Untitled ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH TẾ, LUẬT VÀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Môn Kinh tế học Khu vực Công Đề tài ĐÁNH GIÁ CHI TIÊU CÔNG VIỆT NAM Chính sách tài khóa hướng tới tính bền[.]
Trang 1ĐẠI HỌC UEH TRƯỜNG KINH TẾ, LUẬT VÀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Môn: Kinh tế học Khu vực Công
Đề tài: ĐÁNH GIÁ CHI TIÊU CÔNG VIỆT NAM
Chính sách tài khóa hướng tới tính bền vững, hiệu quả và công
bằng
Giảng viên: Th.s Nguyễn Thành Tiến
Mã số sinh viên: 31201023692 - Lớp PM001
Sinh viên: Hà Quang Đạt
1
Trang 2MỤC LỤC
A Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
2 Mục tiêu nghiên cứu
B Nội dung
I Tổng quan về chi tiêu công
1 Khái niệm, đặc điểm và cơ cấu của chi tiêu công
a Khái niệm chi tiêu công
b Đặc điểm của chi tiêu công
c Cơ cấu chi tiêu công
d Phân tích chi tiêu công
II Củng cố chính sách tài chính, đảm bảo tính bền vững của tài khóa
1 Xu hướng tài chính tổng thể
2 Xu hướng thu ngân sách nhà nước
3 Xu hướng tổng thể về tài khóa và nợ công
III TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH VỀ KẾT QUẢ
1 Tăng cường tính toàn diện và minh bạch về tài khóa
2 Tăng cường quản lý hiệu suất và khuôn khổ trách nhiệm giải trình
3 Tăng cường kiểm tra và giám sát bên ngoài
C KẾT LUẬN
2
Trang 3A Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam đã có bước chuyển mình phát triển ấn tượng Quá trình “Đổi mới” được khởi xướng từ năm 1986 đã chuyển đổi thành công đất nước từ một trong những nước nghèo nhất thế giới sang tình trạng có thu nhập trung bình thấp hơn Thu nhập bình quân đầu người tăng hơn gấp đôi từ năm 2000 đến năm 2014, đưa Việt Nam vào nhóm các nền kinh tế đang phát triển tăng trưởng nhanh nhất với kỷ lục giảm nghèo ấn tượng nhất trên thế giới Tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ được hỗ trợ bởi các chính sách kinh tế vĩ mô và chi tiêu phù hợp với tăng
trưởng
Tuy nhiên, sự chuyển đổi cũng đã mang lại những thách thức tài khóa mới Nhu cầu chi tiêu công tiếp tục tăng do nhu cầu ngày càng tăng đối với các dịch vụ công có chất lượng và bảo trợ xã hội trong bối cảnh tốc độ già hóa nhanh và đầu
tư vào cả cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực để thúc đẩy tăng trưởng Mở cửa hơn
và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới đã dẫn đến sự suy yếu của doanh thu thương mại do cắt giảm thuế quan và dễ bị tổn thương hơn trước các cú sốc bên ngoài Doanh thu từ tài nguyên thiên nhiên và bán đất giảm, cùng với việc
sử dụng rộng rãi các "kỳ nghỉ thuế" được khuyến khích để chống lại tác động của các cú sốc và thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng cũng đã dẫn đến tăng trưởng doanh thu chậm lại trong những năm gần đây Kết quả của những điều này, không gian tài khóa đã bị thu hẹp Việc tích cực theo đuổi một loạt các chính sách có liên quan với nhau, bao gồm thúc đẩy nguồn tài chính tư nhân và đóng góp của người dân (hoặc “xã hội hóa”), đã thúc đẩy cạnh tranh để cung cấp dịch
vụ tốt hơn đồng thời giảm gánh nặng tài chính đối với nhà nước, đồng thời có nguy cơ làm gia tăng sự bất bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ cơ bản, đặc biệt là của các nhóm dễ bị tổn thương
Tốc độ mở rộng, mở cửa và phân cấp nhanh chóng đã làm cho nền kinh tế trở nên phức tạp hơn để quản lý Chi tiêu của địa phương hiện chiếm khoảng 55% 3
Trang 4tổng chi tiêu của Chính phủ, 70% tổng đầu tư công, 85% chi tiêu cho giáo dục
và 80% chi tiêu cho y tế Tuy nhiên, minh bạch tài khóa và trách nhiệm giải trình vẫn chưa theo kịp với mức độ phân cấp tài khóa cao này Sự phân tán quá mức của các nguồn lực công và sự thiếu hụt dữ liệu đã làm suy yếu khả năng của các cơ quan chức năng trong việc đánh giá kỹ lưỡng quy mô hoạt động thực
tế của chính phủ cũng như tác động của các hoạt động này cũng như của các chính sách tiền tệ và tài khóa trong trung và dài hạn
Để giải quyết những thách thức này, Chính phủ Việt Nam mong muốn bắt tay vào việc củng cố tài khóa dần dần, phù hợp với tăng trưởng như một yếu tố quan trọng để duy trì tính bền vững tài khóa, trên cơ sở nỗ lực phối hợp nhằm thúc đẩy huy động nguồn thu, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả trong chi tiêu và tăng cường quản lý tài sản công và nợ phải trả và rủi ro tài khóa
2 Mục tiêu nghiên cứu
Chính sách tài khóa hướng tới tính bền vững, hiệu quả và công bằng
B Nội dung
I Tổng quan về chi tiêu công
1 Khái niệm, đặc điểm và cơ cấu của chi tiêu công
a Khái niệm chi tiêu công
Chi tiêu công là khái niê ̣m thuộc phạm trù kinh tế có từ lâu, chi tiêu công xuất hiê ̣n gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước Qua các thời kỳ và giai đoạn phát triển kinh tế xã hội khác nhau, quan điểm về khái “Chi tiêu công” cũng những thay đổi nhất định, chi tiêu công còn phản ánh lựa chọn của chính phủ Mỗi khi chính phủ quyết định một hàng hóa hay dịch vụ nào đó, chi tiêu công cộng sẽ xuất hiện để phản ánh chi phí của quyết định đó
b Đặc điểm của chi tiêu công
Trang 5nhiệm vụ kinh tế, chính trị và xã hội của Nhà n ớc;ƣ
Chi tiêu công là khoản chi mang tính chất công cộng;
Chi tiêu công là nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng;
Các khoản chi tiêu công không mang tính hoàn trả trực tiếp
(hoặc chi tiêu công mang tính hoàn trả gián tiếp)
c Cơ cấu chi tiêu công
Về cơ bản chi tiêu công được chia thành chi mua sắm hàng hóa dịch vụ, dịch vụ
và chi chuyển nhượng
Mục đích phân loại chi tiêu công
- Giúp cho Chính phủ thiết lập được những chương trình hành động
- Tăng cường tính hiệu quả trong việc thi hành ngân sách để thực hiện các chức năng của Nhà nước nói chung và chi tiêu công nói riêng
- Quy định tính trách nhiệm trong việc phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của Nhà nước
- Cho phép phân tích ảnh hưởng từ những hoạt động tài chính của Nhà nước đối với nền kinh tế
1 Theo chức năng (vĩ mô của Nhà nước)
Cách phân loại theo chức năng thường có ý nghĩa đối với việc phân tích kinh tế nhiều hơn là việc quản lý chi tiêu ngân sách của Chính phủ Cách phân loại này thường được sử dụng trong đánh giá phân bổ nguồn lực của Chính phủ nhằm thúc đẩy thực hiện các hoạt động và mục tiêu khác nhau của Chính phủ Theo cách phân loại này, chi tiêu công cộng bao gồm:
- Chi cho các dịch vụ nói chung chung của Chính phủ (hay chi hành chính): Đây
là những khoản chi ngân sách cho những hoạt động thường xuyên để đảm bảo
5
Trang 6Chính phủ có thể thực hiện các chức năng của mình Thuộc loại này gồm chi cho các cơ quan hành chính của Chính phủ, chi cho cảnh sát, tòa án…
Ví dụ: Chi cho các cơ quan hành chính của Chính phủ, chi cho cảnh sát, tòa án
và viện kiểm sát, chi cho hệ thống quân đội và an ninh xã hội…
- Chi phí cho các dịch vụ kinh tế: Bao gồm những khoản đầu tư của Chính phủ vào cơ sở hạ tầng, điều tiết, trợ cấp sản xuất…
Ví dụ: Chi cho cơ sở hạ tầng, chi điều tiết, trợ cấp sản xuất, chi hỗ trợ doanh
nghiệp…
- Chi phí cho các dịch vụ kinh tế: Đây là các khoản chi cho cộng đồng nói chung, các hộ gia đình và cá nhân
Ví dụ: chi cho giáo dục, y tế, hưu trí, trợ cấp thất nghiệp, phúc lợi, văn hóa, giải trí…
- Chi khác: Chủ yếu là để trả lãi cho các khoản nợ của Chính phủ hoặc phân bổ ngân sách giữa các cấp chính quyền
Ví dụ: Chi viện trợ nước ngoài, chi ngoại giao…
2 Theo mục đích (tính chất kinh tế)
Tất cả các khoản chi tiêu của Chính phủ thường được phân loại một cách truyền thống thành chi thường xuyên và chi đầu tư Với mục đích chủ yếu hỗ trợ Chính phủ thiết lập các chương trình chi tiêu kết hợp chi thường xuyên và chi đầu tư để nâng cao hiệu quả chi tiêu công:
Chi thường xuyên: Là các khoản chi để mua các hàng hóa và dịch vụ không lâu bền, thường mang tính chất lặp đi lặp lại thường xuyên qua các năm
Ví dụ:
- Chi trả lương cho cán bộ công chức nhà nước,
Trang 7- Chi ASXH, chi trợ cấp, BHXH,
- Chi sự nghiệp kinh tế; giáo dục và đào tạo; nghiên cứu khoa học và công nghệ; y tế; văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao…
Chi đầu tư: Khoản chi này được sử dụng để mua các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhất định và thời gian sử dụng là hơn 1 năm trong quá trình sản xuất Loại chi này gồm chi cho đất đai, thiết bị, trái phiếu, tài sản Chính phủ,
Ví dụ:
- Chi xây dựng công trình kết cấu hạ tầng KT – XH
- Đầu tư, hỗ trợ cho các doanh nghiệp
- Chi hỗ trợ cho các quỹ hỗ trợ tài chính của Nhà nước
3 Theo quy trình lập ngân sách:
Chi tiêu công theo các yếu tố đầu vào: là sự liệt kê các khoản mục mua sắm các phương tiện cần thiết cho hoạt động của các cơ quan, đơn vị để qua đó Chính phủ làm căn cứ xác định kinh phí tài trợ
Ví dụ: chi mua TSCĐ, chi phí nhân công, chi mua tài sản lưu động, chi tiền lương, chi phụ cấp và các khoản khác…
Chi tiêu công theo các yếu tố đầu ra: mức kinh phí phân bổ cho một cơ quan, đơn vị không căn cứ các yếu tố đầu vào mà dựa vào khối lượng công việc đầu ra
và những kết quả tác động đến mục tiêu hoạt động của các đơn vị
Ví dụ: chi để giảm hiện tượng thất nghiệp, giảm tỷ lệ lạm phát,…
d Phân tích chi tiêu công
Trang 8Với nguồn lực hữu hạn của nguồn thu ngân sách đòi hỏi Chính phủ luôn phải ưu tiên lựa những chương trình, dự án mang lại hiệu quả nhất cũng như làm sao để
đo lường được mức độ hiệu quả của chúng Sau đây, mình sẽ nêu ra 3 phương pháp luận là cơ sở để lựa chọn và đánh giá chi tiêu công
Đầu tiên đó chính là: Đặt chi tiêu công vào lợi ích tổng thể của xã hội Các
nhà kinh tế học phúc lợi, các nhà ban hành chính sách luôn cho rằng khi một chính sách được đưa ra luôn có tính hai mặt Một mặt sẽ mang lại lợi ích cho một nhóm người trong xã hội, mặt khác sẽ gây thiệt hại cho một nhóm người khác Mong muốn của họ khi ban hành hay đánh giá một chính sách, dự án, chỉnh sửa, điều chỉnh một chủ thể nào đó là phải mang lại nhiều lợi ích hơn tổn thất Hay nói cách khác là tối ưu hoá phúc lợi dài hạn Để hình dung rõ hơn về
sự đánh đổi này mình sẽ lấy ví dụ minh hoạ dự án đầu tư bệnh viện Nam Định Ngay tiêu đề bài viết chúng ta đã thấy ngay sự đánh đổi nguồn lực rất lớn của Chính phủ đó là số tiền đầu tư dự án lên đến gần 1500 tỷ, ngoài ra để có được đất xây dựng bệnh viện cần phải quy hoạch một số nhà dân… Tuy nhiên, bênh viện đưa vào hoạt động hiệu quả sẽ mang lại lợi ích rất lớn Với quy mô lớn, mỗi ngày bệnh viện có thể điều trị hàng ngàn bệnh nhân giúp cho rất nhiều bà con ở tỉnh Nam Định được hưởng dịch vụ khám chữa bệnh tiên tiến hiện đại, nâng cao chất lượng cuộc sống, ngoài ra một số bệnh nhân không cần phải di chuyển đi xa tốn kém nhiều chi phí thời gian còn gây ùn tắc ở các bệnh viện tuyến trên Không chỉ giúp nâng cao chất lượng khám bệnh cho bà con Nam Định mà còn tăng chất lượng cho các bệnh viện khác lân cận
Tuy nhiên, để đo lường đánh giá chính xác tổng thể lợi ích mang lại từ một chính sách không hề đơn giản Do quy mô của một chính sách xã hội khác nhau thường là khá lớn, mức độ chịu tác động của một cá nhân, một gia đình đối với một chính sách cũng không giống nhau Ngoài ra, mô hình tổ chức của Chính phủ ở mỗi quốc gia cũng có nhiều khác biệt cũng có thể quyết định tính hiệu quả của cùng một loại chi tiêu công
8
Trang 9Phương pháp luận thứ 2 đó là: Xem xét tầm quan trọng của chương trình, dự
án chi tiêu công Như đã nói ở trên nguồn lực của Chính Phủ là hữu hạn và
nguồn thu thường thấp hơn khoản cần chi vì vậy các cơ quan nhà nước luôn phải lựa chọn những khoản chi cấp bách hơn; mang lại lợi ích về mặt kinh tế hiệu quả hơn vì thế mà việc xem xét tầm quan trọng của các khoản chi tiêu công là vô cùng cần thiết Một dự án muốn được xét duyệt cần phải được chứng minh tính cấp bách và giao phó cơ quan phụ trách đảm bảo dự án thành công Quá trình xem xét tầm quan trọng dự án chi tiêu công sẽ được diễn ra như sau:
Chính khách hay người đại diện vùng, khu vực là người trực tiếp chịu trách nhiệm và quản lý ngành, khu vực đó sẽ phát hiện ra các vấn đề cần giải quyết khắc phục Họ sẽ ước lượng, xác định nhu cầu xã hội sau khi đã nắm được thông tin, số liệu cần thiết sẽ phản ánh lên cơ quan quyền lực của nhà nước như là Chính Phủ; Quốc Hội cũng như kèm theo đề xuất giải pháp cho vấn đề này thường ở hình thức dự án Luật; dự thảo chính sách; đề xuất dự án, chương trình chi tiêu công
Cuối cùng là vấn đề trọng số phúc lợi trong phân tích chi tiêu công.
Mặc dù chúng ta vẫn cho rằng mỗi chính sách được đưa ra sẽ tác động tích cực cho một nhóm người người lại một nhóm người khác phải chịu thiệt hại Tuy nhiên trong mỗi nhóm người mức tác động sẽ không giống nhau Chẳng hạn như cùng quy hoạch một lô đất nhưng có gia đình, họ vẫn còn một ngôi nhà khác và nguồn thu chính là từ tiền lương đi làm của con cái nên họ chỉ mất đi một phần tài sản Trong khi đó, một gia đình khác mảnh đất vừa là ngôi nhà duy nhất, vừa cho thuê làm nguồn thu nhập chính, khi miếng đất bị quy hoạch họ mất đi cả phần lớn tài sản lẩn nguồn thu nhập chính Vì vậy trong cùng một nhóm mức độ gánh chịu thiệt hại là không giống nhau vì vậy nếu chỉ dựa trên giá trị cận biên của người chịu thiệt thấp hơn giá trị cận biên của người được hưởng lợi không thể đo lừa chính xác và đưa ra quyết định hiệu quả được Vì vậy mà người ta quan tâm đến trọng số
II Củng cố chính sách tài chính, đảm bảo tính bền vững của tài khóa
9
Trang 101 Xu hướng tài chính tổng thể
Trong vài năm qua, quan điểm tài khóa của Việt Nam đã đi ngược lại chu kỳ, với sự gia tăng lớn trong chi tiêu công được thiết kế để giảm thiểu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Trong khi chính sách tài khóa phản chu kỳ giúp ngăn chặn một cuộc suy thoái kinh tế mạnh hơn, thâm hụt lớn hơn sau đó
đã làm tăng mức nợ, rút ngắn hồ sơ đáo hạn và tăng gánh nặng dịch vụ nợ đối với ngân sách Thâm hụt tài khóa trung bình trong giai đoạn 2011-15 tăng lên khoảng 5,5% GDP1; cao hơn rõ rệt so với các kỳ trước Thâm hụt tài khóa dai dẳng đã khiến nợ công gia tăng và gây ra những lo ngại nghiêm trọng về tính bền vững trong trung hạn của vị thế tài khóa hiện tại và con đường nợ công tương ứng
Việc củng cố tài khóa dần dần, phù hợp với tăng trưởng được khuyến nghị như một yếu tố quan trọng để tạo ra sự bền vững về tài khóa Điều này đòi hỏi Chính phủ phải cam kết mạnh mẽ để giảm mức thâm hụt ngân sách và giữ mức nợ công dưới giới hạn luật định hiện hành là 65% GDP Điều này sẽ phục vụ cho việc xây dựng lại vùng đệm tài khóa chống lại những cú sốc có thể xảy ra trong tương lai và khả năng hiện thực hóa các khoản nợ tiềm tàng phát sinh từ khu vực tài chính và DNNN Các phương án củng cố tài khóa có thể được coi là cơ sở của nỗ lực phối hợp nhằm thúc đẩy huy động nguồn thu, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả chi tiêu, tăng cường sử dụng tài sản công và quản lý hiệu quả nợ công
và rủi ro tài khóa Cơ cấu lại chi tiêu cần bảo vệ chi tiêu và đầu tư của xã hội và tạo khoảng trống cho các chi phí tái cơ cấu tiềm năng (nếu có)
2 Xu hướng thu ngân sách nhà nước
Tăng trưởng kinh tế cao trong một thời gian dài, với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 6 phần trăm từ năm 2006 đến năm 2015, đã giúp tăng thu ngân sách nhà nước của Việt Nam Tuy nhiên, thu ngân sách trong giai đoạn 2011-15 trong khi tiếp tục tăng trưởng theo thực tế đã diễn ra với tốc độ chậm
Trang 11Trong thời gian tới, cần tiếp tục cải cách chính sách thuế để tăng cường huy động nguồn thu nội địa, thông qua một số phương án chính sách cụ thể như sau:
• Phát triển thêm các cơ sở thuế giá trị gia tăng (VAT), hướng tới một thuế suất VAT duy nhất và miễn giảm thuế rất hạn chế;
• Mở rộng cơ sở thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và rà soát các ưu đãi thuế (chi tiêu thuế), phát huy hiệu quả và tránh không phù hợp; tránh tình trạng manh mún và lãng phí tài nguyên; và đảm bảo công khai, minh bạch và bình đẳng trong cạnh tranh kinh doanh;
• Hợp lý hóa chính sách thu về tài nguyên và môi trường, bảo đảm bảo tồn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, thúc đẩy mối liên kết giữa khai thác, chế biến tài nguyên và bảo vệ môi trường
3 Xu hướng tổng thể về tài khóa và nợ công
Thâm hụt ngân sách cao liên tục dẫn đến nợ công gia tăng6 - tỷ lệ nợ trên GDP tăng nhanh, từ 51,7% năm 2010 lên 61% năm 2015 - khiến Việt Nam bị thu hẹp không gian vay Trong số nợ công này, 49,2% GDP là nợ của chính quyền trung ương trực tiếp, 10,9% GDP là nợ do chính phủ trung ương bảo lãnh và 0,9% GDP là nợ của chính quyền cấp tỉnh Loại trừ nợ được bảo lãnh và vay nội bộ7,
nợ chính phủ trực tiếp ước tính là 43,3% GDP (2015); gần với cả mức trung bình của các đối tượng so sánh thu nhập và khu vực Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là tỷ lệ nợ trên GDP của Việt Nam nổi bật là một trong những mức tăng mạnh nhất trong khu vực (khoảng 10 phần trăm mỗi năm trong năm năm qua), bất chấp hiệu suất tăng trưởng kinh tế ấn tượng của đất nước Nếu xu hướng này tiếp tục, Việt Nam có khả năng phải đối mặt với những lo ngại nghiêm trọng về tính bền vững tài khóa
Chính phủ đã có những nỗ lực đáng kể trong việc kéo dài thời gian đáo hạn của trái phiếu Chính phủ trong nước Thời gian đến hạn bình quân tăng lên 4,44 năm vào cuối năm 2015, so với 2,93 năm 2013 Mặc dù có sự cải thiện này, nhưng thời gian đáo hạn bình quân của trái phiếu chính phủ ở Việt Nam so với các
11