, cùng với một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt được một mức độ nhất định nhưng vẫn còn kém phát triển và phân tán.
Dân tộc (Nation) được hiểu là một cộng đồng người ổn định, tạo thành nhân dân của một quốc gia, có lãnh thổ riêng và nền kinh tế thống nhất Họ chia sẻ ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất, gắn bó với nhau qua quyền lợi chính trị, kinh tế, cũng như truyền thống văn hóa và lịch sử đấu tranh chung trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước.
Theo nghĩa hẹp, dân tộc (Ethnie) là một cộng đồng tộc người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, hình thành trong lịch sử với ý thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa chung Cộng đồng này phát triển từ bộ lạc, bộ tộc, kế thừa và nâng cao các yếu tố tộc người của các cộng đồng trước đó Do đó, dân tộc được xem là một bộ phận hay thành phần của quốc gia.
Hai cách hiểu về khái niệm dân tộc, mặc dù không đồng nhất, nhưng lại gắn bó chặt chẽ với nhau Dân tộc quốc gia bao hàm dân tộc tộc người, trong khi dân tộc tộc người là bộ phận cấu thành dân tộc quốc gia Do đó, khi đề cập đến Việt Nam, không thể bỏ qua 54 cộng đồng tộc người.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) trong giáo trình "Chủ nghĩa xã hội khoa học" nhấn mạnh rằng cộng đồng tộc người ở Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam.
Đặc trưng cơ bản của dân tộc
Theo nghĩa rộng, dân tộc có một số đặc trưng cơ bản sau:
Lãnh thổ ổn định là yếu tố quan trọng xác định không gian sinh tồn và vị trí địa lý của một dân tộc Nó biểu thị quyền sở hữu vùng đất, vùng trời và vùng biển, đồng thời thể hiện chủ quyền của dân tộc đó trong mối quan hệ với các quốc gia và dân tộc khác.
Hình thức sinh hoạt kinh tế chung là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc, giúp gắn kết các bộ phận và thành viên, tạo nên tính thống nhất và ổn định Thiếu tính cộng đồng bền vững về kinh tế, cộng đồng người sẽ không thể trở thành một dân tộc thực sự.
Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng, bao gồm ngôn ngữ nói và viết, phục vụ cho việc giao tiếp trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và tình cảm Trong một quốc gia đa dạng với nhiều cộng đồng tộc người và ngôn ngữ khác nhau, sẽ luôn tồn tại một ngôn ngữ chung để thống nhất giao tiếp giữa các thành viên.
Văn hóa dân tộc thể hiện qua tâm lý, tính cách, phong tục, tập quán và lối sống, tạo nên bản sắc riêng của mỗi dân tộc Trong sinh hoạt cộng đồng, các thành viên từ các thành phần xã hội khác nhau cùng tham gia vào việc sáng tạo và hấp thụ các giá trị văn hóa chung của dân tộc.
Vào thứ năm, các thành viên và cộng đồng tộc người trong một dân tộc đều chịu sự quản lý của một nhà nước độc lập Điều này phân biệt rõ ràng giữa dân tộc - quốc gia và dân tộc - tộc người, trong khi dân tộc - tộc người trong một quốc gia không có nhà nước với thể chế chính trị riêng.
Theo nghĩa hẹp, dân tộc có các đặc trưng sau:
Cộng đồng ngôn ngữ, bao gồm cả ngôn ngữ nói và viết, là tiêu chí quan trọng để phân biệt các tộc người và được các dân tộc coi trọng trong việc gìn giữ Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, một số tộc người đã mất ngôn ngữ mẹ đẻ và chuyển sang sử dụng ngôn ngữ khác để giao tiếp.
Cộng đồng văn hóa bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể, phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng và tôn giáo của mỗi tộc người Hiện nay, bên cạnh xu thế giao lưu văn hóa, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các tộc người cũng đang được chú trọng.
Ý thức tự giác tộc người là tiêu chí quan trọng nhất để phân định một tộc người, đóng vai trò quyết định trong sự tồn tại và phát triển của họ Sự khẳng định này vẫn giữ vững bất chấp những thay đổi về địa bàn cư trú, lãnh thổ, hay tác động từ giao lưu kinh tế và văn hóa Hơn nữa, sự hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người gắn liền với các yếu tố như ý thức, tình cảm và tâm lý của tộc người.
Chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc
1.2.1 Hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc
Nghiên cứu vấn đề dân tộc, V.I Lênin phát hiện ra hai xu hướng khách quan trong sự phát triển quan hệ dân tộc.
Xu hướng thứ nhất là sự hình thành các cộng đồng dân tộc độc lập, xuất phát từ sự thức tỉnh và trưởng thành về ý thức dân tộc cũng như quyền sống của các cộng đồng này Điều này thể hiện rõ trong phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa, nhằm thoát khỏi sự áp bức và bóc lột từ các nước thực dân và đế quốc.
Xu hướng thứ hai là sự liên hiệp giữa các dân tộc trong từng quốc gia và giữa các quốc gia khác nhau Xu hướng này xuất hiện khi chủ nghĩa tư bản chuyển mình thành chủ nghĩa đế quốc, dẫn đến việc bóc lột thuộc địa Sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ, cùng với giao lưu kinh tế và văn hóa, đã thúc đẩy xu hướng này.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) trong giáo trình "Chủ nghĩa xã hội khoa học" đã chỉ ra rằng, xã hội tư bản chủ nghĩa đã tạo ra nhu cầu xóa bỏ rào cản giữa các dân tộc, từ đó thúc đẩy sự gắn kết và gần gũi giữa các nền văn hóa khác nhau.
Trong mỗi quốc gia, xu hướng nổi bật là nỗ lực của các dân tộc nhằm đạt được tự do, bình đẳng và phồn vinh cho cộng đồng của mình.
Xu hướng thứ hai cho thấy sự xuất hiện của các động lực thúc đẩy các dân tộc trong một cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau hơn, tạo ra sự hòa hợp cao hơn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trong bối cảnh quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc nổi bật với mục tiêu chống lại chủ nghĩa đế quốc và các chính sách thực dân, nhằm xóa bỏ mọi hình thức áp bức và bóc lột Độc lập và tự chủ của mỗi dân tộc không chỉ là xu hướng khách quan mà còn là chân lý của thời đại, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia.
Hai xu hướng khách quan trong sự phát triển dân tộc có sự thống nhất biện chứng, tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia và toàn nhân loại Việc vi phạm mối quan hệ này có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực và khó lường Hiện nay, hai xu hướng này diễn ra phức tạp trên phạm vi quốc tế và trong từng quốc gia, thậm chí bị lợi dụng cho mục đích chính trị trong chiến lược “diễn biến hòa bình”.
1.2.2 Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác- Lênin
Dựa trên tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen về vấn đề dân tộc, cùng với việc tổng kết kinh nghiệm từ phong trào cách mạng thế giới và cách mạng Nga, V.I Lênin đã phân tích hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc trong bối cảnh phát triển của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Ông đã khái quát "Cương lĩnh dân tộc" của Đảng cộng sản, nhấn mạnh rằng "Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại".
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật.tr.201-203.
Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, nghĩa là mọi dân tộc, dù lớn hay nhỏ, đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau, không phân biệt trình độ phát triển Không một dân tộc nào được phép giữ đặc quyền hay áp bức, bóc lột dân tộc khác, điều này được thể hiện trong luật pháp của mỗi quốc gia và luật pháp quốc tế.
Các dân tộc có quyền tự quyết, bao gồm quyền độc lập chính trị để thành lập quốc gia dân tộc vì lợi ích chung, không phải vì lợi ích của một nhóm người Quyền này cũng bao gồm khả năng liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng, nhằm tăng cường sức mạnh chống lại nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quốc gia - dân tộc.
Ba là, liên hiệp công nhận tất cả các dân tộc, thể hiện sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp Điều này phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa tinh thần yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính.
Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn các Đảng Cộng sản thực hiện chính sách dân tộc, góp phần vào cuộc đấu tranh giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Để đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo con đường chủ nghĩa xã hội, cần xây dựng lại dân tộc từ căn bản với nền móng vững chắc Việc này bao gồm xây dựng cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng từ chính trị, tư tưởng, văn hóa, đồng thời thực hiện đổi mới toàn diện để đạt được sự phát triển bền vững, góp phần làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa đồng lòng và vững mạnh.
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật.tr.203-305
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
Đặc điểm dân tộc Việt Nam
2.1.1 Có sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người
Việt Nam là một quốc gia đa dạng với 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số, tương đương 82.085.826 người Trong số 53 dân tộc thiểu số, có 6 dân tộc với dân số trên 1 triệu người, bao gồm Tày, Thái, Mường, Mông, Khmer và Nùng, với dân tộc Tày là đông nhất (1,85 triệu người) Ngoài ra, có 11 dân tộc có dân số dưới 5 nghìn người, trong đó Ơ Đu là dân tộc ít người nhất với chỉ 428 người Các dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc cũng như Tây Nguyên Cộng đồng dân tộc Việt Nam hiện nay là kết quả của một quá trình lịch sử dài, và việc bảo tồn văn hóa, ngôn ngữ cũng như phát triển giống nòi của các dân tộc ít người gặp nhiều khó khăn.
2.1.2 Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau
Vốn Việt Nam là nơi cư trú của nhiều dân tộc Đông Nam Á, với sự phân tán và xen kẽ giữa các dân tộc, không có lãnh thổ riêng biệt Các dân tộc thiểu số tập trung ở một số vùng, nhưng không thành khu vực riêng, mà hòa nhập với các dân tộc khác trong tỉnh, huyện, xã và các bản, mường Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, đồng thời đảm bảo quốc phòng - an ninh và tăng cường sự đoàn kết giữa các dân tộc Tuy nhiên, sự cư trú đan xen cũng dẫn đến các vấn đề như mất ngôn ngữ, văn hóa, phân hóa giàu nghèo, và tranh chấp đất đai, tài nguyên.
Tổng cục Thống kê đã công bố kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 qua thông cáo báo chí vào ngày 19 tháng 12 năm 2019 Thông tin chi tiết có thể được truy cập tại trang web chính thức của Tổng cục Thống kê.
Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau, với các dân tộc thiểu số chủ yếu sống tại những khu vực có giá trị chiến lược Mặc dù có một số vùng có dân tộc cư trú tương đối tập trung, nhưng nhìn chung, các dân tộc Việt Nam không có lãnh thổ riêng biệt Người Kinh chủ yếu sinh sống ở đồng bằng, ven biển và trung du, trong khi các dân tộc ít người thường cư trú ở miền núi và vùng cao Việc cư trú đan xen giữa các dân tộc tạo điều kiện cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa và xã hội, đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều vấn đề như mất ngôn ngữ, văn hóa và xung đột dân tộc Các dân tộc thiểu số chiếm ¾ diện tích cả nước và có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam không chỉ vì lợi ích của các dân tộc thiểu số mà còn vì lợi ích chung của cả nước.
%20nh%C3%ACn%20chung%20c%C3%A1c%20d%C3%A2n,Ch%C4%83m%20s%E1%BB%91ng
Các tệ nạn xã hội và xung đột dân tộc có thể tạo ra kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng, từ đó phá hoại an ninh trật tự chính trị và sự thống nhất của đất nước.
2.1.3 Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phân bố chủ yếu ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng
Tuy 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam chỉ chiếm 14,3% dân số cả nước nhưng lại cư trỳ chủ yếu ở miền nỳi, chiếm ắ diện tớch lónh thổ cả nước Đõy là vựng biờn giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa của đất nước và cũng là khu vực trọng yếu của quốc gia cả về kinh tế, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái Tại biên giới, một số dân tộc có quan hệ đồng tộc với dân tộc của các nước láng giềng, nên khách quan có nhu cầu thăm thân, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ở hai bên biên giới Do vậy các thế lực phản động cũng dựa vào vấn đề dân tộc này để chống phá cách mạng Việt Nam.
2.1.4 Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển không đều
Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội giữa các dân tộc ở Việt Nam là khá lớn, với tổ chức đời sống và quan hệ xã hội của các dân tộc thiểu số không đồng nhất Nhiều vùng dân tộc thiểu số vẫn duy trì kinh tế chiếm đoạt và phụ thuộc vào khai thác tự nhiên, dẫn đến trình độ canh tác thấp Mặc dù đời sống của dân tộc thiểu số đã có những cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều thiếu thốn cần được giải quyết triệt để, vì đây là những yếu tố tiềm ẩn có thể gây mất ổn định chính trị - xã hội, đặc biệt khi bị các thế lực thù địch lợi dụng Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng trong đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững cho các dân tộc thiểu số.
2.1.5 Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết, gắn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc - quốc gia thống nhất
Đoàn kết dân tộc là đặc trưng nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam, tạo thành sức mạnh từ rất sớm và gắn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Đây là động lực quyết định mọi thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và xây dựng đất nước suốt 1000 năm lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh sự gắn bó giữa các dân tộc trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam, khẳng định rằng tất cả đều là anh em ruột thịt, sống chết có nhau Nhà nước ta đã và đang thực hiện các chính sách hỗ trợ, đảm bảo quyền lợi cho các dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng vào việc thực hiện bình đẳng và kết nối giữa các dân tộc hiện nay.
2.1.6 Mỗi dân tộc có bản sắc văn hoá riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hoá Việt Nam thống nhất
Nền văn hóa Việt Nam là sự hòa quyện giữa sự thống nhất và đa dạng, với mỗi dân tộc mang những giá trị văn hóa độc đáo Tất cả các dân tộc đều chia sẻ một lịch sử chung về việc xây dựng và bảo vệ đất nước, từ đó hình thành ý thức về một quốc gia độc lập Sự khác biệt trong ngôn ngữ, lối sống, trang phục và các làn điệu dân ca tạo nên một bức tranh văn hóa phong phú và nghệ thuật cao Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng đến chính sách dân tộc, tôn trọng bản sắc văn hóa và tự do tín ngưỡng của từng dân tộc trong quá trình phát triển lên chủ nghĩa xã hội.
Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Trong chính sách dân tộc, Đảng nhấn mạnh tầm quan trọng của bình đẳng, đoàn kết và hỗ trợ giữa các dân tộc để cùng phát triển Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng chính sách này nhằm thực hiện sự bình đẳng và giúp đỡ lẫn nhau trong tiến trình hướng tới chủ nghĩa xã hội Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố then chốt để duy trì khối đại đoàn kết dân tộc và định hướng chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định cần nâng cao năng lực lãnh đạo để phát huy vai trò này.
Hồ Chí Minh (2011) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nhằm củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Ông kêu gọi khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đồng thời phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại Để đạt được mục tiêu này, cần đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo vệ Tổ quốc và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta sẽ trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong chính sách dân tộc, phát triển kinh tế miền núi và vùng dân tộc thiểu số là ưu tiên hàng đầu nhằm xóa bỏ khoảng cách chênh lệch giữa các vùng Đảng và Nhà nước đang tập trung vào việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội ở các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới Đặc biệt, giai đoạn 2021 – 2030, Đảng Cộng sản Việt Nam định hướng đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số dựa trên khoa học và công nghệ, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, kết nối hiệu quả giữa thị trường trong nước và quốc tế.
Văn hóa trong chính sách dân tộc đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, nhằm biến văn hóa thành sức mạnh nội sinh và động lực phát triển đất nước Đảng và Nhà nước chú trọng mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế, đồng thời phòng chống tệ nạn xã hội và ngăn chặn "Diễn biến hòa bình" trong lĩnh vực tư tưởng - văn hóa Điều này được nhấn mạnh trong văn kiện Đại hội lần thứ XIII, thể hiện sự đổi mới có ý nghĩa lớn.
Tôi không biết!
Phát huy tiềm năng và thế mạnh của từng dân tộc, phù hợp với bản sắc văn hóa và phong tục tập quán của các vùng miền là mục tiêu quan trọng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh việc khắc phục sự chênh lệch đặc điểm giữa các dân tộc, đồng thời giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc Điều này nhằm giúp nhau cùng phát triển, tạo ra những chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, đặc biệt ở các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và duyên hải miền Trung.
Chính sách dân tộc trong xã hội nhằm đảm bảo an sinh cho vùng núi và đồng bào dân tộc thiểu số, thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm xóa đói giảm nghèo, y tế và giáo dục, được triển khai dựa trên đặc thù của từng vùng thiểu số Đồng thời, ưu tiên đào tạo và bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số cũng được chú trọng, cùng với việc thực hiện các chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là cho trẻ em dân tộc thiểu số.
2.2.5 Về an ninh quốc phòng
An ninh quốc phòng là yếu tố then chốt để bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo ổn định chính trị và an ninh xã hội Cần phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng và tăng cường quan hệ quân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân tại các vùng dân tộc Để thực hiện tốt chính sách dân tộc, cần đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các đoàn thể nhân dân Việc đổi mới nội dung và phương pháp công tác dân vận là cần thiết, với sự thận trọng và kiên trì, áp dụng các phương pháp phù hợp với đặc thù từng dân tộc và địa phương.
Chính sách dân tộc của Việt Nam đã trải qua 35 năm đổi mới, thể hiện sự quan tâm đến quyền lợi và phát triển của các dân tộc thiểu số Chính sách này không chỉ nhằm bảo tồn văn hóa mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho các dân tộc cùng hòa nhập và phát triển bền vững Việc thực hiện chính sách dân tộc đã góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển của đất nước, khẳng định vai trò của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực trạng thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời
2.3.1 Những mặt đạt được và nguyên nhân
2.3.1.1 Những mặt đạt được a Trên lĩnh vực chính trị
Công tác đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số luôn được chú trọng, với tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức đạt khoảng 14,5% vào cuối năm 2020 Trong đó, tỷ lệ lãnh đạo, quản lý là 17,2%, và tỷ lệ cấp ủy viên người dân tộc thiểu số trong các đảng bộ trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020 - 2025 đạt 11,68%, tăng 0,72% so với nhiệm kỳ trước Tỷ lệ ủy viên ban thường vụ là 11,86%, cao hơn 0,51% so với nhiệm kỳ trước, và bí thư cấp ủy người dân tộc thiểu số đạt 9,23%, tăng 1,54% Đặc biệt, tỷ lệ đảng viên người dân tộc thiểu số cũng tăng từ 10,94% năm 2012 lên 11,98% năm 2019 Nhiều đại biểu quốc hội là người dân tộc thiểu số đang giữ các vị trí chủ chốt, thể hiện sự đoàn kết và thống nhất giữa các dân tộc.
Theo báo cáo Tổng kết Nghị quyết số 26-NQ/TW, tốc độ tăng trưởng kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt bình quân 7% trong giai đoạn 2016-2018, cao hơn mức trung bình cả nước Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, trung bình 4% mỗi năm, với các xã đặc biệt khó khăn giảm trên 4% và các huyện nghèo giảm từ 5-6% mỗi năm Đặc biệt, trong giai đoạn 2015-2019, 8/64 huyện nghèo đã thoát nghèo theo Nghị quyết 36a.
Chủ trương đường lối của Đảng về công tác dân tộc được nêu rõ trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện các giải pháp cụ thể nhằm phát triển và bảo vệ quyền lợi của các dân tộc Nội dung này không chỉ thể hiện sự quan tâm của Đảng đối với công tác dân tộc mà còn khẳng định cam kết xây dựng một xã hội công bằng và đoàn kết.
Tính đến năm 2020, 14/30 huyện nghèo đã thoát khỏi tình trạng khó khăn nhờ cơ chế theo Nghị quyết 36a Trong số 139 xã, có 124 xã và 1.322/20.176 thôn đặc biệt khó khăn đã ra khỏi diện đầu tư của Chương trình 135 Đặc biệt, 1.052/5.266 xã đạt chuẩn Nông thôn mới, trong đó có 106/2.139 xã đặc biệt khó khăn Ngoài ra, 27 huyện thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi của 31 tỉnh, thành phố đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Công tác phát triển giáo dục và đào tạo cho người dân tộc thiểu số được chú trọng, với 316 trường Phổ thông Dân tộc nội trú trên toàn quốc, phục vụ hơn 109.000 học sinh Các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người dân tộc thiểu số đang được triển khai tích cực Từ 2016 đến 2020, hơn 800 nghìn người dân tộc thiểu số đã được đào tạo nghề, trong đó khoảng 412 nghìn lao động nông thôn nhận hỗ trợ đào tạo dưới 3 tháng theo Đề án 1956/QĐ-TTg.
Các lĩnh vực văn hóa và xã hội của vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã được chú trọng, đạt nhiều thành tựu đáng kể Di sản văn hóa được bảo tồn và phát triển, với nhiều di tích được công nhận cấp quốc gia như Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên và lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn Để bảo tồn văn hóa, Chính phủ đã phê duyệt xây dựng Làng văn hóa - du lịch các dân tộc, tạo việc làm và phát triển di sản văn hóa truyền thống Điều này cũng góp phần tăng cường tình đoàn kết và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trong nước và quốc tế.
Trong giai đoạn 2011 - 2020, Chính phủ đã tập trung đầu tư ngân sách Nhà nước cho các huyện nghèo và những xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn tại vùng Tây Bắc và Tây Nguyên.
1 Ủy ban dân tộc: thông tin tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo (27/08/2021) Một số chính sách lớn của Đảng và
Nhà nước đã có những chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và các vùng miền núi Những nỗ lực này không chỉ giúp cải thiện đời sống mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của các khu vực này.
là cơ quan quản lý các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được công bố nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các di sản này Để tìm hiểu thêm, bạn có thể truy cập vào trang web chính thức của Cục Di sản văn hóa.
Tây Nam bộ đã đầu tư gần 1.700 tỷ đồng cho các chương trình và dự án phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu, đặc biệt là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Những chương trình tiêu biểu bao gồm Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2015-2020, Chương trình 135, Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới, và Chương trình 36a.
Công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi và khu vực biên giới đang được củng cố và tăng cường Điều này mang lại sự bình đẳng và quyền lợi hợp pháp cho người dân trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc Lực lượng công an đã tổ chức tốt công tác thông tin, tuyên truyền để vận động đồng bào tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đồng thời phòng chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi và kỳ thị Lực lượng quân đội, đặc biệt là bộ đội biên phòng, đã hỗ trợ các cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội Nhiều mô hình “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc” đã góp phần thay đổi nếp nghĩ và cách làm của đồng bào dân tộc thiểu số.
2.3.1.2 Nguyên nhân đạt được a Trên lĩnh vực chính trị
Đảng và Nhà nước đã thực hiện nghiêm túc chủ trương về chính sách dân tộc, ban hành hệ thống chính sách đồng bộ nhằm phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Khối đại đoàn kết dân tộc được xác định là rất quan trọng, và các đại biểu quốc hội từ các dân tộc thiểu số không ngừng học hỏi, nâng cao kiến thức để tham gia hiệu quả vào các hoạt động của Quốc hội và hội đồng dân tộc.
Ủy ban dân tộc đã chỉ ra rằng các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước liên quan đến vấn đề dân tộc đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng miền núi.
Các cấp ủy và chính quyền đang tích cực triển khai các chính sách của Trung ương và địa phương nhằm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Công tác định canh định cư được chú trọng, góp phần ổn định sản xuất và nâng cao đời sống của đồng bào Chính sách linh động, phù hợp với đặc điểm từng vùng và dân tộc giúp khai thác tiềm năng và thế mạnh địa phương Từ năm 2016 đến 2020, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 9,88% xuống dưới 3%, 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm và 80% số thôn có điện.
Sự nhất quán trong đường lối và chính sách của Đảng và nhà nước được các bộ ngành, cơ quan Trung ương, cùng chính quyền các cấp chú trọng triển khai Các chính sách ưu đãi và khuyến khích hỗ trợ cho những người tham gia vào các hoạt động bảo tồn và phát huy được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực xã hội.
Giải pháp thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời
Bình đẳng, đoàn kết và tương trợ là những nguyên tắc cốt lõi trong chính sách dân tộc của Đảng, được cụ thể hóa qua các chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho từng vùng dân tộc và miền núi Nhờ vào những nguyên tắc này, kinh tế - xã hội của các vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã có những bước tiến đáng kể.
2.4.1 Trên lĩnh vực chính trị
Nhiều cán bộ chưa được đào tạo chuyên môn cao hoặc làm việc ở vị trí không phù hợp với chuyên môn của họ, dẫn đến sự phân bổ không đồng đều và rối loạn trong hệ thống Việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ không theo mục tiêu cụ thể hay chiến lược nào đã gây lãng phí nguồn nhân lực Chính sách và đãi ngộ cho cán bộ chưa tương xứng với công việc của họ, cùng với sự ngăn cách về cơ cấu cán bộ giữa các địa phương, gây khó khăn trong việc phân công công tác Hệ thống chính sách dân tộc liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, dẫn đến sự phối hợp chưa hiệu quả giữa các ngành.
Năng lực xây dựng và ban hành chính sách của bộ máy nhà nước còn hạn chế, dẫn đến chất lượng chính sách chưa đạt yêu cầu Sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành trong việc xây dựng và phân bổ nguồn lực chưa hiệu quả Nhiều chính sách không phù hợp với nhu cầu thực tế, gây ra hiệu quả thấp, và cách tiếp cận cũng như hỗ trợ từ chính sách chưa khuyến khích sự năng động, sáng tạo của người thụ hưởng.
404 Client Error: Not Found for url: http://dttg.ubdt.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/mot-so-ket-qua-dat-duoc-
Những vấn đề cơ bản cần giải quyết về công tác dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một chủ đề quan trọng Bài viết trên Tạp chí Cộng sản (29/11/2016) nhấn mạnh rằng việc thực hiện chính sách dân tộc cần phải được chú trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững và công bằng xã hội Đặc biệt, cần có những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số, đồng thời khắc phục những bất cập trong công tác quản lý và phát triển nguồn nhân lực Việc này không chỉ góp phần vào sự ổn định chính trị mà còn thúc đẩy sự đoàn kết và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Việc phân công quản lý và điều hành thực hiện chính sách hiện đang gặp phải tình trạng chồng chéo, với các chính sách được đề ra có mục tiêu lớn nhưng thời gian thực hiện lại ngắn hạn và mang tính nhiệm kỳ Các cơ chế thực thi chưa đồng bộ, dẫn đến sự trùng lắp về đối tượng và địa bàn trong một số chương trình, dự án Hơn nữa, cán bộ thường không được đào tạo chuyên môn cao hoặc làm việc ở vị trí không phù hợp với chuyên môn của họ Tỉ lệ phân bổ cán bộ trên dân số không đồng đều gây rối loạn cho hệ thống, trong khi việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ không theo đúng mục tiêu và chiến lược, dẫn đến lãng phí nguồn nhân lực.
Chính sách thu hút và đãi ngộ cán bộ công tác chưa thực sự xứng đáng, cùng với sự phân chia cơ cấu cán bộ giữa các địa phương gây khó khăn trong việc phân công công việc Hệ thống chính sách dân tộc liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau và do nhiều ngành quản lý, dẫn đến sự phối hợp chưa hiệu quả.
Giải pháp phát huy mặt đạt được
Hoàn thiện hệ thống pháp luật dành cho việc công tác quản lý nhà nước về phát triển các dân tộc thiểu số.
Để quản lý nhà nước hiệu quả về phát triển dân tộc thiểu số, cần sớm ban hành Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng trong lĩnh vực này Việc hỗ trợ phát triển sẽ quy định nguyên tắc và chính sách hỗ trợ, đồng thời tổ chức thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho vùng dân tộc và miền núi Điều này sẽ giúp thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 2013 về chính sách dân tộc, quyền con người và quyền công dân, đồng thời khắc phục những bất cập trong thể chế và chính sách hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Giải pháp khắc phục hạn chế
Việc xây dựng chính sách cần tuân thủ quy trình và thủ tục theo các Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Nội dung chính sách phải đảm bảo tính khoa học, thống nhất và liên kết, đồng thời tránh chồng chéo, xung đột và mâu thuẫn Cần thực hiện rà soát định kỳ các chính sách dân tộc hiện tại để điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới.
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý không chỉ quy định quản lý và phân công trách nhiệm, mà còn hỗ trợ tổ chức và điều hành bộ máy Điều này góp phần tăng cường sự tham gia của người dân, các tổ chức chính trị - xã hội, và doanh nghiệp địa phương trong công tác dân tộc Đồng thời, việc xây dựng mạng lưới và thúc đẩy liên kết giữa các tổ chức và cá nhân là cần thiết để hỗ trợ phát triển vùng dân tộc và miền núi.
2.4.2 Trên lĩnh vực kinh tế
Hạn chế Đối tượng thụ hưởng chính sách chưa rõ ràng, khâu quản lý, tổ chức thực hiện chính sách chưa công khai, minh bạch.
Nghiên cứu thực tiễn quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi thời kỳ đổi mới còn gặp nhiều vấn đề.
Hệ thống chính sách hiện nay thiếu sự đồng bộ và nhất quán, dẫn đến việc triển khai gặp nhiều hạn chế Điều này đã cản trở khả năng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của các hộ nghèo Thêm vào đó, các văn bản quản lý và hướng dẫn thực hiện chính sách thường được ban hành chậm, trong khi một số chính sách lại khó thực hiện hoặc không phù hợp với thực tiễn, nhưng vẫn chưa được sửa đổi hoặc bổ sung kịp thời.
Việc phân cấp thực hiện thiếu tính đồng bộ và nhất quán, dẫn đến tình trạng các công trình cùng quy mô nhưng lại do các cấp quản lý khác nhau, như xã và huyện Nhiều chương trình và dự án không được gắn kết với quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Sự thiếu tham vấn trong triển khai các công trình trên địa bàn gây khó khăn trong việc phối hợp nguồn lực, làm giảm hiệu quả đầu tư Hơn nữa, quy trình giám sát cộng đồng thường bị coi nhẹ và chỉ mang tính hình thức ở nhiều nơi.
Quá trình thực hiện các chính sách chưa được gắn kết với việc cân đối nguồn lực và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Hầu hết các chính sách chỉ mang tính hỗ trợ, trong khi cơ chế phân bổ nguồn lực lại chưa hợp lý, vẫn mang tính bình quân và chưa xem xét đến quy mô dân số, vị trí địa lý, điều kiện phát triển và mức độ khó khăn của từng địa phương.
Giải pháp phát huy mặt đạt được
Tăng cường phối hợp trong việc xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc là rất quan trọng Hệ thống chính sách này cần bao quát nhiều lĩnh vực và yêu cầu sự quản lý từ nhiều ngành khác nhau Do đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan, đặc biệt là các bộ chuyên ngành.
Giải pháp khắc phục hạn chế
Cần tuân thủ các quy định của Hiến pháp về vai trò của Hội đồng Dân tộc trong việc tham gia vào các dự thảo chính sách dân tộc trước khi Chính phủ ban hành Ủy ban Dân tộc cần chủ động xây dựng cơ chế quản lý thông tin về chính sách dân tộc ở các cấp tỉnh và Trung ương, đồng thời lập kế hoạch và chương trình công tác Việc phối hợp chặt chẽ với Hội đồng Dân tộc trong xác định vấn đề chính sách, xây dựng nội dung và tổ chức thực thi là rất quan trọng, cùng với việc thực hiện kiểm tra, giám sát định kỳ hàng năm và 5 năm.
KẾT LUẬN
Bản sắc dân tộc Việt Nam là sự kết tinh của những giá trị bền vững và tinh hoa được hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh Những đặc điểm nổi bật bao gồm lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, và lòng nhân ái khoan dung Tất cả những yếu tố này đã tạo nên sức mạnh và dấu ấn độc đáo của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam.
Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ giúp đỡ các dân tộc thiểu số mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho họ hòa nhập với dân tộc đa số Điều này đảm bảo rằng các dân tộc thiểu số có thể phát triển và hòa nhập với xu thế chung mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa của mình, thể hiện qua câu nói: “hòa nhập được, nhưng không bị hòa tan.” Đảng và nhà nước đã đề ra nhiều giải pháp thực hiện chính sách dân tộc, chú trọng đến việc bảo tồn giá trị văn hóa, đào tạo giáo dục và bồi dưỡng cán bộ, nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa nỗ lực của người dân và sự hỗ trợ của Nhà nước.
Di sản văn hóa là yếu tố quan trọng tạo nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng và dân tộc Những giá trị này được hình thành qua quá trình sinh tồn và phát triển của các cộng đồng Đảng và nhà nước luôn coi trọng việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Vì vậy, giới trẻ ngày nay cần chung tay gìn giữ và bảo tồn các di sản văn hóa, đồng thời phát huy những bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần tạo nên bức tranh văn hóa phong phú và đa dạng của Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021) Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật
2 Báo điện tử Chính phủ (26/02/2021) Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Truy cập từ: https://baochinhphu.vn/toan- van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-dang-
3 Báo điện tử Chính phủ (26/02/2021) Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Truy cập từ: https://baochinhphu.vn/toan- van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-dang-
4 Công an nhân dân online (15/10/2021) Bảo tồn các di sản phi vật thể của đồng bào dân tộc thiểu số Truy cập từ: https://cand.com.vn/van-hoa/bao- ton-cac-di-san-phi-vat-the-cua-dong-bao-dan-toc-thieu-so-i631497
5 Cổng thông tin điện tử Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (09/8/2022) Thực tiễn chính sách dân tộc trong hệ thống chính sách, pháp luật đang đặt ra yêu cầu phải khẩn trương đồng bộ hóa Truy cập từ: https://quochoi.vn/tintuc/Pages/danh-sach-tin-tuc.aspx?
6 Hồ Chí Minh (2011) Toàn tập, tập 12 NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
7 Lý luận chính trị (25/05/2021) Giải pháp thực hiện hiệu quả công tác dân tộc trong thời kỳ mới Truy cập từ: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/3531-giai- phap-thuc-hien-hieu-qua-cong-tac-dan-toc-trong-thoi-ky-moi.html
8 Tổng cục thống kê (19/12/2019) Thông cáo báo chí kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 Truy cập từ: https://www.gso.gov.vn/su-kien/2019/12/thong-cao-bao-chi-ket-qua-tong- dieu-tra-dan-so-va-nha-o-nam-2019/
9 Tamnhinvietnam (06/05/2021) Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán, xen kẽ nhau; các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú trên các địa bàn có giá trị chiến lược Truy cập từ: https://vietnamtodaynew.blogspot.com/2021/05/cac-dan-toc-o-viet-nam-cu- tru-phan-tan.html#:~:text=Song%20nh%C3%ACn%20chung%20c
%20%E1%BB%9F%20%C4%91%E1%BB%93ng%20b%E1%BA%B1ng
10 Tạp chí Cộng sản (03/04/2021) Chính sách dân tộc của Việt Nam qua 35 năm đổi mới Truy cập từ: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/82170 1/chinh-sach-dan-toc-cua-viet-nam-qua-35-nam-doi-moi.aspx#_edn2
11 Tạp chí Cộng sản (03/04/2021) Chính sách dân tộc của Việt Nam qua 35 năm đổi mới Truy cập từ: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/82170 1/chinh-sach-dan-toc-cua-viet-nam-qua-35-nam-doi-moi.aspx
12 Tạp chí Cộng Sản (06/3/2022) Giảm nghèo bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta Truy cập từ: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/82507 2/giam-ngheo-ben-vung-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui-o- nuoc-ta-hien-nay.aspx
13 Tạp chí Cộng sản (29/11/2016) Những vấn đề cơ bản cần giải quyết về công tác dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Truy cập từ: https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/42246/nhung-van- de-co-ban-can-giai-quyet-ve-cong-tac-dan-toc-trong-thoi-ky-qua-do-len- chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam.aspx
14 Trang thông tin điện tử ban tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum (19/10/2021)
Chủ trương của Đảng về công tác dân tộc được nêu rõ trong Văn kiện Đại hội XIII, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển đồng bào các dân tộc thiểu số Đảng đề ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao đời sống, bảo tồn văn hóa và phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc Việc thực hiện các chính sách này không chỉ góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.