TÌNH HUỐNG 1 Phân phối thẩm quyền Trả lời báo chí, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường Trần Hồng Hà cho biết, việc cấp giấy phép xả nước thải phải tuân theo những quy định tại Nghị định 149 Công ty xi[.]
Trang 1TÌNH HUỐNG 1: Phân phối thẩm quyền
Trả lời báo chí, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường Trần Hồng Hà cho biết, việc cấp giấy phép xả nước thải phải tuân theo những quy định tại Nghị định 149 Công ty xin phép phải có hồ sơ, được hội đồng thẩm định đồng ý đề xuất Bộ cấp giấy phép
"Chúng tôi khẳng định, với quy trình này, Bộ Tài nguyên Môi trường đã làm đúng Vấn đề ở đây là việc phân tích mẫu nước tại nguồn tiếp nhận thì
Bộ không thể trực tiếp tham gia được", ông Hà nói
Ông Hà cho rằng, trách nhiệm phân tích mẫu nước thuộc Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai vì trong công văn của Sở gửi về Bộ cũng đã xác nhận chất lượng nguồn nước tiếp nhận đảm bảo theo quy định và kiến nghị
Bộ cấp phép cho Công ty Vedan Bộ yêu cầu chất lượng nguồn nước tiếp nhận vào sông Thị Vải phải đạt loại B (nước phục vụ sản xuất nông nghiệp)
là hoàn toàn phù hợp và đúng với quy định của pháp luật
Trả lời báo Lao Động ngày 17/9, ông Hoàng Văn Thống, Chi cục trưởng
Chi cục Bảo vệ Môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai lại cho rằng, do lượng nước thải của Vedan trên 5.000 m3 một ngày nên theo quy định, việc cấp giấy phép và thanh kiểm tra thuộc thẩm quyền Bộ Tài nguyên Môi trường
Trước thông tin cho rằng, nhiều thành viên hội đồng thẩm định có ý kiến phản đối cấp giấy phép cho Vedan, ông Lê Bắc Huỳnh - Phó cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên Môi trường - khẳng định, việc cấp giấy phép xả nước thải cho công ty Vedan dựa trên cơ sở báo cáo của công ty cũng như ý kiến của hội đồng khoa học, các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực và cơ quan quản lý của trung ương, địa phương
"Trong quá trình xem xét cấp giấy phép xả nước thải cho công ty Vedan, chúng tôi đã có lần trả lại hồ sơ Có thể vì điều này mà có thông tin cho rằng nhiều thành viên trong hội đồng thẩm định phản đối cấp giấy phép cho công ty Vedan", ông Huỳnh giải thích
Theo ông Huỳnh, hồ sơ đầu tiên mà hội đồng thẩm định nhận được từ
Vedan vào tháng 3/2007 Hồ sơ này không đủ điều kiện, hội đồng thẩm định không đồng ý và trả lại ngay
Câu hỏi:
Trang 2TÌNH HUỐNG 2: Thẩm quyền lập quy
Thực tế cho thấy công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về sở hữu công nghiệp được thực hiện ở các địa phương thời gian qua có chất lượng chưa cao, chưa bảo đảm thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ
thống pháp luật, chưa phù hợp với nội dung văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên Bà Nguyễn Thị Thanh Hà, Trưởng phòng Pháp chế chính sách (Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học Công nghệ)
có nhận xét như vậy khi trả lời phỏng vấn với Báo Phú Yên
- Một số văn bản quy định về thời điểm có hiệu lực chưa phù hợp Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND Bởi vì, theo quy định, văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày ký, trừ trường hợp văn bản quy định ngày có hiệu lực
muộn hơn Tuy vậy, một số văn bản quy phạm pháp luật của địa phương quy định thời điểm có hiệu lực của văn bản là “kể từ ngày ký” Bên cạnh
đó, một số văn bản nhắc lại quy định của Luật Sở hữu trí tuệ song không đầy đủ, thậm chí không chính xác, đồng thời cũng không có quy định chỉ dẫn đó là của Luật Sở hữu trí tuệ Ví dụ, trong quy chế hoạt động sở hữu công nghiệp của địa phương có quy định về các hành vi xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và tên thương mại nhưng không đầy đủ so với luật Trong quy định quản lý một số hoạt động sở hữu công nghiệp trên địa bàn một số tỉnh có quy định về quyền của các tổ chức, cá nhân không phải
là chủ thể quyền sở hữu công nghiệp, trong đó nhắc lại các nội dung có liên quan của Luật Sở hữu trí tuệ nhưng không đầy đủ Trong quy định, về hỗ trợ xác lập quyền sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp trên địa bàn của một số tỉnh có đưa ra các quy định giải thích thuật ngữ về các đối tượng
sở hữu công nghiệp nhưng lại không chính xác so với quy định có liên quan của Luật Sở hữu trí tuệ
* Tình trạng trên có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động sở hữu trí tuệ?
- Văn bản quy phạm pháp luật của địa phương đã đưa ra các quy định
không đúng thẩm quyền Việc nhắc lại nhưng không đầy đủ và không chính xác các quy định của luật sẽ khiến cho các đối tượng thực hiện hiểu không đúng, không đầy đủ về các quy định của luật Việc đưa ra các quy định mới không đúng với chức năng, thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ ở địa phương Chẳng hạn, trong quy chế quản lý hoạt động sở
Trang 3hữu công nghiệp của địa phương có quy định giao cho sở Khoa học- Công nghệ có trách nhiệm: Thực hiện việc thẩm định, giám định về sở hữu công nghiệp phục vụ việc xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Các địa phương cũng đã đưa ra các quy định không thuộc thẩm quyền quy định trong văn bản quy phạm pháp luật Chẳng hạn như, trong quy định quản lý một số hoạt động sở hữu công nghiệp trên địa bàn của một tỉnh có một điều quy định về việc áp dụng văn bản này tại địa phương, có nội dung:
“Trong trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên tham gia có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó” Có địa phương ban hành quy chế hoạt động sáng kiến của cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh (ban hành theo quyết định của UBND), trong đó có định nghĩa đầy đủ về khái niệm sáng kiến, tác giả sáng kiến, chủ sở hữu sáng kiến, thẩm quyền, thủ tục xem xét công nhận sáng kiến… trong khi những nội dung nêu trên không thuộc thẩm quyền quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của UBND tỉnh
Có nơi đưa ra các quy định không phù hợp với quy định của nghị định Ví dụ: Trong quy định quản lý một số hoạt động sở hữu công nghiệp trên địa bàn của một tỉnh có quy định tổ chức hoạt động giám định sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh “phải đăng ký hoạt động khoa học- công nghệ với
sở Khoa học- Công nghệ” Theo nghị định của Chính phủ, việc đăng ký hoạt động khoa học- công nghệ phải được tiến hành trước khi tổ chức đó được phép hoạt động giám định sở hữu công nghiệp
Câu hỏi:
TÌNH HUỐNG 3: Hình thức thực hiện thẩm quyền
Ngày 29.12.2008, Bộ Tư pháp có Quyết định số 11/2008/QĐ-BTP ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý Để triển khai có hiệu quả Quyết định trên, ngày 19.11.2009 Cục Trợ giúp pháp lý,
Bộ Tư pháp có Quyết định số 32/QĐ-TGPL ban hành Hướng dẫn nghiệp vụ đánh giá và xếp loại chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý Những văn bản trên giúp cho các tổ chức, đơn vị, cá nhân có cơ sở đánh giá chất lượng của từng vụ việc trợ giúp pháp lý, đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý
Trang 4Tại điểm 3, mục I Hướng dẫn kèm theo Quyết định số 32 quy định về việc
đánh giá đột xuất của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý quy định: “Khi phát sinh một trong các căn cứ quy định tại điểm b, c, d khoản 1, điều 26 của Bộ tiêu chuẩn, căn cứ vào nội dung và tính chất của vụ việc, người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý quyết định vụ việc cần đánh giá, phương pháp và hình thức đánh giá” Tuy nhiên, cũng tại điểm 4 mục I của Hướng dẫn lại quy định: “Sở Tư pháp đánh giá chất lượng vụ việc khi phát sinh một trong các căn cứ tại điểm b, c, d khoản 1, Điều 26 Bộ tiêu
chuẩn và vụ việc đã được tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đánh giá theo
thẩm quyền, nhưng người được trợ giúp pháp lý khiếu nại, kiến nghị Và, trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày phát sinh căn cứ
đánh giá, Giám đốc Sở Tư pháp ra quyết định thành lập Đoàn đánh giá ”.
Câu hỏi:
[Trích ĐIều 26, QĐ số 11của BTP về Ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý
Điều 26 Các căn cứ để tổ chức đánh giá chất lượng vụ việc của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý
1 Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý dựa trên một trong các căn cứ sau:
a) Theo chương trình, kế hoạch đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp
lý đã được phê duyệt;
b) Có kiến nghị, khiếu nại hoặc có yêu cầu bồi thường thiệt hại của người được trợ giúp pháp lý do việc thực hiện trợ giúp pháp lý không bảo đảm chất lượng, làm ảnh hưởng hoặc xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp
pháp của họ;
c) Có thông tin qua các phương tiện truyền thông, báo chí hoặc phản ánh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về việc thực hiện trợ giúp pháp lý không bảo đảm chất lượng;
d) Có căn cứ khác cho rằng việc thực hiện trợ giúp pháp lý chưa bảo đảm chất lượng theo quy định của pháp luật.
2 Người đứng đầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý quyết định việc đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý và phân công người tiến hành đánh giá
Trang 53 Người được lựa chọn để phân công đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý phải là Trợ giúp viên pháp lý, luật sư, tư vấn viên pháp luật hoặc cộng tác viên trợ giúp pháp lý chuyên sâu về lĩnh vực chuyên môn có liên quan trực tiếp đến vụ việc trợ giúp pháp lý và không phải là người đã thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý hoặc người thân thích với người đã thực hiện
vụ việc hoặc người có lợi ích liên quan đến vụ việc ]
TÌNH HUỐNG 5: Vượt thẩm quyền.
[Hồi 22 giờ 30 phút ngày 12/7/2004 ba tài xế của Cty Vân Nam (Cty VN) điều khiển 3 xe tảimang biển số 57K-4850, 57K-1546, 57K-2131 đang chở than trên đường Thoại Ngọc Hầu, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, TP HCM thì bất ngờ một chiếc xe của Ban thanh tra GTCC chặn lại để kiểm tra Qua kiểm tra, Ban thanh tra kết luận các
xe tải này chở quá trọng lượng 2% và đi vào đường có biển báo "hạn chế trọng lượng xe 10 tấn", nên tổ thanh tra đã nhờ chính quyền địa phương chứng kiến để lập biên bản vi phạm hành chính và biên bản tạm giữ tang vật phương tiện vi phạm hành chính theo trình tự thủ tục: gỡ biển số trước và sau của ba xe tải trên Ngày 13/7/2004, 3 tài xế nêu trên đến cơ quan của Ban Thanh tra GTCC TP HCM để xuất
trình giấy tờ và ký tên vào biên bản vi phạm Sau đó Ban Thanh tra GTCC đã ra các quyết định tạm giữ phương tiện số 000921, 000922, 000923/QĐ - TTGTVPT (ngày 12/7/2004) và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 4701, 4702, 4703/QĐ-XPVPHC (ngày 13/7/2004) đối với các phương tiện và người điều khiển nói trên ]
Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết Tổ Thanh tra 6 lập các biên bản vi phạm của tài xế và phương tiện nói trên là áp dụng khoản 5 điều 29 Pháp lệnh Bảo vệ công trình giao thông (ngày 10/12/1994) Sau đó, Ban Thanh tra ra tiếp quyết định phạt bổ sung là tạm thu biển số xe và giấy đăng ký xe 20 ngày, tước giấy phép lái xe 30 ngày (căn cứ tại khoản 1, khoản 2, điều 3, Quyết định 106/2003/QĐ-UB của UBND TP HCM ngày 27/6/2003) vì cho rằng các lái xe có hành vi trốn tránh, che giấu hành vi, không chấp hành lệnh người thi hành công vụ
Sau khi đóng tiền phạt đầy đủ hành vi vi phạm (tải trọng vượt quá giới hạn lưu thông vào đường có biển báo giới hạn trọng tải), Cty VN nộp đơn khiếu nại lên Sở GTCC TP HCM về việc các thanh tra viên của Ban Thanh tra
Trang 6khụng thực hiện nhiệm vụ đỳng chức năng và vượt quỏ thẩm quyền, đũi bồi thường thiệt hại do ban này gõy ra Ngày 16/7/2004 Cty VN gửi đơn khiếu nại đến Ban Thanh tra, ngày 21/7/2004 và ngày 2/8/2004 Cty tiếp tục gửi đơn khiếu nại lờn BGĐ Sở GTCC TP HCM
Ngày 20/8/2004 Cty nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của Thanh tra GTCC (Quyết định 460/QĐ-TMTH, ký ngày 18/8/2004 của Ban Thanh tra GTCC) bỏc đơn khiếu nại của Cty đồng thời quyết định giữ nguyờn cỏc quyết định tạm giữ phương tiện Ngày 23/8/2004, Cty VN tiếp tục gửi đơn khiếu nại lờn Sở GTCC về cỏc quyết định khụng đỳng tại Quyết định
460/QĐ-TMTH
Ngày 13/10/2004, Cty nhận được Quyết định 3519/QĐ-GT của Sở GTCC Quyết định số 3519 cho rằng 3 tài xế trờn đó cú hành vi vi phạm phỏp luật
về an toàn giao thụng đường bộ được quy định tại khoản 3, điểm c, điều 37, Nghị định 15/2003/NĐ-CP và khoản 1, điều 26, Luật Giao thụng đường bộ Quyết định cũng cụng nhận Ban Thanh tra GTCC được phộp ỏp dụng cỏc biện phỏp xử lý được quy định tại Phỏp lệnh Bảo vệ cụng trỡnh giao thụng; Phỏp lệnh xử phạt hành chớnh; Nghị định 15/2003/NĐ-CP Tuy
nhiờn,21/10/2004, Cty VN tiếp tục gửi đơn khiếu nại lờn UBND TP HCM
Cõu hỏi:
[khoản 5 điều 29 Phỏp lệnh Bảo vệ cụng trỡnh giao thụng 1994
5- Chủ trì phối hợp với lực lợng cảnh sát nhân dân và các cơ quan bảo vệ pháp luật khác trong việc thực hiện chức năng thanh tra về bảo vệ công trình giao thông
Trong trờng hợp cần thiết, để kịp thời ngăn chặn hậu quả
có thể xảy ra đối với công trình giao thông do hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ công trình giao thông, Thanh tra viên đợc phép dừng các phơng tiện giao thông vận tải để
có biện pháp xử lý theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm trớc pháp luật về quyết định của mình
Luật GTDB 2001 Điều 70 Thanh tra giao thông đờng bộ
1 Thanh tra giao thông đờng bộ là thanh tra chuyên
ngành
2 Thanh tra giao thông đờng bộ có các nhiệm vụ sau
đây:
Trang 7a) Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật
về bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đờng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình đờng bộ và phơng tiện tham gia giao thông tại các điểm giao thông tĩnh;
Điều 41, ND15 2003 XP GTDB
4 Lực lợng Thanh tra giao thông đờng bộ có thẩm quyền
xử phạt đối với các hành vi vi phạm của ngời và phơng tiện tham gia giao thông tại các điểm giao thông tĩnh quy
định tại các điểm, khoản, điều của Nghị định này nh sau :
…h) Điều 30; Điều 32; Điều 33; Điều 37
c) Chở hàng với tổng trọng lợng của xe (gồm trọng lợng bản thân xe và trọng lợng hàng), tải trọng trục xe sau khi trừ sai số cho phép mà vợt quá tải trọng của cầu, đờng trên 2%;
TỡNH HUỐNG 6: Nguyờn tắc thực hiện TQHC; CQHC với
nhau.
Ngày 27-09-1999, bà Mai Thị Chữ làm đơn xin mở cửa hàng bán lẻ xăng dầu tại l06 Lê Duẩn, phờng Tân Thành,
thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk Đơn của bà Chữ
đ-ợc Uỷ ban nhân dân phờng Tân Thành xác nhận ngày 28-09-1999
Ngày 22-10-1999, Uỷ ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột có Công văn số 552/CV-UB gửi Sở thơng mại Du lịch
Đăk Lăk báo cáo về đơn của bà Chữ xin mở cửa hàng xăng dầu tại 106 Lê Duẩn, phờng Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột trong đó có nội dung: ''Theo qui hoạch 1998-2000 tại
địa bàn này (phờng Tân Thành) đợc qui hoạch một điểm kinh doanh xăng dầu, nh vậy, việc bố trí cho phép bà Mai Thị Chữ mở cửa hàng bán lẻ xăng dầu tại 106 Lê Duẩn là phù hợp với qui hoạch chung của tỉnh Do đó, ủy ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đề nghị Sở Thơng mại du lịch xem xét giải quyết theo qui định''
Trang 8Ngày 16-11-1999, Sở Thơng mại - Du lịch Đăk Lăk có Công văn số 336/CV-TM.QLHC đồng ý cho bà Chữ đợc mở điểm kinh doanh xăng dầu tại 106 Lê Duẩn theo quy hoạch đã
duyệt và yêu cầu bà Chữ phải làm đầy đủ thủ tục xây dựng theo qui định của Nhà nớc và điều kiện kinh doanh xăng dầu qui định tại Thông t 14/1999/BTM ngày
07-07-1999 của Bộ Thơng mại
Ngày 17-11-1999, Công an tỉnh Đăk Lăk có Công văn số 120/CV-PCCC đồng ý cho bà Mai Thị Chữ xây dựng cửa hàng kinh doanh xăng dầu tại 106 Lê Duẩn và yêu cầu bà Chữ trớc khi xây dựng phải gửi toàn bộ hồ sơ thiết kế kỹ
thuật của cửa hàng xăng dầu để thẩm định thiết kế,
thiết bị an toàn phòng cháy chữa cháy theo qui định của Nhà nớc
Đầu tháng 12-1999, khi cha có giấy phép xây dựng, gia
đình bà Chữ đã tiến hành xây dựng lắp đặt hai bồn chứa xăng, mỗi bồn có dung tích 10 m3 và bị khiếu nại
Ngày 13-12-1999, Uỷ ban nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột có công văn yêu cầu đình chỉ việc xây dựng chờ quyết định giải quyết của cơ quan Nhà nớc có thẩm
quyền
Ngày 22-12-1999, bà Mai Thị Chữ làm thủ tục xin phép xây dựng cây xăng dầu tại 106 đờng Lê Duẩn, thành phố Buôn Ma Thuột Đơn đợc Uỷ ban nhân dân phờng Tân
Thành xác nhận ngày 23-12-1999
Ngày 28-12-1999, Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy Công an tỉnh Đăk Lăk cấp Giấy chứng nhận số
07/2001/PCCC thẩm định về thiết kế và thiết bị phòng cháy chữa cháy cửa hàng bán lẻ xăng dầu cho bà Chữ
Ngày 24-02-2000, Sở Xây dựng cấp Giấy phép xây dựng
số 01/GP-SXD cho bà Mai Thị Chữ
Sau khi có giấy phép xây dựng, gia đình bà Chữ tiến hành việc xây dựng cây xăng dầu tại 106 Lê Duẩn thì bị một số công dân thuộc tổ 3, khối 1, phờng Tân Thành
Trang 9khiếu nại việc cho phép bà Mai Thị Chữ xây dựng cây xăng dầu tại 106 Lê Duẩn
Ngày 06-03-2000, Đảng uỷ- Hội đồng nhân dân- Uỷ ban nhân dân- Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc phờng Tân Thành có
đơn kiến nghị Uỷ ban nhân dân thành phố Buôn Ma
Thuột can thiệp với Sở Xây dựng, Sở Thơng mại du lịch, Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy không cho phép bà Chữ mở cây xăng dầu tại 106 Lê Duẩn
Ngày 14-03-2000, Sở Xây dựng có Thông báo số
01/TB-SD về việc tạm đình chỉ xây dựng cửa hàng bán lẻ xăng dầu của bà Mai Thị Chữ để xem xét giải quyết đơn
khiếu nại của công dân
Theo báo cáo của Đoàn thanh tra đợc thành lập theo
Quyết định số 27/QĐ-TTr ngày 28-06-2000 của Chánh
thanh tra tỉnh Đăk Lăk, thì cửa hàng xăng dầu của bà Mai Thị Chữ đã xây dựng các hạng mục sau (hiện trạng tính
đến ngày 10-07-2000):
+ Về thiết bị: Đã lắp đặt 3 cột bơm điện tử; 3 bồn
chứa xăng dầu (mỗi bồn có dung tích là 5m3) đặt ngầm dới
đất; hệ thống đờng ống dẫn xăng dầu và hệ thống nhập kín, van thở tự động
+ Các hạng mục khác: Đã xây dựng gian bán hàng; mái che cột bơm, bể chứa; tờng rào xung quanh xây bằng gạch ống dày 20, cao 3,8m; sân bãi đã xây bằng bê tông và có
hệ thống thoát nớc ma
Tổng chi phí xây dựng theo kết luận của Đoàn thanh tra
là 179.560.000 đồng
Sau khi bị tạm đình chỉ xây dựng, ngày 03-09-2000
bà Chữ có đơn gửi các cơ quan chức năng tại tỉnh Đăk Lăk
đề nghị xin đợc khắc phục những sai sót trong hồ sơ
thiết kế và quá trình thi công về khoảng cách an toàn về phòng cháy, chữa cháy, về hệ thống xử lý nớc thải (theo hồ sơ thiết kế kỹ thuật bổ sung)
Ngày 21-09-2000, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk có
Công văn số 1774/CV yêu cầu các cơ quan chức năng có ý
Trang 10kiến về việc gia đình bà Chữ xây dựng cây xăng dầu tại
106 Lê Duẩn
Ngày 28-09-2000, Công an tỉnh Đăk Lăk có Công văn số
69/PCCC ''đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk cho
phép bà Mai Thị Chữ tiếp tục xây dựng cửa hàng xăng
dầu 106 Lê Duẩn và dịch chuyển cột bơm, bồn chứa đến
vị trí khác, đúng nh sơ đồ kèm theo (công văn)
Ngày 29-09-2000, Sở Xây dựng có Công văn số 454/SXD-QLN báo cáo giải trình gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk
về việc cấp Giấy phép xây dựng cho bà Chữ
Ngày 18-l0-2000, Thanh tra tỉnh Đăk Lăk có Công văn số 187/CV-T.Tr gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk báo cáo ý kiến của Thanh tra tỉnh về ý kiến đề xuất của Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy Công an tỉnh Đăk Lăk với nội dung: ''Việc sửa chữa khắc phục những sai sót của cửa hàng bán lẻ tại 106 Lê Duẩn theo nh phơng án mà Cảnh sát phòng cháy chữa cháy Công an tỉnh đa ra nói trên là thực hiện đợc, bảo đảm đầy đủ các điều kiện an toàn theo qui định hiện hành của Nhà nớc
Vì vậy, Thanh tra tỉnh dự thảo quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc giải quyết khiếu nại của công dân theo phơng án 1à cho phép bà Mai Thị Chữ tiếp tục xây dựng cây xăng dầu tại 106 Lê Duẩn, thành phố Buôn Ma Thuột, nhng phải dịch chuyển 3 cột bơm và 3 bể chứa
xăng dầu bảo đảm đủ khoảng cách an toàn''
Nhng Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk không chấp nhận đơn đề nghị của bà Chữ và đề xuất của các cơ quan chuyên môn và đã ban hành Quyết định số
3346/QĐ-UB ngày 30-11-2000 giải quyết đơn khiếu nại của một số công dân tại tổ 3 khối 1, phờng Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk với nội dung:
1 Không chấp nhận để bà Mai Thị Chữ tiếp tục xây
dựng, kinh doanh xăng dầu tại 106 Lê Duẩn, thành phố Buôn
Ma Thuột vì không đảm bảo điều kiện an toàn phòng
chống cháy nổ theo quy định tại Thông t số 14/1999/BTM