1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận môn học thông lệ trong thương mại quốc tế

61 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận môn học Thông lệ trong thương mại quốc tế
Người hướng dẫn TS Võ Thanh Thu
Trường học Trường Kinh Doanh Quốc Tế - Marketing, Đại Học UEH
Chuyên ngành Thương mại quốc tế
Thể loại Tiểu luận
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 683,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ MARKETING TIỂU LUẬN Môn học Thông lệ trong thương mại quốc tế Giảng viên TS Võ Thanh Thu Mã lớp học phần 22D1BUS50301507 Sinh viên Nguyễn[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH DOANH KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ - MARKETING

TIỂU LUẬN

Môn học: Thông lệ trong thương mại quốc tế

Giảng viên: TS Võ Thanh Thu

Mã lớp học phần: 22D1BUS50301507

Sinh viên: Nguyễn Minh An - 31201026348

Vương Quốc Thái Bảo - 31201026814 Nguyễn Minh Hưng - 31201020340 Trần Anh Thư - 31201025712

Phan Bảo Trân - 31201021052 Khóa - Lớp: K46 - IBC08

TP Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm….

Trang 2

MỤC LỤC

M C L C Ụ Ụ 1

N I DUNG Ộ 3

I.Gi i thi u vài nét vềề ASEAN: ớ ệ 3

1 S hình thành c a ASEAN: ự ủ 3

2 Mốốc th i gian phát tri n c a ASEAN: ờ ể ủ 3

II Khu v c m u d ch t do ASEANs: ự ậ ị ự 8

1 Hoàn c nh ra đ i khu v c m u d ch t do ASEANs: ả ờ ự ậ ị ự 8

2 Các ch ươ ng trình h p tác kinh tềố: ợ 9

2.1 Hi p đ nh th ệ ị ươ ng m i hàng hóa ASEAN (ATIGA): ạ 9

2.2 Hi p đ nh Khung ASEAN vềề D ch v (AFAS) ệ ị ị ụ 14

2.3 Hi p đ nh đầều t toàn di n ASEAN (ACIA) ệ ị ư ệ 17

2.4 Hi p đ nh ASEAN vềề di chuy n thềố nhần (MNP) ệ ị ể 20

2.5 Hi p đ nh Th ệ ị ươ ng m i d ch v ASEAN (ATISA) ạ ị ụ 24

2.6 Hi p đ nh khung ASEAN vềề t o thu n l i cho hàng hóa quá c nh (AFAFGIT): ệ ị ạ ậ ợ ả 29

III C ng đốềng ASEANs: ộ 30

1.C ng đốềng ASEANs là gì: ộ 30

1.1 Gi i thi u chung ớ ệ 30

1.2 M c tều xầy d ng c ng đốềng ASEAN ụ ự ộ 30

2 Ba tr c t: ụ ộ 32

2.1 C ng đốềng an ninh – chính tr ASEAN (APSC): ộ ị 32

2.2 C ng đốềng kinh tềố ASEAN (AEC): ộ 33

2.3 C ng đốềng văn hóa – xã h i ASEAN (ASCC): ộ ộ 34

3 Năm t do hóa trong AEC ự 35

3.1 T do hóa th ự ươ ng m i hàng hóa ạ 35

3.2 T do hóa d ch v ự ị ụ 36

3.3 T do hóa đầều t ự ư 37

3.4 T do hóa dòng vốốn ự 38

3.5 T do hóa lao đ ng ự ộ 40

4 ASEANs và EU – hai c ng đốềng khác bi t: ộ ệ 41

IV Ch ươ ng trình h p tác c a ASEANs v i các khốối và khu v c khác: ợ ủ ớ ự 44

1.ASEANs và ẤẤn Đ (AIFTA) ộ 44

2.ASEANs và Hàn Quốốc (AKFTA): 45

3.ASEANs và Nh t B n (AJCEP): ậ ả 47

Trang 3

4 ASEANs và Australia và New Zealand (AANZFTA): 49

5 ASEANs và Trung Quốốc (ACFTA): 50

6 ASEANs và EU: 52

V Ho t đ ng kinh doanh quốốc tềố c a Vi t Nam: ạ ộ ủ ệ 55

1.C h i trong ho t đ ng kinh doanh quốốc tềố c a Vi t Nam: ơ ộ ạ ộ ủ ệ 55

2.Thách th c ho t đ ng kinh doanh quốốc tềố c a Vi t Nam: ứ ạ ộ ủ ệ 55

3.Gi i pháp/ Đềề xuầốt cho ho t đ ng kinh doanh quốốc tềố c a Vi t Nam: ả ạ ộ ủ ệ 56

VI Tài li u tham kh o: ệ ả 57

2

Trang 4

NỘI DUNG I.Giới thiệu vài nét về ASEAN:

1 Sự hình thành của ASEAN:

Tiền thân là tổ chức Hiệp hội Đông Nam Á (ASA)

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967sau khi Bộ trưởng Ngoại giao các nước Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore

và Thailand ký bản Tuyên bố ASEAN (Tuyên bố Bangkok) để nhập ASA cùng vớiIndonesia và Singapore thành ASEAN Ngày 7/1/1984, Vương quốc Brunei được kếtnạp vào ASEAN, nâng số thành viên của Hiệp hội lên thành sáu nước Việt Nam gianhập ASEAN ngày 28/7/1995 tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 28

tổ chức tại Brunei, đưa tổng số thành viên của ASEAN lên thành bảy nước Tháng23/7/1997, Lào và Myanmar trở thành thành viên thứ tám và thứ chín của Hiệp hội.Cambodia gia nhập ASEAN tháng 30/4/1999, hiện thực hóa ý tưởng thành lập mộtHiệp hội bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam Á

2 Mốc thời gian phát triển của ASEAN:

Ngày 8/8/1967: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lậptrên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc với mục tiêu là tăng cường hợp tác kinh tế, văn hoá-xãhội giữa các nước thành viên, tạo điều kiện cho các nước hội nhập sâu hơn với khuvực và thế giới

Năm 1971: ASEAN ra Tuyên bố về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập(ZOPFAN), nhấn mạnh quyết tâm của các nước ASEAN trong việc đảm bảo việc côngnhận và tôn trọng Đông Nam Á là một khu vực hòa bình, tự do và trung lập, không có

sự can thiệp dưới bất kỳ hình thức và phương cách nào của các nước ngoài khu vực.Theo đó, các quốc gia Đông Nam Á cũng cam kết phối hợp nỗ lực mở rộng các lĩnhvực hợp tác để góp phần tăng cường sức mạnh, tình đoàn kết và mối quan hệ gắn bóhơn nữa

Năm 1976: Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á ( TAC) và Tuyên

bố về sự Hòa hợp ASEAN Mong muốn thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực thôngqua việc tôn trọng công lý và luật pháp và nâng cao khả năng tự cường khu vực củacác nước ASEAN tiếp tục được thể hiện trong Hiệp ước về Thân thiện và Hợp tác ởĐông Nam Á (TAC), được các Nhà lãnh đạo ký thông qua ngày 24/2/1976 tại Bali, In-đô-nê-xia nhân dịp Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ nhất Hiệp ước gồm 5 chương,

20 điều, nêu mục đích, nguyên tắc, cam kết của các quốc gia thành viên duy trì quan

hệ thân thiện, hợp tác và giải quyết hòa bình các tranh chấp Hiệp định đã đặt nềnmóng cho việc xây dựng chuẩn mực ứng xử giữa các quốc gia ở khu vực nhằm thúcđẩy nền hòa bình vĩnh viễn, sự thân thiện và hợp tác giữa nhân dân các quốc gia thamgia Hiệp ước Cùing với quá trình ASEAN mở rộng quan hệ đối ngoại của ASEAN,các Đối tác của ASEAN đã lần lượt tham gia vào Hiệp ước TAC Do đó, Hiệp ước đãđược sửa đổi 3 lần: lần thứ nhấti vào ngày 15/12/1987 bằng nghị định thư mở rộngvăn kiện cho các quốc gia ngoài Đông Nam Á tham gia vào TAC; lần thứ hai vào ngày25/7/1998 với nghị định thư quy định sự đồng thuận cần thiết của tất cả các quốc giathành viên ASEAN để các quốc gia ngoài ASEAN có thể tham gia TAC; và lần thứ ba

Trang 5

vào ngày 23/7/2010 bằng nghị định thư cho phép các tổ chức quốc tế/khu vực, trong

đó có EU, tham gia TAC Cùng với việc ký kết TAC, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lầnthứ nhất, các nước ASEAN cũng ra Tuyên bố về sự Hòa hợp ASEAN (Tuyên bố Bali),khẳng định các nỗ lực thúc đẩy hòa bình, tiến bộ, phồn vinh và phúc lợi của nhân dâncác nước thành viên và cam kết mở rộng hợp tác ASEAN trong các lĩnh vực kinh tế,

xã hội, văn hóa và chính trị

Năm 1992: Hiệp định Khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và thỏathuận về Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA): Trong quá trình hội nhập và pháttriển của Hiệp hội, hợp tác kinh tế luôn là một trụ cột quan trọng, mở đầu với việc kýkết “Hiệp định Khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN” vào dịp Hội nghị Cấpcao ASEAN lần thứ tư, tổ chức tại Xinh-ga-po từ ngày 27-28/1/1992 Hiệp định đã tạokhuôn khổ căn bản cho hợp tác ASEAN trên sáu lĩnh vực, bao gồm: thương mại vàcông nghiệp; khoáng sản và năng lượng; tài chính và ngân hàng; lương thực, nông vàlâm nghiệp; giao thông vận tải và bưu chính - viễn thông Nhân dịp này, 5 nước thànhviên ban đầu của ASEAN cũng ký thỏa thuận về lập Khu vực Mậu dịch Tự doASEAN(AFTA), đặt nền tảng quan trọng cho mở rộng hợp tác kinh tế-thương mại vàxây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sau này

Năm 1994: Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) được thành lập: Hợp tác về chínhtrị-an ninh trong ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác cũng ngày càng được củng

cố và phát triển Một trong những kết quả tiêu biểu của quá trình này là Diễn đàn Khuvực ASEAN (ARF) được khởi xướng và đi vào hoạt động từ tháng 7/1994, với sựtham gia của 18 nước trong và ngoài khu vực (bao gồm 6 nước thành viên ASEAN,

Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nga, Canada, Liên minh châu Âu, Ôxtrâylia, Niu Dilân, ViệtNam, Lào, Hàn Quốc và Papua Niu Ghinê) Đến nay ARF đã trở thành một diễn đàn

an ninh thường niên và là một cơ chế quan trọng cho hợp tác chính trị-an ninh ở Đông

Á, với 27 thành viên, gồm toàn bộ 10 Quốc gia Thành viên ASEAN, 10 bên đối thoạicủa ASEAN (Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Ô-xtrây-lia, Niu Di-lân,Ca-na-đa, Liên minh Châu Âu) và các nước Papua Niu Ghi-nê, Mông Cổ, Bắc TriềuTiên, Pa-kix-tan, Băng-la-đét, Xri-lan-ka, Timo-Létxtê

Năm 1995 ký kết Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không vũ khí hạt nhân(SEANWFZ): Một trong những thành tố cơ bản của Tuyên bố Cua-la Lăm-pơ năm

1971 là ý tưởng thiết lập khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân Tuy nhiên,

do những khó khăn nội bộ của các nước thành viên cũng như bối cảnh chính trị củakhu vực, đề xuất chính thức của ý tưởng này chỉ được đưa ra vào giữa những năm

1980 Sau 10 năm đàm phán, Hiệp ước về Khu vực Đông Nam Á không có Vũ khíHạt nhân được chính thức ký tại Băng-cốc ngày 15/12/1995, nhân dịp Hội nghị Cấpcao ASEAN lần thứ năm Theo đó, các bên tham gia Hiệp ước không được phát triển,sản xuất, tìm cách sở hữu, kiểm soát hoặc lắp đặt vũ khí hạt nhân; không cung cấpnguồn hoặc các vật liệu hoặc thiết bị hạt nhân cho các quốc gia không có vũ khí hạtnhân Hiệp định được đi kèm một Nghị thư mở ngỏ cho sự tham gia của các nước sởhữu vũ khí hạt nhân, bao gồm Trung Quốc, Pháp, Nga, Anh và Hoa Kỳ Hiện nay cácnước ASEAN đang tiến hành tham vấn, thúc đẩy 5 quốc gia này tham gia vào Nghịđịnh thư

Tháng 12/1997 ASEAN đã thông qua Tầm nhìn ASEAN 2020: nhân kỷ niệm

30 năm ngày thành lập Hiệp hội, Hội nghị cấp cao ASEAN không chính thức lần II(Kua-la Lăm-pơ, Ma-lai-xi-a, tháng 12/1997) đã thông qua văn kiện quan trọng Tầm

4

Trang 6

nhìn ASEAN 2020, nêu định hướng phát triển lớn của ASEAN trong những thập kỷđầu thế kỷ 21, hướng tới mục tiêu xây dựng một tập hợp hài hòa các dân tộc ở ĐôngNam Á, sống trong hòa bình, ổn định và thịnh vượng, gắn kết chặt chẽ với nhau trongmối quan hệ đối tác năng động và một cộng đồng của các xã hội đùm bọc lẫn nhau.Theo đó, Tầm nhìn ASEAN 2020 cũng nêu những mục tiêu cụ thể trong các lĩnh vựcchính trị, an ninh, kinh tế, xã hội, văn hoá và quan hệ đối ngoại Đây là văn bản có ýnghĩa đối với quá trình phát triển của Hiệp hội, đặt nền tảng cho việc hình thành vàthực hiện các mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN.

Năm 2002: ASEAN và Trung Quốc ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở BiểnĐông (DOC) : Trước những căng thẳng do tranh chấp trên biển Đông giữa một sốnước thành viên ASEAN và Trung Quốc, Ngoại trưởng 10 nước ASEAN và TrungQuốc đã tiến hành đàm phán và ký Tuyên bố về Cách Ứng xử của các bên ở biểnĐông (DOC) vào ngày 4/11/2002 tại Phnôm Pênh Tuyên bố nêu cam kết của các bên

ký kết giải quyết bằng biện pháp hòa bình các tranh chấp, không sử dụng vũ lực vàthông qua đàm phán giữa các bên liên quan Các bên cùng cam kết kiềm chế, khônglàm phức tạp thêm tình hình; thực thi các biện pháp xây dựng lòng tin, tổ chức đốithoại và trao đổi quan điểm giữa các quan chức quốc phòng, quân sự của các bêntranh chấp; đồng thời nghiên cứu và tiến hành các hoạt động hợp tác trên các lĩnh vựcbảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an toàn hàng hải và thông tin liênlạc, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn và phòng chống tội phạm xuyên quốc gia Các nướcASEAN và Trung Quốc sau đó đã thông qua Quy tắc Hướng dẫn thực thi DOC vàongày 20/7/2011 tại Bali, In-đô-nê-xia, bên lề Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN(AMM) lần thứ 44 Quy tắc Hướng dẫn là văn bản tái khẳng định cam kết của cácnước ASEAN và Trung Quốc trong việc thực thi đầy đủ và nghiêm túc DOC, thúc đẩyhòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải, hợp tác xây dựng lòng tin và giải quyếtcác tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Côngước Luật biển của Liên hợp quốc (UNCLOS) Đây là một bước tiến có ý nghĩa đối vớiquá trình giải quyết các tranh chấp ở biển Đông, tạo điều kiện để các bên tiến hànhhợp tác xây dựng lòng tin, hướng tới xây dựng bộ Quy tắc Ứng xử (COC) có tính ràngbuộc pháp lý đối với các bên ở biển Đông

Năm 2003 Thông qua Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN II: Tại Hội nghị Cấpcao lần thứ 9 (Bali, In-đô-nê-xi-a, tháng 10/2003), ASEAN đã ra Tuyên bố Hòa hợpASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Ba-li II), chính thức hóa việc thực hiện ý tưởng

về 3 trụ cột của Cộng đồng ASEAN Tuyên bố khẳng định quyết tâm của các nướcASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột: Cộng đồng An ninh (ASC),Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hoá-Xã hội (ASCC); đồng thời cũngphác thảo những ý tưởng lớn của từng Cộng đồng

Năm 2005: Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) : Một mốc lớn khác trong tiếntrình hội nhập và phát triển của ASEAN là Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) lần thứnhất, được tổ chức tại Cua-la Lăm-pơ, Ma-lai-xia tháng 12/2005, với sự tham gia củanguyên thủ các nước thành viên ASEAN, Ốt-xtrây-li-a, Trung Quốc, Ấn Độ, NhậtBản, Hàn Quốc và Niu-Dilân Tại Hội nghị này, Lãnh đạo các nước đã ký Tuyên bốchung về Cấp cao Đông Á, trong đó đề ra mục tiêu, nguyên tắc, lĩnh vực và cácphương thức chính cho hoạt động của EAS Theo đó, EAS sẽ là diễn đàn của các Lãnhđạo đối thoại về các vấn đề chiến lược nhằm hỗ trợ mục tiêu xây dựng cộng đồng ởkhu vực Đông Á; là một tiến trình mở và thu nạp, trong đó ASEAN giữ vai trò chủ

Trang 7

đạo; bổ sung và hỗ trợ cho các diễn đàn khu vực khác hiện có, họp hàng năm doASEAN chủ trì nhân dịp Cấp cao ASEAN Lãnh đạo các nước đã nhất trí xác định 5lĩnh vực hợp tác ưu tiên (trong số gần 20 lĩnh vực được đề cập đến trong thảo luận)gồm năng lượng, tài chính, giáo dục, thiên tai và bệnh dịch Nhân dịp kỷ niệm 5 nămthành lập EAS, Hội nghị Cấp cao EAS lần thứ 5 (tổ chức ngày 30/10/2010 tại Hà Nội)

đã thông qua Tuyên bố Hà Nội kỷ niệm 5 năm thành lập tiến trình EAS, trong đókhẳng định lại các nguyên tắc, mục tiêu, thể thức và các lĩnh vực hợp tác ưu tiên trongEAS Theo đó, ngoài 5 lĩnh vực ưu tiên, các Lãnh đạo EAS cũng nhất trí mở rộng hợptác Diễn đàn ra các vấn đề chính trị-an ninh; tiến hành 2 nghiên cứu song song về khảnăng thiết lập Khu vực Mậu dịch Tự do Đông Á là CEPEA (Đối tác Kinh tế ToànDiện Đông Á) và EAFTA (Khu vực Mậu dịch Tự do Đông Á) Hội nghị Cấp caoEAS-5 cũng ra quyết định mời Nga và Mỹ chính thức tham gia Cấp cao Đông Á bắtđầu từ Cấp cao EAS-6 cuối năm 2011 tại Indonesia

Tại Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ 6 (tổ chức ngày 19/11/2011 tại Bali, đô-nê-xia), Nga và Mỹ đã tham gia với tư cách Thành viên Chính thức của EAS CácLãnh đạo EAS đã ra “ Tuyên bố EAS về các Nguyên tắc Quan hệ cùng có lợi”

In-1/2007: Quyết định đẩy nhanh tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN và xâydựng Hiến chương ASEAN: Để kịp thích ứng với những chuyển biến nhanh chóng vàphức tạp của tình hình quốc tế và khu vực cũng như trên cơ sở những thành tựu củaASEAN trong 40 năm qua, nhất là kết quả thực hiện Chương trình Hành động ViêngChăn (VAP), Lãnh đạo các nước ASEAN tháng 1/2007 đã quyết tâm đẩy nhanh tiếntrình liên kết nội khối dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN, nhất trí vì mụctiêu hình thành Cộng động ASEAN vào năm 2015 (thay vì vào năm 2020 như thỏathuận trước đây)

11/2007: Hướng tới mục tiêu xây dựng cộng đồng, ASEAN đã nỗ lực xây dựng

và Hiến chương ASEAN được ký ngày 20 tháng 11 năm 2007 tại Hội nghị Cấp caoASEAN lần thứ 13 Hiến chương ra đời, tạo tư cách pháp nhân cho ASEAN là một tổchức hợp tác khu vực; đồng thời cũng tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế để giatăng liên kết và hợp tác ASEAN, giúp xây dựng ASEAN trở thành một tổ chức gắn kếthơn và hoạt động hiệu quả hơn, trước mắt là hỗ trợ mục tiêu hình thành Cộng đồngASEAN Sự ràng buộc về pháp lý cùng với sự đổi mới về bộ máy tổ chức và phươngthức hoạt động của ASEAN sẽ giúp thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận, nâng caochất lượng và hiệu quả hợp tác, làm cho ASEAN trở thành một thực thể chính trị-kinh

tế ngày càng gắn kết hơn

Ngày 15/12/2008: Hiến chương ASEAN có hiệu lực

Tháng 2/2009: Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN được các nhà Lãnh đạoASEAN thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 14 tại Hủa hỉn, Thái Lan, baogồm các Kế hoạch tổng thể xây dựng các Cộng đồng trụ cột Chính trị-An ninh, Kinh

tế và Văn hóa Xã hội ASEAN

Kế hoạch công tác về Sáng kiến Liên kết ASEAN giai đoạn II (2009-2015),như một văn kiện kế tục Chương trình Hành động Viên chăn (VAP), giúp ASEAN đẩymạnh các nỗ lực thu hẹp khoảng cách phát triển, gia tăng liên kết khu vực và thực hiệnthành công mục tiêu xây dựng Cộng đồng cũng đã được thông qua dịp này

Năm 2009: Uỷ ban Liên chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR) đượcthành lập

6

Trang 8

Năm 2010: Kế hoạch Tổng thể về Kết nối ASEAN (MPAC): Để hỗ trợ đắc lựccho tiến trình hội nhập và xây dựng Cộng đồng ASEAN, đồng thời đảm bảo vai tròtrung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực năng động đang hình thành, các nướcASEAN đã nhất trí tăng cường kết nối ASEAN và giữa ASEAN với khu vực Tại Hộinghị Cấp cao ASEAN lần thứ 17 diễn ra vào tháng 12/2010 tại Hà Nội, các Nhà Lãnhđạo ASEAN đã thông qua Kế hoạch Tổng thể về Kết nối ASEAN (MPAC), trong đó

đề ra các biện pháp cụ thể thực hiện kết nối ASEAN về hạ tầng, thể chế và người dân.Việc tăng cường kết nối có ý nghĩa quan trọng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trongASEAN, tạo thuận lợi cho mạng lưới sản xuất chung, thúc đẩy thương mại nội khối,thu hút đầu tư vào khu vực; đồng thời tăng cường nữa gắn kết về văn hóa và lịch sửgiữa các quốc gia thành viên

Quyết định mở rộng Hội nghị Cấp cao Đông Á cho Nga và Mỹ tham gia;Quyết định triệu tập Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+),gồm các BT QF ASEAN và 8 nước đối thoại Uỷ ban Thúc đẩy và Bảo vệ Quyền củaPhụ nữ và Trẻ em (ACWC) được thành lập

11/2011 Tuyên bố Bali về Cộng đồng ASEAN trong Cộng đồng ASEAN trongCộng đồng các Quốc gia Toàn cầu (Tuyên bố Hòa hợp Bali III): Bên cạnh việc dành

ưu tiên thực hiện hiệu quả và đúng hạn mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vàonăm 2015, các quốc gia thành viên ASEAN cũng chú trọng các nỗ lực nhằm nâng caovai trò và vị thế của Hiệp hội trên trường quốc tế Trên cơ sở đó, tại Hội nghị Cấp caoASEAN lần thứ 19 tổ chức tại Bali, In-đô-nê-xia từ ngày 17-19/11/2011, các NhàLãnh đạo ASEAN đã ký thông qua “Tuyên bố Bali về Cộng đồng ASEAN trong Cộngđồng các Quốc gia Toàn cầu” Tuyên bố khẳng định quyết tâm cũng như cam kết củacác nước ASEAN xây dựng lập trường, quan điểm chung trong việc hợp tác ứng phóvới các vấn đề toàn cầu; nâng cao vai trò và tiếng nói của ASEAN tại các cơ chế quốc

tế như Liên hợp quốc (UN), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tácKinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC)…, qua đó đóng góp tích cực hơn vào các

nỗ lực chung nhằm duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển trong khu vựccũng như trên thế giới

Cộng đồng kinh tế ASEAN ( ASEAN Economic Community, viết tắt: AEC) làmột khối kinh tế khu vực của 10 quốc gia thành viên ASEAN chính thức được thànhlập vào ngày 31 tháng 12 năm 2015, khi bản tuyên bố thành lập chính thức có hiệulực AEC là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiệncác mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020

Bảng tổng hợp các cột mốc phát triển chính

8/8/1967 ASEAN chính thức thành lập với 5 thành viên

2/1976 Hội nghị cấp cao ASEAN đầu tiên được tổ chức

7/1/1984 Brunei gia nhập ASEAN

1/1992 Hiệp định Khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và thỏa thuận về Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA)

Trang 9

1994 Lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF)

28/7/1995 Việt Nam gia nhập ASEAN

23/7/1997 Lào và Myanmar gia nhập ASEAN

12/1997 Hội nghị cấp cao ASEAN+3 đầu tiên được tổ chức

30/4/1999 Campuchia chính thức gia nhập ASEAN, đưa ASEAN trở thành một tổchức khu vực gồm 10 thành viên Đông Nam Á

12/2005 Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) lần đầu được tổ chức

15/12/2008 Hiến chương ASEAN chính thức có hiệu lực

31/12/2015 Cộng đồng ASEAN chính thức thành lập

2020 Việt Nam làm chủ tịch ASEAN 2020

II Khu vực mậu dịch tự do ASEANs:

1 Hoàn cảnh ra đời khu vực mậu dịch tự do ASEANs:

Vào đầu những năm 90, khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, những thay đổi trong môi trường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEAN trướcnhững thách thức to lớn không dễ dàng vượt qua nếu không có sự liên kết chặt chẽ và

nỗ lực của toàn hiệp hội, những thách thức đó là:

Quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEAN ngày càng mất đi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũng như quốc tế

Sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới đặc biệt như Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ và Khu vực Mậu dịch Tự do châu Âu của EU, NAFTA

sẽ trở thành các khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho hàng hóa ASEAN khi thâm nhập vào những thị trường này

Những thay đổi về chính sách như mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãi rộng rãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nga và các nước Đông

Âu đã trở thành những thị trường đầu tư hấp dẫn hơn ASEAN, đòi hỏi ASEAN vừa phải mở rộng về thành viên, vừa phải nâng cao hơn nữa tầm hợp tác khu vực

Để đối phó với những thách thức trên, năm 1992, theo sáng kiến của Thái Lan, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN họp tại Singapore đã quyết định thành lập một Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA)

=> ATFA ra đời có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với các nước

 Sự ra đời và những mục tiêu chính của AFTA:

Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (viết tắt là AFTA từ các chữ cái đầu của ASEAN Free Trade Area) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương giữa các nước trong khối ASEAN.Free Trade Area (FTA) là một hình thức liên kết quốc tế giữa các quốc gia mà ở đó các hàng rào về thuế quan và phi thuế quan đều sẽ bị giảm

8

Trang 10

hoặc xóa bỏ Từ đó từng bước hình thành một thị trường buôn bán thống nhất về hàng hóa và dịch vụ.

AFTA(ASEAN Free Trade Area) là diễn đàn hợp tác kinh tế quan trọng và đáng chú ý nhất của ASEAN, được thành lập tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ

4 tại Singapore theo sáng kiến của ThaiLand vào tháng 2 năm 1992 Vào thời đó, ASEAN chỉ có sáu thành viên tham gia ký kết, đó là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan Sau đó, đến năm 1995 thì nước Việt Nam ta gia nhập; năm 1997 có Lào và Myanmar; năm 1999 là Campuchia Do vậy, tính đến thời điểm hiện tại thì AFTA hiện bao gồm mười quốc gia ASEAN Khu vực mậu dịch tự doAFTA lớn hơn khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA ) và liên minh châu Âu(EU)

về số dân và diện tích nhưng thấp hơn về thu nhập bình quân đầu người từ 10-15 lần

Khu vực mậu dịch tự do AFTA là nơi thu hút sự chú ý của các liên minh kinh tếthế giới, các công ty, các tập đoàn đa quốc gia cũng như cả cộng đồng quốc tế, AFTA

sẽ là khối mậu dịch "hạt nhân" của diễn đàn hợp tác kinh tế châu á thái bình dương ( APEC), AFTA có một vị trí quan trọng với những mục tiêu sau đây:

-Thực hiện tự do hoá Thương Mại ASEAN bằng việc loại bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong nội bộ khu vực

-Thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào ASEAN bằng cách tạo dựng ASEAN thành một thị trường thống nhất và hấp dẫn các nhà đầu tư quốc tế

-Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi, đặc biệt là phát triển trong xu thế tự do hoá thương mại toàn cầu

Thông qua việc thành lập AFTA các nước ASEAN muốn tạo ra một thị trường

mà trong đó :

-Một hàng rào thuế quan được xóa bỏ

-Thuế suất đánh vào các mặt hàng xuất nhập khẩu chỉ từ 0-5%

-Phương thức để tiến hành giảm thuế là chương trình CEPT

Tóm lại, AFTA ra đời đã trở thành một bộ phận hợp thành của xu thế tự do hoá thương mại rộng lớn hơn ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và toàn cầu Do đó, tạo lập AFTA cho ASEAN cũng chính là tạo lập khu vực mở, một sự thích ứng mới cho sự phát triển của ASEAN trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hoá AFTA sẽ làm tăng khối lượng buôn bán trong nội bộ ASEAN cũng như giữa các nước ASEAN với các nước ngoài khu vực Theo nghiên cứu của một nhóm chuyên gia do ASC chỉ định thì AFTA có thể sẽ làm cho tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước ASEAN sẽ tăng từ1,5% ( Đối với Singapore) đến 5%( Đối với Thái Lan) và trong khoảng 1,5 -5% đối với các nước khác

2.1.2 Lịch sử hình thành

Trang 11

Hiệp định ATIGA được ký vào tháng 2/2009 và có hiệu lực từ ngày 17/5/2010,

có tiền thân là Hiệp định Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT/AFTA) ký năm 1992

ATIGA là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết cắt giảm/loại bỏ thuế quan đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng các hiệp định, nghị định thư có liên quan

Việt Nam tham gia ASEAN từ năm 1995 và bắt đầu thực hiện CEPT/AFTA từ năm 1996 và sau này tiếp tục thực hiện ATIGA

Nếu so sánh với Hiệp định thương mại hàng hóa được ban hành từ năm 1992 (CEPT), thì Hiệp định ATIGA linh hoạt hơn và chi tiết hơn

Ngoài mục tiêu xóa bỏ hàng rào thuế quan, Hiệp định ATIGA hướng nỗ lực chung của ASEAN để xử lý tối đa các hàng rào phi thuế quan, hợp tác hải quan và vệ sinh…

2.1.3 Các đặc điểm chính

Trong ATIGA, các nước ASEAN dành cho nhau mức ưu đãi tương đương hoặc thuận lợi hơn mức ưu đãi dành cho các nước đối tác trong các Thỏa thuận thương mại

tự do (FTA) mà ASEAN ký (các FTA ASEAN+)

Ngoài các cam kết về thuế quan, ATIGA cũng bao gồm nhiều cam kết khác như: xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, quy tắc xuất xứ, thuận lợi hóa thương mại, hải quan, các tiêu chuẩn và sự phù hợp, các biện pháp vệ sinh dịch tễ

Biểu cam kết cắt giảm thuế quan trong ATIGA của mỗi nước (Phụ lục 2 của Hiệp định) bao gồm toàn bộ các sản phẩm trong Danh mục hài hòa thuế quan của ASEAN (AHTN) và lộ trình cắt giảm cụ thể cho từng sản phẩm trong từng năm Do

đó, so với CEPT, cam kết thuế quan trong ATIGA rất rõ ràng và dễ tra cứu

2.1.4 Các cam kết chính:

 Cam kết cắt giảm thuế quan

Nguyên tắc cam kết: tất cả các sản phẩm trong Danh mục hài hòa thuế quan của

ASEAN (AHTN) đều được đưa vào trong biểu cam kết thuế quan của từng nước trongATIGA, bao gồm cả những sản phẩm được cắt giảm thuế và cả những sản phẩm không phải cắt giảm thuế

Lộ trình cắt giảm thuế quan của các nước ASEAN-6 (Brunei, Indonesia,

Malaysia, Thái Lan, Philippines, Singapore) thường ngắn hơn các nước còn lại – nhóm CLMV bao gồm các nước Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam

Ví dụ: Đối với các tất cả các sản phẩm thuộc lộ trình cắt giảm A (Sch-A) trong Biểu

cam kết thuế quan thì:

+ Các nước ASEAN-6: đến năm 2010 phải xóa bỏ thuế quan toàn bộ

10

Trang 12

+ Các nước CLMV: đến năm 2015 mới phải xóa bỏ thuế quan và còn được linh hoạt 7% số dòng thuế (các nước được quyền tự lựa chọn các sản phẩm đưa vào danh mục 7% này) đến năm 2018 mới phải xóa bỏ thuế quan.

Đa số các sản phẩm trong biểu thuế quan sẽ được các nước xóa bỏ hoặc giảm thuế xuống còn dưới 5%, trừ một số sản phẩm nhạy cảm như: các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến, các sản phẩm nhạy cảm như súng đạn, thuốc nổ, rác thải…

Thực thi của Việt Nam:

Theo thông tin từ Bộ Tài chính, thực hiện cam kết ATIGA, tính đến ngày 1/1/2014, Việt Nam đã cắt giảm về 0% đối với 6.897 dòng thuế (chiếm 72% tổng Biểuthuế nhập khẩu)

Đến ngày 1/1/2015, Việt Nam cắt giảm về 0% thêm 1.706 dòng thuế nữa Số còn lại gồm 669 dòng thuế (chiếm 7% Biểu thuế), chủ yếu là những sản phẩm nhạy cảm trong thương mại giữa Việt Nam và ASEAN, sẽ xuống 0% vào năm 2018, bao gồm: ô tô, xe máy, phụ tùng linh kiện ô tô xe máy, dầu thực vật, hoa quả nhiệt đới, đồ điện dân dụng như tủ lạnh, máy điều hòa, sữa và các sản phẩm sữa…

Các sản phẩm không phải xóa bỏ thuế nhập khẩu (duy trì thuế suất MFN) gồm Thuốc lá điếu, lá thuốc lá, các mặt hàng an ninh quốc phòng như thuốc nổ, súng đạn, pháo hoa, rác thải y tế, lốp cũ…

Thực hiện các cam kết cắt giảm thuế quan theo ATIGA giai đoạn 2015-2018,

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 165/2014/TT-BTC ngày 14/11/2014 về việc ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam thực hiện Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN giai đoạn 2015-2018

 Cam kết về Quy tắc xuất xứ và Thủ tục chứng nhận xuất xứ

+ Hàng hóa phải có hàm lượng nguyên liệu nội khối (RVC) ít nhất là 40%

Nếu hàng hóa có xuất xứ không thuần tuý hoặc không được sản xuất toàn bộ thì hàng hoá có hàm lượng giá trị khu vực (sau đây được gọi là “Hàm lượng giá trị ASEAN” hoặc “Hàm lượng giá trị khu vực (RVC)”) không dưới bốn mươi phần trăm (40%) tínhtheo công thức như sau:

Phương pháp trực tiếp:

Trang 13

RVC =

Chi phínguyên vật

liệu ASEAN +

Chi phínhâncông trựctiếp

+

Chi phíphân bổtrực tiếp +

Chiphíkhác +

Lợinhuận

X100%

- Trị giá nguyên vật liệu, phụ tùng hoặc hàng hoá không có xuất xứ là :

+ Giá CIF tại thời điểm nhập khẩu của hàng hoá hoặc thời điểm nhập khẩu được chứng minh hoặc

+ Giá xác định ban đầu trả cho hàng hoá không xác định được xuất xứ tại lãnh thổ củaquốc gia thành viên nơi diễn ra hoạt động sản xuất hoặc chế biến;

- Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm lương, thù lao và các khoản phúc lợi khác cho người lao động liên quan đến quá trình sản xuất;

- Chi phí phân bổ trực tiếp bao gồm (nhưng không giới hạn) các hạng mục tài sản thựcliên quan tới quá trình sản xuất (bảo hiểm, chi phí thuê và thuê mua nhà máy, khấu hao nhà xưởng, sửa chữa và bảo trì, thuế, lãi cầm cố); các khoản thuê mua và trả lãi của nhà máy và thiết bị; an ninh nhà máy, bảo hiểm (nhà máy, thiết bị và nguyên vật liệu sử dụng trong quá trình sản xuất hàng hoá); các chi phí tiện ích (năng lượng, điện,nước và các chi phí tiện ích khác đóng góp trực tiếp vào quá trình sản xuất hàng hoá);

12

Trang 14

hàng hoá nhập khẩu cũng phải dựa trên phương pháp tính mà nước thành viên xuất khẩu đang áp dụng.

+ Hàng hóa phải trải qua chuyển đổi HS 4 số, hoặc Hàng hóa phải trải qua một quy trình sản xuất nhất định Các quy tắc này được áp dụng riêng hoặc kết hợp

Đa số các sản phẩm có quy tắc xuất xứ kết hợp, cho phép áp dụng đồng thời cả RVC và Chuyển đổi HS/Quy trình sản xuất.

Thủ tục chứng nhận xuất xứ:

Để được hưởng ưu đãi thuế quan, theo ATIGA, nhà xuất khẩu phải xin Chứng nhận xuất xứ form D tại một cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu - ở Việt Nam

là 18 Phòng Quản lý Xuất nhập khẩu thuộc Cục Xuất Nhập khẩu – Bộ Công Thương

và 37 Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất do Bộ Công Thương ủy quyền

Tuy nhiên, hiện tại các nước ASEAN đang hướng tới việc áp dụng cơ chế Tự chứng nhận xuất xứ, cho phép nhà xuất khẩu được tự chứng nhận xuất xứ mà không cần phải thông qua một cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu Hiện đã có hai dự

án thí điểm về Tự chứng nhận xuất xứ đang được các nước ASEAN thực hiện, theo đócác nhà xuất khẩu đủ điều kiện sẽ được tự chứng nhận xuất xứ trên hóa đơn thương mại cho hàng xuất khẩu

+ Dự án thí điểm 1: Ký ngày 30/8/2010 bởi 3 nước Brunei, Malaysia và Singapore, bắt đầu thực hiện từ ngày 1/11/2010 Thái Lan tham gia vào tháng 10/2011

+ Dự án thí điểm 2: Ký ngày 29/8/2012 bởi 3 nước Lào, Indonesia và Philippines, bắt đầu thực hiện từ ngày 1/1/2014 Việt Nam tham gia vào tháng 9/2014

Thực thi của Việt Nam:

Để hướng dẫn doanh nghiệp Việt Nam về việc áp dụng các quy tắc xuất xứ và thủ tục chứng nhận xuất xứ trong ATIGA, Bộ Công Thương đã ban hành các Thông tưhướng dẫn thực hiện cho doanh nghiệp Hai thông tư mới nhất về quy tắc xuất xứ trong ATIGA là:

+ Thông tư số 42/2014/TT-BCT ngày 18/11/2014 về việc sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Thông tư số 21/2010/TT-BCT ngày 17 tháng 5 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện Quy tắc xuất xứ trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN+ Thông tư số 28/2015/TT-BCT ngày 20/8/2015 về việc quy định việc thực hiện thí điểm tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN

 Điều kiện để được hưởng ưu đãi thuế quan:

-Đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN, có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) Mẫu D, theo quy định hiện hành của pháp luật như nêu trên

-Vận chuyển trực tiếp:

a)Hàng hoá sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan nếu đáp ứng đầy đủ những quy định của Chương này và phải được vận chuyển trực tiếp từ lãnh thổ của Quốc gia Thành viên xuất khẩu và Quốc gia Thành viên nhập khẩu

Trang 15

b) Các phương thức được liệt kê dưới đây cũng được coi là vận chuyển trực tiếp từ Quốc gia Thành viên xuất khẩu tới Quốc gia Thành viên nhập khẩu:

Hàng hoá được vận chuyển từ Quốc gia Thành viên xuất khẩu đến Quốc gia Thành viên nhập khẩu;

Hàng hoá được vận chuyển qua một hoặc nhiều Quốc gia Thành viên, khác với Quốc gia Thành viên xuất khẩu và Quốc gia Thành viên nhập khẩu, hoặc qua một Quốc gia không phải thành viên, với điều kiện:

+ Quá cảnh là cần thiết vì lý do địa lí hoặc do các yêu cầu có liên quan trực tiếp đến vận tải

+ Hàng hoá không tham gia vào giao dịch thương mại hoặc tiêu thụ tại nước quá cảnh

1996 – 2015: Các nước ASEAN đã tiến hành đàm phán và đưa ra 9 Gói cam kết về dịch vụ, 6 Gói cam kết về dịch vụ tài chính và 8 Gói cam kết về dịch vụ vận tải hàng không

2.2.2 Mục tiêu

Mục tiêu tự do hóa trong khuôn khổ AFAS đã được nêu trong Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) AEC Blueprint đặt ra các yêu cầu về tự do hóa đối với cả 4 phương thức cung cấp dịch vụ là: Phương thức 1 – Cung cấp dịch vụ qua biên giới, Phương thức 2 – Tiêu dùng ở nước ngoài, Phương thức 3 – Hiện diện

thương mại, và Phương thức 4 – Hiện diện thể nhân Tuy nhiên, các Gói cam kết trongkhuôn khổ Hiệp định AFAS chỉ đề cập đến 3 Phương thức 1,2,3 còn Phương thức 4 được tách ra đàm phán riêng trong Hiệp định về di chuyển thể nhân ASEAN (MNP) vào năm 2012

Đối với 3 Phương thức cung cấp dịch vụ 1,2,3, AEC Blueprint đặt ra mục tiêu:+ Đối với Phương thức 1 và 2: Không có hạn chế nào, ngoại trừ các trường hợp có lý

do hợp lý (như bảo vệ cộng đồng) và được sự đồng ý của tất cả các Thành viên

ASEAN trong từng trường hợp cụ thể

+ Đối với Phương thức 3: Cho phép tỷ lệ góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài thuộc khu vực ASEAN trong các doanh nghiệp lên tới 70% vào năm 2015 đối với tất

cả các lĩnh vực và từng bước loại bỏ các rào cản khác

14

Trang 16

Tuy nhiên, cho tới thời điểm 31/12/2015 thì các nước ASEAN vẫn chưa đạt được đầy đủ các mục tiêu kể trên.

2.2.3 Nguyên tắc, phạm vi và hình thức đàm phán

Nguyên tắc đàm phán: Đàm phán dịch vụ trong khuôn khổ AFAS được thực hiện theo hình thức Chọn – Cho giống WTO, tức là tất cả các ngành/lĩnh vực có cam kết mở cửa thì sẽ được đưa vào trong các Gói cam kết, còn trường hợp không đưa vào

là không có cam kết gì

Phạm vi cam kết: Các Gói cam kết về mở cửa dịch vụ trong khuôn khổ Hiệp định AFAS không bao gồm Phương thức cung cấp dịch vụ 4 – Hiện diện thể nhân, mà chỉ bao gồm 3 Phương thức cung cấp dịch vụ 1- Cung cấp dịch vụ qua biên giới), 2 - Tiêu dùng ở nước ngoài và 3 – Hiện diện thương mại Các cam kết về Hiện diện thể nhân hay còn gọi là Di chuyển thể nhân được đàm phán riêng trong Hiệp định về di chuyển thể nhân ASEAN năm 2012

Ngoài ra, lĩnh vực dịch vụ Tài chính và Vận tải hàng không cũng được đàm phán riêng, không nằm trong các Gói cam kết chung

2.2.4 Các gói cam kết chung về dịch vụ

(i) Tiến trình đàm phán

Từ năm 1996 đến 2006, các nước ASEAN đã tiến hành 4 vòng đàm phán về dịch vụ, mỗi vòng cách nhau 3 năm Các vòng đàm phán quy định lộ trình cắt giảm cụthể các rào cản đối với dịch vụ giữa các nước ASEAN Kết quả sau 4 vòng đàm phán, các nước đã đưa ra 6 Gói cam kết về dịch vụ, Gói sau có cam kết cao hơn Gói trước

và là một phần của Hiệp định AFAS

Từ năm 2007 đến nay, các nước ASEAN không tiến hành các vòng đàm phán nữa mà thực hiện tự do hóa dịch vụ dựa trên các mục tiêu và lộ trình trong Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) Các Gói cam kết tiếp tục được đàm phán và thực hiện tính đến tháng 11/2015 đã có 9 gói Cam kết đã được đưa ra

Các Gói cam kết này không bao gồm dịch vụ Tài chính và Vận tải hàng không (hai lĩnh vực này được đàm phán trong các Gói cam kết riêng

Bảng: Các vòng đàm phán và các gói cam kết dịch vụ trong khuôn khổ AFAS Vòng 1 (1996 – 1998)

• Gói thứ nhất, ký ngày 15/1997 tại Kuala Lumpur, Malaysia

• Gói thứ 2, ký ngày 16/121998 tại Hà Nội, Việt Nam

• Gói thứ 5, ký ngày 8/12/2006 tại Cebu, Philippines

• Gói thứ 6, ký ngày 19/11/2007 tại Singapore

2007 – 2015

• Gói thứ 7, ký ngày 26/02/2009 tại Cha-am, Thailand

Trang 17

• Gói thứ 8, ký ngày 28/10/2010 tại Hà Nội, Việt Nam

• Gói thứ 9, ký ngày 27/11/2015 tại Makati City, Philippines

(ii) Hiệu lực

Với mỗi Gói cam kết, để thực hiện các nước ASEAN sẽ cùng ký vào một Nghị định thư thực thi Gói cam kết đó Hiệu lực của Gói cam kết sẽ phụ thuộc vào quy địnhtrong Nghị định thư

Chẳng hạn như theo Nghị định thư thực thi Gói cam kết thứ 9 về Dịch vụ, Gói cam kết này sẽ có hiệu lực sau 180 ngày kể từ ngày ký Nghị định thư Trong thời gian

180 ngày đó, các nước Thành viên sẽ tiến hành các thủ tục nội bộ để phê chuẩn Gói cam kết này, sau khi hoàn thành sẽ thông báo bằng văn bản cho Ban Thư ký ASEAN Nếu một nước Thành viên không thể hoàn thành phê chuẩn trong vòng 180 ngày đó, thì đến khi nào hoàn thành và thông báo cho Ban Thư ký thì các quyền và nghĩa vụ của nước đó trong Gói thứ 9 mới bắt đầu

(iii) Mức độ cam kết

Các Gói cam kết trong AFAS nhìn chung có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết sâu hơn so với các cam kết trong WTO của mỗi nước thành viên Các Gói cam kết sau có mức độ cam kết cao hơn các Gói cam kết trước nhằm tiến đến thực hiện các mục tiêu về tự do hóa dịch vụ đặt ra trong AEC Blueprint

Mức độ cam kết của Việt Nam:

+ Trong các 9 Gói cam kết trên, các Gói cam kết 1-7 của Việt Nam có mức độ mở cửa dịch vụ chỉ thấp hơn hoặc bằng so với mức độ mở cửa dịch vụ của Việt Nam trong WTO Nhưng bắt đầu từ Gói thứ 8 trở đi, một số cam kết của Việt Nam trong một số phân ngành đã bắt đầu cao hơn mức độ mở cửa trong WTO và bổ sung thêm cam kết cho một số phân ngành mới

+ Gói cam kết thứ 9 về dịch vụ trong AFAS có nhiều lĩnh vực Việt Nam cam kết cao hơn và mở rộng thêm một số cam kết so với WTO Hiện tại Việt Nam đã hoàn thành phê chuẩn Gói cam kết thứ 9 của AFAS và sẽ thực hiện khi Gói này khi có hiệu lực Theo quy định của Nghị định thư thực thi Gói cam kết thứ 9 thì sau 180 ngày kể từ ngày ký Nghị định thư (27/11/2015) thì Gói này sẽ có hiệu lực

Một số cam kết dịch vụ của Việt Nam trong Gói cam kết thứ 9 của AFAS cao hơn

cam kết trong WTO

Trang 18

sản không có cam kết)

4 Y tế - Các dịch vụ bệnh viện, nha khoa và khám bệnh: Mở cửa hoàn

toàn cả 3 phương thức cung cấp dịch vụ (trong WTO vẫn có yêu cầu về vốn đầu tư tối thiểu để thành lập cơ sở cung cấp dịch vụ)

- Các dịch vụ y tá, vật lý trị liệu và cứu trợ y tế: chưa cam kết trong WTO, trong Gói 9 Việt Nam cam kết mở cửa hoàn toàn ở 3 phương thức cung cấp dịch vụ

5 Viễn thông - Dịch vụ Giá trị gia tăng không có hạ tầng mạng (trừ dịch vụ tiếp

cận internet): cho phép vốn góp của các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài trong liên doanh lên tới 70% (thay vì 65% như trong WTO)

6 Du lịch - Dịch vụ công viên vui chơi giải trí (theme park): trong WTO Việt

Nam không có cam kết gì đối với dịch vụ này Trong Gói 9 của AFAS, Việt Nam cho phép các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thành lập liên doanh để cung cấp dịch vụ này nhưng phần vốn góp không được vượt quá 70% vốn điều lệ của công ty, đồng thời Việt Nam vẫn giữ quyền phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp dịch

vụ trong nước và nước ngoài trong lĩnh vực này

7 Vận tải - Vận tải đường sắt: Trong WTO đối với dịch vụ này Việt Nam vẫn

còn tương đối nhiều hạn chế đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài Trong Gói 9 của AFAS Việt Nam mở cửa hoàn toàn cả

3 Phương thức dịch vụ đối với Vận tải đường sắt hàng hóa, còn đốivới Vận tải đường sắt hành khách thì chỉ duy trì hạn chế đối với Phương thức 3, theo đó yêu cầu tỷ lệ góp vốn trong liên doanh không vượt quá 51% (so với 49% trong WTO)

- Vận tải đường biển: Mở cửa thêm Phương thức 1 đối với cả vận tải đường biển hàng hóa và hành khách so với WTO Còn đối với Phương thức 3, mở cửa hơn so với WTO ở hình thức vận tải đường biển hàng hóa khi cho phép vốn góp của nước ngoài trong các công ty vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam lên tới 70% (so với 49% trong WTO)

- Vận tải đường bộ hàng hóa: Mở cửa thêm Phương thức 1 so với WTO và cho phép vốn góp của nước ngoài trong liên doanh lên tới70% (so với 49% trong WTO)

- Các dịch vụ hỗ trợ, bảo trì, sửa chữa thiết bị vận tải: Gói cam kết

9 của AFAS có cam kết mở cửa bổ sung thêm một số dịch vụ này (trong WTO không có cam kết

2.3 Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA)

2.3.1 Giới thiệu chung

Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA) được ký kết tháng 2/2009 và có hiệu lực

từ 29/3/2012 thay thế cho Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư ASEAN (IGA)

1987 và Hiệp định Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) 1998

Trang 19

Hiệp định ACIA bao gồm 4 nội dung chính là Tự do hóa đầu tư, Bảo hộ đầu tư, Thuậnlợi hóa đầu tư và Xúc tiến hóa đầu tư.

Phụ lục 2 về trường hợp tịch biên và bồi thường:

- 01 Danh mục bảo lưu: Danh mục này của Việt Nam bao gồm các trường hợp ngoại

lệ không áp dụng nghĩa vụ đối xử quốc gia và nghĩa vụ đối với quản lý cấp cao và bangiám đốc

2.3.2 Phạm vi điều chỉnh:

Về nghĩa vụ liên quan đến đầu tư

ACIA điều chỉnh các biện pháp của các nước Thành viên áp dụng đối với các nhà đầu

tư và các khoản đầu tư hiện tại hoặc tương lai (tính từ thời điểm ACIA có hiệu lực) của các nhà đầu tư của các nước Thành viên khác

ACIA không áp dụng đối với:

- Các biện pháp liên quan đến thuế (trừ các trường hợp quy định khác trong Hiệp định)

- Các khoản tài trợ hay trợ cấp của một nước Thành viên

Về tự do hóa đầu tư

ACIA chỉ có các cam kết về tự do hóa đầu tư trong các lĩnh vực:

 Chế tạo (manufacturing)

 Nông nghiệp

 Nghề cá (fishery)

 Lâm nghiệp (forestry)

 Khai mỏ (mining and quarrying)

 Các dịch vụ phụ trợ cho các ngành trên

 Và bất kỳ lĩnh vực nào khác nếu tất cả các Thành viên đồng ý

18

Downloaded by vú hi (vuchinhhp12@gmail.com)

Trang 20

Các nghĩa vụ chính về đầu tư

i) Các nghĩa vụ về không phân biệt đối xử

- Đối xử Quốc gia (NT): Mỗi Thành viên cam kết dành cho các nhà đầu tư/khoản đầu

tư của nhà đầu tư từ nước Thành viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối

xử với các nhà đầu tư/khoản đầu tư của nhà đầu tư nước mình

- Đối xử Tối huệ quốc (MFN): Mỗi Thành viên cam kết dành cho các nhà đầu

tư/khoản đầu tư của nhà đầu tư từ nước Thành viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử với các nhà đầu tư/khoản đầu tư của nhà đầu tư từ bất kỳ nước Thành viên hay ngoài Thành viên ASEAN nào, trừ các trường hợp sau:

 Các thỏa thuận tiểu khu vực (sub-regional) giữa hai hoặc nhiều Thành viên

 Các thỏa thuận đã có của các nước Thành viên với các nước khác nhưng phải thông báo với Hội đồng Đầu tư ASEAN

Như vậy, sau khi ACIA có hiệu lực, bất kỳ nước Thành viên ASEAN nào có bất kỳ thỏa thuận nào với các nước khác ngoài ASEAN, trong đó có các cam kết dành sự đối

xử ưu đãi hơn đối với các nhà đầu tư/khoản đầu tư của các nhà đầu tư nước đó so với các cam kết trong ACIA, thì mặc định những định của Hiệp định, nguyên tắc này sẽ không áp dụng đối với các quy định liên quan đến Cơ chế giải quyết tranh chấp Nhà nước-nhà đầu tư nước ngoài (ISDS)

- Các yêu cầu về thực hiện (performance requirement): ACIA khẳng định lại các

quy định trong Hiệp định về các Biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại của WTO(Hiệp định TRIMS) trong đó có các nội dung liên quan đến việc cấm các nước đưa ra các yêu cầu về thực hiện như: yêu cầu doanh nghiệp phải mua một tỷ lệ nhất định hàng hóa nội địa, xuất khẩu một tỷ lệ nhất định hàng hóa…

Các nước cam kết sau 2 năm kể từ ngày ACIA có hiệu lực sẽ tiến hành đánh giá chung

về các yêu cầu thực hiện để bổ sung thêm cam kết vào Hiệp định này Tuy nhiên cho đến nay nội dung này vẫn chưa có bổ sung, sửa đổi nào

- Các yêu cầu về Quản lý cấp cao và Ban giám đốc (Senior Management and Board of Directors): các Thành viên không được đặt ra yêu cầu về quốc tịch của

nhân sự quản lý cấp cao trong doanh nghiệp, trừ khi có bảo lưu rõ ràng trong Hiệp định Tuy nhiên, các Thành viên có thể yêu cầu đa số nhân sự trong ban giám đốc phảithuộc một quốc tịch nào đó

ii) Các nghĩa vụ về bảo hộ đầu tư

ACIA bao gồm rất nhiều các quy định nhằm đảm bảo quyền lợi cho cho các nhà đầu

tư nước ngoài và các khoản đầu tư của họ khi đầu tư vào một nước ASEAN, trong đó

có các quy định về đối xử công bằng và thỏa đáng, tự do chuyển tiền (vốn, lợi nhuận )

ra nước ngoài, đảm bảo an ninh, an toàn, không bị trưng thu trưng dụng tài sản bất hợp lý…

Đặc biệt, ACIA đưa vào một Cơ chế Giải quyết tranh chấp Nhà nước-nhà đầu tư nước ngoài (ISDS) trong đó cho phép nhà đầu tư khi có tranh chấp với nước nhận đầu tư có quyền kiện nước đó ra một cơ chế trọng tài độc lập Quy trình và thủ tục giải quyết

Trang 21

tranh chấp theo cơ chế ISDS được quy định khá cụ thể và rõ ràng trong Hiệp định Phạm vi giải quyết tranh chấp là các tranh chấp liên quan đến các nghĩa vụ về Đối xử Quốc gia (Điều 5), Đối xử Tối Huệ quốc (Điều 6), Quản lý cấp cao và Ban giám đốc (Điều 8), Đối xử đầu tư (Điều 11), Bồi thường trong trường hợp xung đột (Điều 12), Chuyển tiền (Điều 13), Trưng dụng và Bồi thường (Điều 14)

Chú ý:

Không phải toàn bộ các biện pháp liên quan đến đầu tư của các nước Thành viên đều phải tuân thủ theo các nghĩa vụ trên mà vẫn có các ngoại lệ/bảo lưu cho phép các nướcThành viên không phải tuân thủ toàn bộ hoặc một số nghĩa vụ trong ACIA Cụ thể, Hiệp định đưa ra các ngoại lệ/bảo lưu sau:

+ Ngoại lệ chung (Điều 17): bao gồm các ngoại lệ liên quan đến bảo vệ đạo đức công cộng, bảo vệ tính mạng và sức khỏe con người, động thực vật, bảo vệ các bảo vật quốc gia về văn hóa, lịch sử hoặc khảo cổ…

+ Ngoại lệ về an ninh quốc phòng

+ Bảo lưu theo Danh mục bảo lưu của từng nước: Mỗi nước có một Danh mục các biện pháp bảo lưu hai nghĩa vụ Đối xử Quốc gia (NT) và nghĩa vụ về Nhân sự quản lýcấp cao và Ban giám đốc Đối với Danh mục Bảo lưu của Việt Nam, tất cả các lĩnh vực đều có một số biện pháp bảo lưu hai nghĩa vụ này

Tuy nhiên, theo quy định của ACIA, các Thành viên sẽ phải cắt giảm hoặc xóa bỏ các bảo lưu trong Danh mục bảo lưu của nước mình phù hợp với 3 giai đoạn của Lộ trình chiến lược trong Kế hoạch tổng thể thực hiện AEC

2.4 Hiệp định ASEAN về di chuyển thế nhân (MNP)

2.4.1 Khái niệm

Hiệp định ASEAN về di chuyển thể nhân trong tiếng Anh gọi là: ASEAN Agreement

on Movement of Natural Persons - MNP

Hiệp định ASEAN về Di chuyển thể nhân (MNP) được ký ngày 19/11/2012 tại PhnomPenh, Campuchia với mục tiêu dỡ bỏ đáng kể các rào cản đối với việc di chuyển tạm thời qua biên giới của các thể nhân tham gia vào thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu

tư giữa các nước ASEAN

Di chuyển thể nhân là sự di chuyển của cá nhân từ nước này qua nước khác để cung cấp một dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định

Trong ASEAN, phương thức cung cấp dịch vụ này ban đầu được đàm phán trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại Dịch vụ ASEAN (AFAS), nhưng sau đó được tách riêng ra để đàm phán trong một Hiệp định riêng là Hiệp định ASEAN về Di chuyển thể nhân (MNP) năm 2012

Ngoài ra, để tạo thuận lợi hơn cho sự di chuyển của lao động có tay nghề giữa các nước ASEAN, các nước đã ký kết các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong một số

20

Downloaded by vú hi (vuchinhhp12@gmail.com)

Trang 22

lĩnh vực ngành nghề nhằm công nhận lẫn nhau về bằng cấp và trình độ của lao động

có kỹ năng trong khu vực

Cho tới thời điểm tháng 12/2015, các nước ASEAN đã ký 8 Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRA) trong 8 lĩnh vực dịch vụ là: Kiến trúc, Tư vấn kỹ thuật, Điều dưỡng, Hành nghề y, Nha sĩ, Du lịch, Kế toán kiểm toán, và Khảo sát

Hiệp định ASEAN về di chuyển thể nhân là một trong những Hiệp định thương mại được ký kết trong khuôn khổ ASEAN và hướng tới mục tiêu thực hiện AEC

2.4.2 Phạm vi áp dụng

Hiệp định này áp dụng đối với các quy định ảnh hưởng tới việc di chuyển tạm thời qua biên giới của thể nhân của một nước ASEAN sang lãnh thổ của nước ASEAN khác trong các trường hợp:

i) Khách kinh doanh (business visitors),

ii) Người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp,

iii) Người cung cấp dịch vụ theo hợp đồng,

iv) Một số trường hợp khác quy định cụ thể trong Biểu lộ trình cam kết về Di chuyển thể nhân của mỗi nước đính kèm theo Hiệp định này

- Hiệp định không áp dụng đối với các quy định của một nước ASEAN liên quan tới việc hạn chế tiếp cận thị trường lao động của người lao động các nước ASEAN khác Việc mở cửa thị trường lao động của mỗi nước chỉ áp dụng cho các ngành nghề được quy định cụ thể trong Biểu lộ trình cam kết của nước đó và thuộc một trong 4 trường hợp trên

2.4.3 Phạm vi điều chỉnh

MNP không điều chỉnh toàn bộ vấn đề “tự do di chuyển thể nhân” trong ASEAN Ngay từ lời mở đầu, MNP chỉ đặt mục tiêu điều chỉnh một phần vấn đề tự do di

chuyển thể nhân liên quan đến một số thể nhân cụ thể được quy định trong Hiệp định

và chỉ áp dụng đối với các quy định ảnh hưởng tới việc tạm thời nhập cảnh và tạm thời lưu trú của các thể nhân này từ một nước thành viên ASEAN tại nước thành viên khác Như vậy có thể hiểu, cũng như GATS, MNP sẽ không áp dụng với các biện phápảnh hưởng đến các thể nhân tìm kiếm cơ hội tiếp cận thị trường việc làm tại một nước thành viên khác và không áp dụng với các biện pháp liên quan đến quốc tịch và cư trú lâu dài Ngoài ra, Hiệp định cũng quy định các trường hợp ngoại lệ không áp dụng cácthoả thuận về di chuyển thể nhân tại Điều 9 và Điều 10 của Hiệp định, đó là các ngoại

lệ chung như: các biện pháp cần thiết để duy trì trật tự công cộng, các biện pháp cần thiết để bảo vệ cuộc sống hoặc sức khỏe của con người, động vật, thực vật, để bảo vệ quyền riêng tư hoặc bảo mật của hồ sơ cá nhân; các ngoại lệ về bảo mật thông tin liên quan đến an ninh hoặc lợi ích mật thiết của quốc gia

2.4.4 Các thoả thuận về tự do di chuyển thể nhân trong MNP

a) Quy định về cấp Tạm nhập cảnh (Temporary Entry) hoặc Tạm trú

(Temporary Stay)

Trang 23

Theo Điều 4 của Hiệp định, mỗi quốc gia thành viên, theo Biểu cam kết của quốc gia

sẽ cấp quyền tạm nhập cảnh hoặc tạm trú cho thể nhân của quốc gia thành viên khác khi các thể nhân đã theo các thủ tục nộp đơn quy định đối với hình thức nhập cảnh đó,đồng thời đáp ứng tất cả các yêu cầu và đủ điều kiện để nhập cảnh tạm thời hoặc tạm trú theo quy định của pháp luật quốc gia Để đảm bảo việc xử lý đơn tạm nhập cảnh/ tạm trú được thực hiện nhanh chóng, Hiệp định quy định quốc gia thành viên tiếp nhân phải xử lý kịp thời và thông báo cho người nộp đơn về trình trạng giải quyết đơnđối với các đơn xin đã hoàn thành thủ tục tạm nhập cảnh/tạm trú; trường hợp đơn đăng ký chưa hoàn chỉnh, quốc gia thành viên phải thông báo cho người nộp đơn để hoàn thành đơn đăng ký Phí nhập cảnh hoặc tạm trú sẽ do pháp luật quốc gia quy định Để đảm bảo về an ninh và tuân thủ pháp luật, Hiệp định cho phép quốc gia tiếp nhận có thể từ chối tạm nhập cảnh hoặc tạm trú đối với thể nhân của một quốc gia khác nếu không thực hiện đủ các yêu cầu và đáp ứng các điều kiện tạm nhập cảnh/tạmtrú theo pháp luật quốc gia tiếp nhận.[4]

b) Quy định về cam kết của quốc gia thành viên đối với tạm nhập cảnh/ tạm trú của thể nhân và lộ trình các thỏa thuận hướng tới tự do hoá hơn nữa về di

chuyển thể nhân trong ASEAN

Mỗi quốc gia thành viên sẽ cam kết về tạm nhập cảnh/tạm trú trong lãnh thổ quốc gia mình cho thể nhân của các quốc gia thành viên khác, cụ thể là các điều kiện chung, các giới hạn, thời gian lưu trú đối với từng loại thể nhân Khi MNP có hiệu lực, cam kết này sẽ thay thế các cam kết theo AFAS liên quan đến Mode 4 trước đây

Với mục tiêu tự do di chuyển thể nhân hơn nữa trong tương lai, Hiệp định cũng quy định về lộ trình các cuộc đàm phán trong tương lai nhằm đạt được những thỏa thuận cao hơn Theo MNP, cuộc thảo luận đầu tiên để xem xét lại các Biểu cam kết sẽ được

tổ chức sau 1 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực và các cuộc thảo luận sau đó sẽ diễn ra theo thoả thuận của các quốc gia thành viên ASEAN Những sửa đổi của các Biểu cam kết sẽ được đưa vào Hiệp định dưới hình thức sửa đổi, bổ sung Hiệp định

c) Quy định về đảm bảo sự minh bạch

Để đảm bảo sự minh bạch trong tự do di chuyển thể nhân, Hiệp định MNP quy định nghĩa vụ của các nước thành viên trong việc thực hiện thỏa thuận này Theo Điều 8 MNP, mỗi quốc gia thành viên ASEAN sẽ có nghĩa vụ:[6]

- Công khai các thủ tục nhập cảnh và các giải thích có liên quan hoặc ảnh hưởng đến thỏa thuận về tự do di chuyển thể nhân của ASEAN;

- Thiết lập hoặc duy trì các cơ quan liên lạc để hướng dẫn về thủ tục và các quy định

có liên quan đến tạm nhập cảnh/ tạm trú của thể nhân

- Cho phép khoảng thời gian hợp lý giữa công bố các quy định mới về tạm nhập cảnh/ tạm trú của thể nhân và ngày có hiệu lực, có thể công bố qua phương tiện điện tử

- Công bố các thủ tục, các quy định có liên quan và các giải thích về tạm nhập

cảnh/tạm trú trên website về nhập cư trong khoảng thời gian không quá 6 tháng kể từ ngày MNP có hiệu lực

22

Downloaded by vú hi (vuchinhhp12@gmail.com)

Trang 24

- Khi có bất kỳ sửa đổi, bổ sung nào về các quy định nhập cư liên quan đến tạm nhập cảnh hoặc tạm trú của thể nhân phải công bố sớm nhất trong vòng 90 ngày kể từ ngày sửa đổi, bổ sung có hiệu lực

d) Quy định về công nhận lẫn nhau

Nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động di chuyển thể nhân, MNP quy định mỗi quốc gia thành viên (theo thỏa thuận của cả khối hoặc thỏa thuận song phương với quốc gia thành viên khác) có thể công nhận trình độ giáo dục, kinh nghiệm, giấy phép, chứng nhận có được của thể nhân được cấp bởi một quốc gia thành viên khác để phục vụ choviệc cấp giấy phép, chứng nhận nhà cung cấp dịch vụ của thể nhân tại quốc gia mình

2.4.5 Vai trò

Cùng với tự do hoá thương mại hàng hoá, dịch vụ và vốn, tự do di chuyển lao động là một trong những cấu thành của thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất Tuy nhiên, vớinhững đặc thù là tổ chức duy nhất trên thế giới có các thành viên đa dạng về thể chế chính trị, khác biệt về văn hoá, xã hội và sự chênh lệch về khoảng cách phát triển kinhtế; những bất ổn về chính trị cũng như những tranh chấp trong khu vực vẫn tiếp diễn… đối với yếu tố lao động, hiện nay trong quá trình xây dựng Cộng đồng kinh tế, ASEAN không thực hiện tự do hoá hoàn toàn mà chỉ đặt ra mục tiêu tự do di chuyển đối với lao động lành nghề Hiệp định ASEAN về di chuyển thể nhân là một trong những công cụ để thực hiện mục tiêu này của ASEAN với việc giới hạn thể nhân thuộc đối tượng điều chỉnh của Hiệp định ở 4 loại là khách kinh doanh; người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp; người cung cấp dịch vụ theo hợp đồng và một số trường hợp khác quy định cụ thể trong Biểu lộ trình cam kết của các quốc gia thành viên Do đó, đối với quá trình xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN, Hiệp định có vai trò quan trọng:

Thứ nhất, Hiệp định góp phần thúc đẩy trao đổi vốn đầu tư giữa các nước thành viên;

từ đó, đẩy mạnh hoạt động trao đổi thương mại hàng hoá, dịch vụ trong khối Giao lưuthương mại phụ thuộc nhiều vào việc xem xét và đánh giá thị trường đầu tư Với đối tượng điều chỉnh chủ yếu là những người tìm kiếm cơ hội kinh doanh (khách kinh doanh) và thể nhân của các doanh nghiệp, MNP đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nhân ASEAN nhập cảnh vào các nước thành viên, các doanh nghiệp của các quốc gia thành viên dễ dàng cử chuyên gia của mình sang thiết lập, vận hành các dự

án đầu tư của doanh nghiệp tại các quốc gia thành viên trong khối Điều này góp phần không nhỏ trong việc khuyến khích các nhà đầu tư ASEAN đầu tư vào các nước thànhviên trong khối nhằm khai thác, phát triển, mở rộng thị trường đầu tư, kinh doanh, từ

đó, tăng khả năng sản xuất hàng hoá, dịch vụ trên toàn khu vực

Thứ hai, MNP chỉ giới hạn 4 loại hình thể nhân được phép tự do dịch chuyển theo

Hiệp định, trong đó lao động không có kỹ năng không thuộc đối tượng được di

chuyển tự do, cho nên quy định về di chuyển tự do lao động có tay nghề có kỹ năng giữa các nước ASEAN tạo ra một phân khúc thị trường lao động khá hẹp và có sự sàng lọc đáng kể đối với lao động di chuyển nội khối

Trang 25

Thứ ba, sự tự do di chuyển đối với các loại hình thể nhân theo MNP này sẽ tăng tính

cạnh tranh trên thị trường lao động của quốc gia và khu vực, góp phần gia tăng về số lượng lao động có kỹ năng, nâng cao năng suất và chất lượng lao động

Thứ tư, tự do di chuyển thể nhân sẽ góp phần tạo áp lực để các nước thành viên hoàn

thiện thể chế, điều chỉnh chính sách, pháp luật để tương thích với pháp luật về lao động của các nước trong ASEAN

Thứ năm, về lâu dài, các thoả thuận về di chuyển thể nhân sẽ thúc đẩy những đổi mới

trong giáo dục và đào tạo của các nước thành viên để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong nước và khu vực

2.5 Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA)

ATISA là từ viết tắt của ASEAN Trade in Services Agreement – Hiệp định về thương mại dịch vụ của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

ATISA là một trong 03 Hiệp định trụ cột về thương mại hiện nay của ASEAN, bên cạnh Hiệp định về thương mại hàng hóa (viết tắt là ATIGA) và Hiệp định Toàn diện về đầu tư (ACIA)

Thành viên của ATISA là 10 nước thành viên ASEAN, bao gồm Brunei,

Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam Đây là các nước đã tham gia đàm phán và ký ATISA

2.5.1 Văn kiện

Cam kết ATISA bao gồm:

- Văn kiện Hiệp định ATISA

2.5.2 Mục tiêu

24

Downloaded by vú hi (vuchinhhp12@gmail.com)

Trang 26

ATISA được ký kết với 05 mục tiêu cơ bản:

- Tăng cường các kết nối về kinh tế

- Thúc đẩy thương mại và đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ, từ đó tạo ra thị

trường và quy mô dịch vụ lớn hơn

- Giảm các rào cản, tăng tính dự báo về thương mại và đầu tư trong lĩnh

vực dịch vụ

- Tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên ASEAN

- Thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên ASEAN

Với các mục tiêu này cùng những cam kết cụ thể trong ATISA, Hiệp định nàyđược kỳ vọng sẽ mang tới những lợi ích đáng kể cho thương mại dịch vụ nội

khối ASEAN thông qua việc:

- Thống nhất các nguyên tắc ứng xử chung đối với thương mại dịch vụ, áp

dụng cho tất cả các lĩnh vực, ngành dịch vụ

- Tổng hợp và minh bạch các lĩnh vực dịch vụ mà mỗi nước thành viên còn

bảo lưu các hạn chế

- Thúc đẩy tự do hóa trong thị trường dịch vụ bằng cách tiếp cận mới, tự

do hóa toàn bộ ngoại trừ các lĩnh vực còn bảo lưu

2.5.3 Hiệu lực

Theo quy định tại văn kiện Hiệp định, ATISA có hiệu lực sau 180 ngày kể từ ngày ký Trên thực tế, Hiệp định được ký ngày 23/4/2019, do đó bắt đầu có hiệu lực từ20/10/2019

Tuy nhiên, thời điểm hiệu lực của ATISA với từng nước thành viên không giống nhau:

- Đối với các nước thành viên hoàn tất thủ tục phê chuẩn trong nội bộ nước mình và gửi Thông báo bằng văn bản tới Tổng Thư ký ASEAN về việc này trước ngày

05/4/2021 thì ATISA có hiệu lực với nước đó từ ngày 05/4/2021

- Đối với các nước thành viên hoàn tất thủ tục phê chuẩn nội bộ sau ngày 05/4/2021 thì Hiệp định có hiệu lực với nước đó kể từ ngày nước đó gửi Thông báo bằng văn bảntới Tổng Thư ký ASEAN

2.5.4 Nội dung chủ yếu

Các nghĩa vụ trong ATISA có thể chia làm 03 nhóm lớn sau:

(i) Nhóm các nghĩa vụ cơ bản

Trang 27

Nhóm cam kết này được nêu tập trung tại Mục II của Hiệp định, bao gồm tất cả các nguyên tắc ứng xử mà nước thành viên phải bảo đảm đối với bất kỳ dịch vụ và/hoặc nhà cung cấp dịch vụ nào của/từ nước thành viên khác trừ các trường hợp có bảo lưu.

Cụ thể, các nghĩa vụ cơ bản này bao gồm:

- Đối xử Quốc gia

- Đối xử Tối huệ quốc

- Tiếp cận thị trường

- Hiện diện tại nước sở tại

- Ban lãnh đạo, các vị trí nhân sự chủ chốt

(ii) Nhóm cam kết về mở cửa thị trường

Nhóm này gồm các cam kết về những trường hợp (ngành, phân ngành, hoạt động dịchvụ) bảo lưu mà nước thành viên được quyền không tuân thủ một hoặc một số các nghĩa vụ cơ bản theo các cách thức, điều kiện, mức độ cụ thể

Các cam kết liên quan tới bảo lưu được nêu tại:

- Mục III Hiệp định (các vấn đề chung về bảo lưu, áp dụng chung cho tất cả các thành viên)

- Phụ lục I và II Hiệp định về Danh mục các biện pháp không tương thích

(các bảo lưu cụ thể của riêng từng nước thành viên)

(iii) Nhóm các cam kết về minh bạch, hợp tác, bảo đảm cạnh tranh, tự do thanh toán

Các cam kết này tập trung tại Mục IV và V của Hiệp định, bao gồm:

- Các cam kết nhằm bảo đảm tính minh bạch, tham vấn và có thể dự đoán trước trong (i) soạn thảo, ban hành, áp dụng các biện pháp liên quan tới thương mại dịch vụ; (ii) thực hiện các thủ tục hành chính, đặc biệt là thủ tục cấp phép

- Các cam kết nhằm thúc đẩy hợp tác giữa các nước thành viên trong công nhận bằng cấp, thúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME), hỗ trợ

kỹ thuật

- Các cam kết nhằm bảo đảm cạnh tranh liên quan tới các nhà cung cấp dịch vụ độc quyền hoặc có đặc quyền

- Các cam kết bảo vệ quyền tự do thanh toán và chuyển tiền cùng các hạn

chế đối với các quyền này

2.5.5 Các thiết chế thực thi, rà soát, sửa đổi ATISA:

 Thiết chế thực thi

Theo Văn kiện ATISA, có 02 thiết chế chịu trách nhiệm cho việc thực thi Hiệp

26

Downloaded by vú hi (vuchinhhp12@gmail.com)

Trang 28

định này, bao gồm:

- Hội nghị các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM): Cơ quan này có thẩm quyền cao nhất về tất cả các vấn đề trong thực thi ATISA, đồng thời cũng là cơ quan bảo đảm việc hợp tác và giám sát thực thi ATISA ở các nước thành viên cũng như tại các cơ quan khác của ASEAN

- Ủy ban Điều phối về dịch vụ ASEAN (CCS): Đây là cơ quan hỗ trợ AEM trong thựcthi ATISA

Ngoài 02 thiết chế này, trong quá trình thực thi ATISA có thể sẽ có các cơ quan khác được thành lập theo quyết định của AEM để thực hiện các nhiệm vụ hoặc trách nhiệm

cụ thể mà AEM giao cho

 Rà soát

ATISA quy định các nước thành viên phải thực hiện rà soát tổng thể các quy định của mình muộn nhất là 05 năm kể từ ngày HIệp định có hiệu lực với mình Như vậy, đối với lần rà soát thứ nhất, nước thành viên được tự lựa chọn thời điểm rà soát, miễn là không quá 5 năm để từ ngày ATISA có hiệu lực

Sau đó, định kỳ 5 năm một lần, các nước thành viên lại thực hiện việc rà soát này, đồng thời với rà soát về Danh mục các biện pháp không tương thích NCM Thời hạn

05 năm này là bắt buộc tuân thủ, việc thay đổi thời hạn này (kéo dài hoặc rút ngắn) chỉđược phép nếu được sự đồng ý của các thành viên khác

 Sửa đổi

Bất kỳ điều chỉnh nào đối với ATISA (bao gồm cả đối với Văn kiện chung, hay đối vớimột hoặc các Phụ lục ATISA, văn kiện khác, nếu có) đều chỉ được thực hiện thông qua sửa đổi được đồng thuận chung bằng văn bản của tất cả các nước thành viên.Riêng đối với các Phụ lục và các văn kiện khác trong tương lai, nếu có, của ATISA, việc thay đổi, điều chỉnh cam kết có thể được thực hiện thông qua sửa đổi được chấp thuận bởi AEM, Hội nghị các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc ngân hàng ASEAN hoặc ATM tương ứng với lĩnh vực có điều chỉnh

2.5.6 Cơ hội và thách thức với Việt Nam trong ATISA

ATISA là một bước tiến quan trọng trong tiến trình tự do hóa thương mại dịch vụ trong khu vực Với các mục tiêu tự do hóa và hợp tác phát triển của ATISA (xem Câu hỏi 2), ATISA được kỳ vọng sẽ mang lại những cơ hội có ý nghĩa nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức đáng kể cho doanh nghiệp và thị trường dịch vụ Việt Nam

 Cơ hội:

Nếu thực thi hiệu quả, ATISA được dự báo sẽ mang lại cho Việt Nam cơ hội:

- Tiếp cận thuận lợi hơn, dễ dàng hơn để tiến vào thị trường dịch vụ các nước ASEAN, qua đó thu lợi ích từ các thị trường này

Trang 29

Trong ATISA, tất cả các thành viên sẽ phải mở cửa thị trường dịch vụ của mình cho nhà cung cấp dịch vụ từ nước khác ở mức ít nhất bằng với các Gói cam kết AFAS (đặcbiệt là Gói thứ 9 và thứ 10) Vì vậy, suy đoán là trong tương lai, mức mở cửa và điều kiện tiếp cận thị trường các dịch vụ các nước ASEAN sẽ chỉ thuận lợi hơn cho nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam.

Trong bối cảnh một số thị trường ASEAN hiện đang là đích đến tiềm năng của không

ít các nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam (ví dụ thị trường Lào, Campuchia, Myanmar, với các dịch vụ như viễn thông, logistics, tài chính, thể thao, giáo dục; các thị trường ASEAN khác với các dịch vụ logistics, đặc biệt là vận tải biển và vận tải hàng không;

….), ATISA được xem như là bước ngoặt để các nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam tiếp cận, mở rộng phạm vi kinh doanh của mình ở các thị trường này

- Môi trường kinh doanh trong các lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam và các nước ASEAN minh bạch hơn, rõ ràng và dễ dự đoán trước, từ đó giảm chi phí cho doanh nghiệp dịch vụ

Theo ATISA, các nước thành viên, bao gồm cả Việt Nam, sẽ phải tuân thủ các nguyên tắc ứng xử chung, thống nhất trong các lĩnh vực có cam kết Điều này sẽ giúp cho quyền lợi của nhà cung cấp dịch vụ được bảo vệ tốt hơn, môi trường kinh doanh minh bạch hơn, các hành động quản lý hay xu hướng chính sách có thể dự đoán dễ dàng và đáng tin cậy hơn

Theo cách này, nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam kinh doanh ở Việt Nam hay hoạt động

ở nước thành viên khác đều sẽ được hưởng lợi, chi phí kinh doanh có thể giảm bớt và các dự báo chiến lược cho hoạt động kinh doanh có thể ổn định và thực thi thuận lợi hơn

- Liên doanh, liên kết với các nhà cung cấp dịch vụ ASEAN, tham gia sâu hơn

vào các chuỗi giá trị dịch vụ toàn cầu

ATISA được kỳ vọng gia tăng đầu tư trong các lĩnh vực dịch vụ, trong đó có hoạt động đầu tư dưới dạng liên doanh, góp vốn mua cổ phần tại doanh nghiệp dịch vụ Điều này là cơ hội để doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam thu hút thêm nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản trị, kinh doanh, nhanh chóng tiếp cận các dịch vụ mới… từ các đối tác ASEAN có thế mạnh về một số dịch vụ mới, sáng tạo, đặc biệt là các dịch

vụ của nền kinh tế số, kinh tế nền tảng

Đồng thời, ATISA cũng được đánh giá là sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ xuyên biên giới giữa các nước ASEAN Đây là cơ sở để kỳ vọng về một sự kết nối dịch vụ giữa các nước thành viên tốt hơn, hiệu quả hơn, trong đó có kết nối các nhà cung cấp dịch vụ ASEAN với nhau, đặc biệt trong các dịch vụ đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà cung cấp dịch vụ ở các khâu với nhau và với khách hàng

 Thách thức

Một thị trường dịch vụ khu vực tự do hơn, thuận lợi và dễ dàng tiếp cận cho các nhà cung cấp dịch vụ ở bất kỳ nước thành viên nào cũng được dự báo có thể tạo ra những thách thức nhất định với dịch vụ, các nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam, cụ thể:

28

Downloaded by vú hi (vuchinhhp12@gmail.com)

Trang 30

- Thách thức cạnh tranh ở thị trường nội địa từ các dịch vụ, đối tác cung

cấp dịch vụ ASEAN

Việc mở cửa rộng hơn thị trường Việt Nam cho các dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ ASEAN có thể khiến cạnh tranh trên thị trường Việt Nam trở nên gay gắt, phức tạp hơn Nguy cơ này đặc biệt lớn ở những lĩnh vực dịch vụ mà doanh nghiệp Việt Nam còn có năng lực cạnh tranh hạn chế, uy tín chưa cao (ví dụ bảo hiểm, vận tải, giáo dục,phân phối, các dịch vụ chuyên môn….)

Thách thức cạnh tranh ở các thị trường ASEAN

Do cam kết mở cửa trong ATISA của mỗi nước sẽ được áp dụng thống nhất với dịch

vụ, nhà cung cấp dịch vụ của tất cả các thành viên khác, đồng thời mức mở cửa suy đoán sẽ thuận lợi hơn so với AFAS, một số nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam đã và đanghiện diện ở một số nước ASEAN theo cơ chế trước đây có thể sẽ phải đối mặt với cạnh tranh khó khăn hơn Sau ATISA, đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp sẽ không còn chỉ là các nhà cung cấp dịch vụ nước sở tại, mà còn cả các nhà cung cấp dịch vụ ASEAN khác vào thị trường qua ATISA

2.6 Hiệp định khung ASEAN về tạo thuận lợi cho hàng hóa quá cảnh

(AFAFGIT):

2.6.1 Cơ sở hình thành:

Quyết định thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) của các nhà Lãnh đạo ASEAN nhằm tạo ra dòng chảy tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động có taynghề cao, đồng thời dòng vốn tự do hơn trong khu vực Để AEC phát huy tác dụng, việc thiết lập một môi trường Hải quan và Vận tải hài hòa hoàn toàn là ưu tiên hàng đầu

Hiệp định khung ASEAN về tạo thuận lợi cho hàng hóa quá cảnh (AFAFGIT -

Hà Nội, 1998) là công cụ cốt lõi để thực hiện các mục tiêu này và cung cấp chín Nghị định thư cấp cao đề ra các tiêu chuẩn chung để thực hiện một hệ thống trung chuyển quốc tế Mục tiêu thực tế của AFAFGIT là tạo ra một môi trường khu vực trong đó phương tiện vận hành theo hệ thống vận chuyển có thể di chuyển hàng hóa bằng đường bộ từ điểm khởi hành ở bất kỳ Quốc gia Thành viên ASEAN nào (AMS) đến điểm đến ở bất kỳ Quốc gia Thành viên nào khác qua bất kỳ quốc gia quá cảnh nào

mà không cần dỡ hàng trung gian và với các thủ tục tối thiểu tại biên giới Các giao thức 1, 3, 4 và 5 thuộc thẩm quyền của Cơ quan Giao thông vận tải, trong khi các Giao thức 2 và 7 thuộc thẩm quyền của Hải quan Singapore, Malaysia và Thái Lan đãđồng ý tiến hành thí điểm để thử nghiệm các Nghị định thư AFAFGIT trong hoạt độngcủa ngành công nghiệp Đối với mục đích của các Giao thức thí điểm 6, 8 và 9 bị loại trừ Các giao thức bị loại trừ sẽ được vận hành ở giai đoạn sau

2.6.2 Các mục tiêu của AFAFGIT là:

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa quá cảnh, hỗ trợ việc thực hiện Khu vực Thương mại Tự do ASEAN và để hội nhập sâu hơn nữa các nền kinh tế của khu vực;

Ngày đăng: 09/05/2023, 21:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng hợp các cột mốc phát triển chính - Tiểu luận môn học thông lệ trong thương mại quốc tế
Bảng t ổng hợp các cột mốc phát triển chính (Trang 8)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w