Untitled ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ MARKETING TIỂU LUẬN Môn học Triết học Mác Lênin Đề tài Phân tích lý luận của phép biện chứng duy vật về cách thức vận động, phát triển củ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ - MARKETING
TIỂU LUẬN Môn học: Triết học Mác - Lênin
Đề tài: Phân tích lý luận của phép biện chứng duy vật về cách thức vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới Anh (Chị) hãy vận dụng lý
luận này vào hoạt động nhận thức và thực tiễn của bản thân.
Giảng viên: Phạm Thị Kiên
Mã lớp học phần: 22C1PHI51002324
Sinh viên: Trịnh Minh Châu
Khóa – Lớp: K48 – KM002
MSSV: 31221024575
TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 1 năm 2023
Trang 2MỤC LỤC
Lời cảm ơn………
Lời mở đầu………
Nội dung……… 1
1 Lý luận của phép biện chứng duy vật về cách thức vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới……… 1
1.1 Phép biện chứng duy vật……… 1
1.2 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật……… 1
1.2.1 Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập 1
1.2.2 Quy luật phủ định của phủ định……… 2
1.2.3 Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại……… 2
2 Vận dụng lý luận vào hoạt động nhận thức và thực tiễn……… 6
2.1 Vận dụng lý luận vào hoạt động nhận thức……… 6
2.2 Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn……… 6
Kết luận………
Tài liệu tham khảo………
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước khi bước vào trình bày bài tiểu luận, em muốn gửi đến cô lời cảm ơn chân thành nhất Em cảm ơn cô vì đã giảng dạy kiến thức cho chúng em một cách rất tận tâm và nhiệt huyết Nhờ cách cô giảng bài mà em hiểu được rằng môn Triết không phải là một môn học quá khô khan, trừu tượng và ám ảnh như các anh chị vẫn thường nói Bên cạnh những kiến thức về Triết học đó, cô còn dạy cho em nhiều bài học sâu sắc về cuộc sống Những bài học đó đã giúp những bạn tân sinh viên mới lên thành phố học như em có thêm rất nhiều động lực và tự tin hơn ở môi trường đại học Để không phụ
sự dạy dỗ của cô suốt một kỳ học vừa qua, em sẽ cố gắng hết sức mình để có thể vận dụng kiến thức cô giảng vào bài tiểu luận một cách tốt nhất Em chắc chắn rằng bài tiểu luận của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nên em mong rằng cô sẽ thông cảm và cho em những góp ý để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn Một lần nữa, em cảm ơn cô rất nhiều!
Em chúc cô luôn vui vẻ, bình an, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống cũng như trên con đường giảng dạy của mình
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Triết học Mác - Lênin hay học thuyết Mác - Lênin là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác - Lênin, được Mác, Ăngghen sáng lập vào giữa thế kỷ thứ XIX, sau đó được Lênin và các nhà macxit khác phát triển thêm Triết học Mác - Lênin
ra đời vào những năm 40 thế kỉ XIX và được phát triển gắn chặt với những thành tựu khoa học và thực tiễn trong phong trào cách mạng công nhân Sự ra đời của triết học Mác - Lênin là một cuộc cách mạng thực sự trong lịch sử tư tưởng loài người, trong lịch sử triết học.Triết học Mác – Lênin giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng làm sáng rõ các quy luật chung nhất chi phối sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học, nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của hoạt động nhận thức và thực tiễn Các hình thức cơ bản của phép biện chứng:
- Phép biện chứng chất phác
- Phép biện chứng duy tâm
- Phép biện chứng duy vật
Trong đó, phép biện chứng duy vật là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng
Phép biện chứng duy vật gồn 3 quy luật cơ bản:
- Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
- Quy luật phủ định của phủ định
- Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại
Trong đó, Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại sẽ làm rõ đề tài của bài tiểu luận
Trang 5NỘI DUNG
1 LÝ LUẬN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỀ CÁCH THỨC VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÁC SỰ VẬT, HIỆN TƯỢNG TRONG THẾ GIỚI.
1.1 Phép biện chứng duy vật
Bàn về phép biện chứng duy vật, Ăngghen định nghĩa như sau: “Phép
biện chứng chẳng qua chỉ là những môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” Phép biện chứng duy vật xem xét sự vật, hiện tượng trong trạng thái luôn vận động, phát triển không ngừng Sự vận động này không chỉ là sự vận động
về cơ học mà còn là sự vận động bên trong mỗi sự vật, hiện tượng Chính vì thế
mà có thể khẳng định rằng phương pháp luận biện chứng của Triết học Mác - Lênin là đúng đắn Vì mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới này không bao giờ đứng yên mà nó luôn ở trạng thái vận động, biến chuyển không ngừng
Ví dụ: Khi một người đứng yên thì anh ta không hoàn toàn đứng yên mà bên trong anh ta vẫn có các cơ quan chức năng hoạt động như não, tuần hoàn máu, trái tim,…
1.2 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
1.2.1 Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập hay còn gọi là quy luật mâu thuẫn Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, mâu thuẫn là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập tồn tại bên trong mỗi
sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau Quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng, nó đề cập đến vấn đề nguồn gốc, nguyên nhân, động lực của quá trình vận động và phát triển
Trong mỗi sự vật, hiện tượng luôn tồn tại các mặt đối lập dẫn đến các mâu thuẫn bên trong bản thân mỗi sự vật hiện tượng đó Các mặt đối lập thống nhất, đấu tranh với nhau tạo nên sự vận động và phát triển, cái mới ra đời thay thế cái cũ Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới ra đời, quá trình thống nhất, đấu tranh, chuyển hóa lẫn nhau
Trang 6giữa hai mặt đói lập lại tiếp diễn, làm cho sự vật, hiện tượng luôn trong trạng thái vận động và phát triển
Ví dụ: Trong xã hội luôn tồn tại các mâu thuẫn ( mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc,…), khi các mâu thuẫn này lên đến đỉnh điểm thì sẽ dẫn đến sự đấu tranh để giải quyết các mâu thuẫn, từ đó xã hội sẽ có sự thay đổi mới
1.2.2 Quy luật phủ định của phủ định
Phủ định biện chứng là sự phủ định làm tiền đề, cơ sở cho sự phát triển, tạo điều kiện để sự vật hiện tượng phát triển Quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng là tiến lên nhưng sự phát triển này là quanh co
và phức tạp theo hình xoắn ốc, phát triển sự vật, hiện tượng cũ lên thành những sự vật, hiện tượng mới tiến bộ hơn
Quá trình vận động, phát triển, đi lên của sự vật, hiện tượng là quá trình phủ định biện chứng vô tận Sự phát triển của sự vật, hiện tượng diễn ra qua nhiều lần phủ định, hình thành nên khuynh hướng phát triển từ thấp đến cao có chu kỳ Kết quả của mỗi quá trình phủ định là sự xuất hiện của sự vật, hiện tượng mới được phát triển từ sự vật, hiện tượng cũ; sự vật, hiện tượng mới tiến bộ hơn sự vật, hiện tượng cũ nhưng vẫn kế thừa những đặc điểm tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ
Ví dụ: Ngày xưa, khi điều kiện kinh tế còn khó khan thì ông bà ta quan niệm “đủ ăn,
đủ mặc” là được, nhưng khi điều kiện kinh tế phát triển hơn thì người ta bắt đầu “ăn
no, mặc ấm” rồi đến ngày nay, khi kinh tế phát triển hơn nữa thì con người bắt đầu quan niệm “ăn ngon, mặc đẹp”
Trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại nêu rõ cách thức vận động
và phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới
1.2.3 Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại.
* Phạm trù Chất
Trang 7Khái niệm Chất: Chất là một phạm trù triết học dung để chỉ tính quy định khách
quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính làm cho
sự vật, hiện tượng là nó chứ không phải là cái khác Chất có tính ổn định tương đối Chất của các sự vật, hiện tượng quy định các thuộc tính khách quan vốn có của
sự vật hiện tượng Tuy nhiên, chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, hiện tượng Chất của sự vật, hiện tượng thay đổi khi thuộc tính cơ bản của nó thay đổi Việc phân chia thuộc tính của sự vật, hiện tượng thành thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản chỉ mang tính tương đối Chất của sự vật, hiện tượng được tạo thành qua các thuộc tính khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng và các phương thức liên kết của các yếu tố cấu thành nên chúng Từ đó suy ra, sự thay đổi về chất của sự vật hiện tượng không chỉ phụ thuộc vào sự thay đổi của thuộc những thuộc tính cấu thành nên nó mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi của các phương thức liên kết giữa các yếu tố Trên thế giới tồn tại vô vàn các sự vật hiện tượng, mỗi sự vật, hiện tượng sẽ có những chất vốn có hình thành nên bản chất riêng biệt của chúng Nhờ những chất này
mà ta có thể phân biệt được chúng với những sự vật, hiện tượng khác
Ví dụ: Chất mặn của muối với Chất ngọt của đường
*Phạm trù Lượng:
Khái niệm Lượng: Lượng là một phạm trù triết học dung để chỉ tính quy định
khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng trên các phương diện số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu, tốc độ của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng cũng như các thuộc tính của nó Lượng có tính thường xuyên biến đổi
Bản thân mỗi sự vật, hiện tượng có thể tồn tại nhiều loại Lượng khác nhau, được xác định bằng các phương thức khác nhau Tùy thuộc vào sự vật, hiện tượng mà lượng
có thể được biểu thị bằng những đơn vị đo lường cụ thể hoặc biểu thị dưới dạng khái quát, trừu tượng Lượng cũng có thể được biểu thị bởi những yếu tố bên ngoài hoặc yếu tố quy định kết cấu bên trong Sự vật càng ở trình độ cao thì thông số về lượng càng phức tạp
Ví dụ: Lượng của một người được biểu thị qua chiều cao, cân nặng, trình độ học vấn, phẩm chất đạo đức,…
Trang 8 Chất và Lượng là hai phương diện khác nhau tồn tại trong cùng một sự vật hiện tượng Tuy nhiên, chúng quy định lẫn nhau, không tách rời nhau Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ mang tính tương đối, có những tính trong mối quan hệ này là chất của sự vật nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng và ngược lại
*Mối quan hệ giữa chất và lượng
Để thể hiện mối quan hệ giữa chất và lượng cần nêu rõ các khái niệm “độ”, “điểm nút” và “bước nhảy”
Độ là khoảng giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi cơ bản về chất của sự vật, hiện tượng; Sự vật, hiện tượng vẫn là nó, chưa chuyển hóa thành sự vật, hiện tượng khác Độ là một phạm trù triết học thể hiện mối quan hệ thống nhất và quy định lẫn nhau giữa Chất và Lượng
Điểm nút là thời điểm mà sự thay đổi về lượng có thể làm thay đổi chất của sự vật, hiện tượng, chất cũ thành chất mới
Bước nhảy là giai đoạn biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng do sự thay đổi về lượng gây ra Bước nhảy vọt về sự chuyển hoá chất cũ thành chất mới là bước ngoặt
cơ bản của sự biến đổi về lượng Căn cứ vào quy mô và nhịp điệu, ta chia nhảy thành hai loại là nhảy toàn bộ và nhảy cục bộ Dựa vào thời gian, cơ chế, ta có bước nhảy tức thời và bước nhảy dần dần
Ví dụ: Trong khoảng nhiệt độ từ trên 0°C đến dưới 100°C nước ở trạng thái bình thường là trạng thái lỏng; đến 100°C sẽ chuyển thành thể khí và xuống 0°C sẽ đóng băng thành thể rắn Ở đây, khoảng nhiệt độ từ trên 0°C đến dưới 100°C được gọi là độ; mốc nhiệt độ 100°C hoặc 0°C được gọi là điểm nút; giai đoạn mà nước từ thể lỏng chuyển sang thể khí khi nhiệt độ chạm mốc 100°C hoặc nước từ thể lỏng chuyển sang thể rắn khi nhiệt độ chạm mốc 0°C được gọi là bước nhảy
Trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng luôn tồn tại thống nhất hai mặt chất và lượng Tuy nhiên, giữa chúng vẫn tồn tại sự mâu thuẫn khi chất có tính tương đối
ổn định còn lượng thường xuyên biến đổi Khi sự vật vận động và phát triển, chất
và lượng cũng vận động, biến đổi theo Tuy nhiên, không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng ngay lập tức làm thay đổi chất của sự vật, hiện tượng Khi lượng
Trang 9thay đổi vượt quá khoảng giới hạn (độ) của nó, đến một giới hạn nhất định (điểm nút) với một lượng nhất định, tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất, chất cũ mất đi, chất mới ra đời Sự thay đổi này chính là bước nhảy trong quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Bước nhảy là sự kết thúc của một giai đoạn vận động, phát triển; đồng thời nó cũng mở ra một giai đoạn vận động, phát triển mới
Sự thay đổi về lượng nhất định sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại
Ăngghen từng nói: “ Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định sẽ chuyển hóa thành những sự khác nhau về chất”
Mọi sự vật, hiện tượng đều là sự thống nhất giữa hai mặt lượng và chất, sự thay đổi dần dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ làm thay đổi chất của sự vật thông qua bước nhảy, chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới, tạo thành quá trình vận động phát triển liên tục của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
* Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại.
Nhận thức sự vật, hiện tượng một cách toàn diện ở cả hai phương diện lượng và chất Lượng và chất trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại một cách thống nhất, phụ thuộc, tác động và chuyển hóa lẫn nhau
Để có thể làm thay đổi chất của một sự vật, hiện tượng cần phải từng bước tích lũy về lượng Đồng thời khi chất mới hình thành cần phải biết linh hoạt tận dụng chất mới để có những thay đổi về lượng như mong muốn
Cần phải khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh và bảo thủ hữu khuynh trong quá trình vận động, biến đổi, phát triển “ Tả khuynh” là tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, “đốt cháy giai đoạn”, chưa có sự tích lũy đủ về lượng đã muốn thực hiện bước nhảy về chất; xem thường quá trình tích lũy lượng, chỉ chú tâm vào các bước nhảy, dẫn đến những quyết định mạo hiểm Ngược lại, “ Hữu khuynh” là tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại khó, không dám thực hiện các bước nhảy về chất mặc dù đã tích lũy
đủ lượng; quan niệm sự biến đổi dần dần về lượng dẫn đến không dám bước ra khỏi vùng an toàn của bản thân để thực hiện các bước nhảy
Trang 10Nâng cao khả năng linh hoạt để vận dụng các hình thức bước nhảy một cách phù hợp, hợp lý Cần phải luôn tích cực, chủ động để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách hiệu quả nhất
2 VẬN DỤNG LÝ LUẬN VÀO HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN 2.1 Vận dụng lý luận vào hoạt động nhận thức.
Trước khi đi vào những hoạt động trong thực tiễn, nhận thức quyết định chúng ta
sẽ làm những gì trong thực tiễn Vì thế, chúng ta cần nhận thức được rằng bản thân mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới đều tồn tại ở cả hai phương diện lượng và chất Chính vì thế chúng ta cần phải xem trọng cả hai phương diện này, không đề cao quá cái này mà quên trau dồi cái kia Sự thay đổi về lượng sẽ dấn đến sự thay đổi về chất trong cuộc sống của mỗi người; khi có những sự thay đổi chất trong cuộc sống đó diễn
ra thì nó cũng tác động trở lại làm thay đổi lượng cho phù hợp với chất mới
Chúng ta nên tránh hình thành hai khuynh hướng “Tả khuynh” và “ Hữu khuynh” trong tư tưởng Trong cuộc sống, nếu chúng ta luôn giữ cho mình những suy nghĩ, nhận thức mang tính “tả khuynh” thì phần lớn những việc chúng ta làm sẽ không đi tới được thành công bởi tính nóng vội, chủ quan, hấp tấp khi chưa có sự tích lũy đủ về lượng để phục vụ cho công việc mình làm Ngược lại, nếu chúng ta có những suy nghĩ, nhận thức mang tính “hữu khuynh” thì chúng ta càng không thể nào bước đến được thành công, bởi bản tính, suy nghĩ bảo thủ, trì trệ, thiếu quyết đoán, không dám thay đổi dẫn đến chúng ta sẽ mãi “dậm chân tại chỗ”, không thể tiến lên, phát triển hơn được Chính vì vậy mà chúng ta phải luôn nhìn nhận được khả năng của bản thân để có những bước đi đúng đắn, hiệu quả cho cuộc đời của chính mình
2.2 Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn.
Đối với sinh viên năm nhất, chúng ta cần xác định rõ được sự khác nhau giữa cách học ở dưới phổ thông và trên đại học Đầu tiên là lượng kiến thức ở đại học lớn hơn rất nhiều so với lượng kiến thức ở phổ thông Nếu ở dưới phổ thông chúng ta được học một môn học trong cả năm thì lên đại học một môn học sẽ học trong một kỳ Một tiết học ở dưới phổ thông chúng ta chỉ cần học lượng kiến thức của một bài nhưng lên đại học thì trong một buổi học chúng ta sẽ phải dung nạp lượng kiến thức của nhiều chương Và lượng kiến thức ở đại học cũng đa dạng, rộng hơn so với lượng kiến thức ở phổ thông Không chỉ có sự khác biệt về lượng, quá trình từ cấp ba lên đại học còn là sự thay đổi về chất Ở dưới phổ thông, các hoạt động học tập thường chỉ dừng lại ở quy mô trong trường lớp và thường được thầy cô hướng dẫn một cách cụ thể, dường như chúng ta không phải tự tìm tòi, tự nghiên cứu; nhưng lên đại học thì khác, chúng ta cần phải tự học và tự nghiên cứu nhiều, tự tìm kiếm cho mình cơ hội để trau dồi bản thân bằng cách tham gia vào các câu lạc bộ, đoàn hội hoặc đi làm them hoặc đi thực tập Những việc này đều là bản thân mỗi chúng ta tự tìm kiếm cơ hội chứ không
có ai vạch sẵn đường cho chúng ta đi như hồi cấp ba Chính vì vậy mà mỗi tân sinh viên cần phải thay đổi bản thân, suy nghĩ, tư duy của mình để thích ứng với môi