HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KẾ TOÁN VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH HỌC PHẦN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ *** TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI TÌM HIỂU VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN NGUYỄ[.]
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KẾ TOÁN VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HỌC PHẦN: TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
-*** -TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN THỊ HƯƠNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NHÓM 09
LỚP : K65KEC & K62
Bảng đánh giá kết quả tham gia của nhóm 9:
Trang 2
MỤC LỤC
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Hoạt động huy động vốn
2 Hoạt động sử dụng vốn
3 Dịch vụ khác
PHẦN 2: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
1 Lịch sử hình thành hệ thống NHTM tại Việt Nam
2 Sự phát triển của hệ thống NHTM tại Việt Nam
a Số lượng NHTM, Phân loại NHTM
b Quy mô huy động vốn
c Vai trò của NHTM đối với nền kinh tế
PHẦN 3: KẾT LUẬN
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ CỦA ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Bản chất
Trang 3Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ -dịch vụ tài chính tiền tệ, là trung gian tài chính đứng ra vay vốn của những người cho vay rồi dùng số vốn đó cho người thiếu vốn vay lại, làm cho nguồn vốn không sinh lợi của hàng triệu dân chúng được chuyển đến cho các doanh nghiệp lớn nhỏ thiếu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh và sinh lời
Chức năng
Ngân hàng thương mại có chức năng nhận tiền gửi (huy động vốn) và cho vay (sử dụng vốn) Khi nhận tiền gửi của khách hàng, ngân hàng đã đem lại thu nhập cho người gửi tiền Khi cho các doanh nghiệp vay vốn, ngân hàng đã cung cấp cho họ phương tiện làm giàu, đóng góp cho ngân sách nhà nước Ngoài ra ngân hàng còn cung cấp cho khách hàng của mình nhiều dịch vụ khác như chuyển tiền hộ, bảo quản hộ tài sản quý, mua hộ bán hộ vàng bạc, chứng khoán, tài sản có giá trị cao, bảo lãnh việc phát hành chứng khoán thanh toán với các đối tác trong nước và nước ngoài
Vai trò
Ngân hàng thương mại có vai trò là trung gian tài chính Vai trò này thể hiện trong
ba chức năng: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, cung cấp dịch vụ khách hàng
1 Hoạt động huy động vốn của NHTM
Huy động vốn là một quyền năng đặc thù của các tổ chức tín dụng Việc huy động vốn không chi đơn thuần là một hình thức kêu gọi vốn góp nhàn rỗi nhằm mục đích bổ sung vốn kinh doanh, mà còn là một hình thức kinh doanh dem lại lợi nhuận Việc huy động vốn của các tổ chức tín dụng rất
đa dạng và được thực hiện bằng chính các nghiệp vụ kinh doanh của tổ chức tín dụng như: nhận tiền gửi của các khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp; phát hành giấy tờ có giá; vay vốn từ ngân sách nhà nước, từ các tổ chức tín dụng… Các nguồn vốn huy động được trở thành nguồn vốn hoạt động chủ yếu của tổ chức tín dụng
Nhận tiền gửi, tiền gửi là tiền mà khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi có thời hạn, không thời hạn, tiết kiệm hay hình thức khác
Phát hành giấy tờ có giá như trái phiếu, cổ phiếu
Trang 4 Vay vốn của tổ chức, cá nhân khác: doanh nghiệp nếu có khó khăn, có thể vay của nhau tạm thời
2 Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động tín dụng: Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng dưới các hình thức: Cho vay; Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; Bảo lãnh ngân hàng; Phát hành thẻ tín dụng; Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng nhà nước chấp thuận.
Hoạt động cho vay: là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi
Hoạt động đầu tư: Quá trình sử dụng vốn đầu tư xét về mặt bản chất chính là quá trình thực hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền để tạo nên những yếu tố cơ bản của sản xuất, kinh doanh và phục vụ sinh hoạt xã hội Quá trình này còn được gọi là hoạt động đầu tư hay đầu tư vốn
Hoạt động dịch vụ thanh toán: là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng
Các hoạt động khác :
Ngân hàng thương mại được tham gia đấu thầu tín phiếu Kho bạc, mua, bán công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng nhà nước và các giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ
Ngân hàng thương mại được quyền uỷ thác, nhận uỷ thác, đại lí trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lí tài sản theo quy định của Ngân hàng nhà nước
Được thực hiện dịch vụ quản lí tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lí, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn
Được tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp và tư vấn đầu tư; Mua, bán trái phiếu Chính phủ,
Trang 5trái phiếu doanh nghiệp; Dịch vụ môi giới tiền tệ; Lưu kí chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến hoạt động ngân hàng sau khi được Ngân hàng nhà nước chấp thuận bằng văn bản
PHẦN 2: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
a LỊCH SỬ HÌNH THÀNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM:
Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người sở hữu nó tránh mất mát, đổi lại người chủ sở hữu phải trả cho người cầm giữ hộ một khoản tiền công Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn thì ngân hàng trở thành nơi giữ tiền cho những người có tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính tiền đó cho các cá nhân và tổ chức vay lại, và rất hiếm khi có tình trạng cùng một lúc tất cả chỉ tiền gửi đến đòi nợ ngân hàng, đó chính là nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng Căn cứ vào chức năng, ngân hàng được chia làm hai loại: ngân hàng thương mại và ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng thương mại(NHTM) đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống NHTM đã
có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh
tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được
Trong mọi nền kinh tế, NH luôn được xem là khu vực then chốt, có vai trò vô cùng quan trọng, là mạch sống của nền kinh tế đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng Vì Vậy mà khu vực này luôn được nhà nước và chính phủ các nước
Trang 6đặc biệt quan tâm và giám sát chặt chẽ Việt Nam cũng không là trường hợp ngoại lệ
Lịch sử phát triển của hệ thống NH Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của từng thời kỳ cách mạng và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, hệ thống tiền tệ, tín dụng NH được thiết lập
và bảo hộ bởi thực dân Pháp thông qua NH Đông Dương NH Đông Dương vừa đóng vai trò là NHTW trên toàn cõi Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) vừa là NHTM
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, thực hiện chủ trương, chính sách mới về tài chính - kinh tế do Đại hội Đảng lần thứ
II (tháng 02/1951) đề ra Ngày 06/05/1951, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập NH Quốc Gia Việt Nam - NH của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á để thực hiện các nhiệm vụ cấp bách:
Phát hành giấy bạc
Quản lý kho bạc
Thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất
Đấu tranh tiền tệ với địch
Ngày 21/01/1960, tổng giám đốc NH quốc gia thừa lệnh thủ tướng chính phủ ký
ban hành TT số 20/VP-TH đổi tên “Ngân hàng Quốc gia Việt Nam” thành “Ngân
hàng Nhà Nước Việt Nam” để phù hợp với hiến pháp 1946 của nước Việt Nam
Dân Chủ Cộng Hòa
Năm 1975, sau khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc tiếp quản NH Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa và các NH tư bản tư nhân dưới chế độ ngụy quyền Sài Gòn ở miền Nam hình thành NH Quốc Gia ở miền Nam Việt Nam đã mở đầu cho quá trình thống nhất thể hóa hoạt động NH trên toàn quốc theo cơ chế hoạt động NH của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Tháng 7/1976, đất nước được thống nhất về phương diện nhà nước, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra đời, theo đó NH Quốc Gia ở miền Nam được hợp nhất vào NHNN Việt Nam hình thành hệ thống NHNN duy nhất của cả nước
Trang 7Hệ thống tổ chức thống nhất của NHNN bao gồm: NHTW đặt trụ sở chính tại thủ
đô Hà Nội, các chi nhánh NHNN tại các tỉnh, thành phố và các chi điểm NH cơ sở tại các huyện, quận trên phạm vi cả nước
Căn cứ vào những biến đổi quan trọng về tình hình và nhiệm vụ cách mạng cũng như về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của NHNN Việt Nam, quá trình phát triển của NH được chia làm 4 thời kỳ:
Thời kỳ 1951 - 1954:
-Trong thời kì này, NH Quốc Gia Việt Nam được thành lập và hoạt động độc lập tương đối trong hệ thống tài chính,thực hiện trọng trách đầu tiên theo chủ trương của Đảng Và nhà nước là: phát hành giấy bạc NH; thu hồi giấy bạc tài chính; thực hiện quản lý kho bạc nhà nước góp phần tăng thu; tiết kiệm chi; thống nhất quản lý thu chi ngân sách; phát triển tín dụng NH phục vụ sản xuất; lưu thông hàng hóa; tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền tệ với địch
Thời kỳ 1955 – 1975
Trong thời kì này, NH Quốc Gia thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Củng cố thị trường tiền tệ, giữ cho tiền tệ ổn định, góp phần bình ổn vật giá, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế
- Phát triển công tác tín dụng nhằm phát triển sản xuất lương thực; đẩy mạnh khôi phục và phát triển nông, công, thương nghiệp; góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược:xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa miền Bắc và giải phóng miền Nam
Thời kỳ 1975 – 1985
-Là giai đoạn 10 năm khôi phục kinh tế sau chiến tranh giải phóng và thống nhất nước nhà, xây dựng hệ thống NH mới của chính quyền cách mạng
-Hệ thống NHNN Việt Nam thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước, phát hành các loại tiền mới của nước CHXNCN Việt Nam, thu hồi các loại tiền cũ
ở hai miền Nam - Bắc vào năm 1978 Đến cuối những năm 80, hệ thống NHNN về
Trang 8cơ bản vẫn hoạt động như một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường
-Sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống NH chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường chỉ được bắt đầu khởi xướng từ cuối những năm 80 và kéo dài cho tới ngày nay
Thời kỳ 1986 đến nay
-Đây là giai đoạn đánh dấu nhiều sự kiện quan trọng, có nhiều chuyển biến cơ bản của hệ thống NH Việt Nam, thực hiện tách dần chức năng quản lý nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động NH sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa Cụ thể là :
- Ngày 26/03/1988, chủ tịch hội đồng Bộ trưởng đã ký nghị định 53 hình thành hệ thống NH hai cấp, bao gồm: cấp NH quản lý là NHNN thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ và hoạt động NH và cấp NH kinh doanh đó là các tổ chức tín dụng NH, tổ chức tín dụng phi NH thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ
- Tháng 05/1990, pháp lệnh NHNN Việt Nam và pháp lệnh NH, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính được ban hành đánh dấu sự hoàn thiện cơ chế mới về hoạt động NH.Đồng thời với quá trình đổi mới cơ chế vận hành trong hệ thống
NH, các loại hình tổ chức tín dụng với các hình thức sở hữu khác nhau được hình thành như: NHTM quốc doanh,NHTM cổ phần, NH liên doanh, chi nhánh NH nước ngoài, hợp tác xã tín dụng, quỹ tín dụng nhân dân, công ty tài chính…
- Năm 1997, quốc hội khóa X thông qua luật NHNN Việt Nam và luật các tổ chức tín dụng (ngày 02/12/1997) và có hiệu lực thi hành ngày 01/10/1998 thay thế hoàn toàn hai pháp lệnh năm 1990 chi phối, kiểm tra giám sát hoạt động NH cho đến giai đoạn hiện nay
- Tháng 04/2007, NHNN Việt Nam cho phép sự hiện diện thương mại của các tổ chức tài chính nước ngoài tại Việt Nam dưới hình thức NH 100% vốn nước ngoài -Trong giai đoạn hiện nay, hệ thống NH vẫn là nhân tố nòng cốt, tích cực trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa,
Trang 9hiện đại hóa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, theo nghị quyết của Quốc hội và chính phủ, hệ thống NH cần có nhiều nỗ lực hơn Một mặt phải đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn và dịch
vụ NH cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế; mặt khác phải đảm bảo an toàn, hiệu quả, nâng cao năng lực tài chính và sức cạnh tranh của các tổ chức tín dụng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Hệ thống NHTM Việt Nam.
-Việt Nam bao gồm: NHTM nhà nước, NHTM cổ phần, NH liên doanh, chi nhánh
NH nước ngoài, NH 100% vốn nước ngoài
- NHTM nhà nước: là NH do nhà nước thành lập, vốn của nhà nước, thuộc sở hữu nhà nước, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam NHTM nhà nước hoạt động theo mô hình của một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
- NHTM cổ phần: là NH được thành lập và hoạt động bằng nguồn vốn góp của các
cổ đông dưới hình thức mua cổ phần, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, tổ chức hoạt động theo mô hình công ty cổ phần
- NH liên doanh: là NH được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của bên Việt Nam(gồm một hoặc nhiều NH Việt Nam) và bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều
NH nước) trên cơ sở hợp đồng liên doanh NH liên doanh hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam
- Chi nhánh NH nước ngoài: là đơn vị phụ thuộc của các tổ chức tài chính nước ngoài(NH mẹ), hoạt động theo giấy phép kinh doanh do NHNN Việt Nam cấp và tuân thủ quy định pháp luật Việt Nam được NH mẹ bảo đảm bằng văn bản về việc chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ của chi nhánh tại Việt Nam
- NH 100% vốn của nước ngoài: là NH được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài, trong đó phải có một NH nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ.NH 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam
Trang 10b SỰ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI
VIỆT NAM:
a Số lượng ngân hàng thương mại:
Cuối tháng 6-2008, trong hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại nhà nước, 6 ngân hàng liên doanh, 36 ngân hàng thương mại cổ phần,
47 chi nhánh ngân hàng nước ngoài Có 53 bộ hồ sơ xin thành lập ngân hàng, trong
đó 23 bộ hồ sơ trong nước
Đến tháng 6-2011, theo số liệu ngân hàng nhà nước cung cấp, cả nước có 5 ngân ngân hàng thương mại nhà nước, 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 5 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 48 chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
Nhận xét tổng số lượng ngân hàng tăng ít xét về ngân hàng thương mại nhà nước vẫn không thay đổi mặc dù đã có 2 trong 5 ngân hàng thương mại nhà nước đã có
cổ phần hóa Các ngân hàng thương mại cổ phần thì con số vẫn ít thay đổi nhưng
từ năm 2008 đến nay đã có một số ngân hàng mới được thành lập
*Phân loại Ngân hàng thương mại:
Hinh thức sở hữu: thì ngân hàng Thương mại sẽ được chia làm 5 loại, bao
gồm:
Là loại hình ngân hàng được mở với 100% vốn đầu tư là ngân sách của nhà nước Với xu thế hội nhập kinh tế như hiện nay thì để thu hút được các nguồn vốn Ngân hàng Thương mại Quốc doanh đang ban hành nhiều hình thức nhằm tăng vốn như
cổ phần hóa hay phát hành trái phiếu
Là loại hình ngân hàng được thành lập do sự góp vốn của 2 hay nhiều hơn các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp Mà trong đó thì các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp này chỉ được phép sở hữu một lượng cổ phần giới hạn theo quy định của phía Ngân hàng Nhà nước