Untitled TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA TÀI CHÍNH Tiểu luận môn học Kinh tế lƣợng tài chính Đề tài CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÔNG TY GVHD Nguyễn Triều Đông Sinh viên[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GVHD: Nguyễn Triều Đông
Sinh viên thực hiện:
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Tập thể nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc thầy Nguyễn Triều Đông đã tận tình chỉ dạy và hướng dẫn chúng em trong suốt quá trình học tập cũng như là hoàn thành bài tiểu luận này
Trong quá trình làm việc thì không tránh khỏi sai sót và khiếm khuyết do kiến thức còn hạn chế và việc chúng em mới làm quen phần mềm stata nên rất mong thầy sẽ
bỏ qua Đồng thời, nhóm chúng em rất mong nhận được những lời nhận xét bổ ích
từ thầy để chúng em hoàn thiện kiến thức cũng như có nhiều kinh nghiệm cho việc làm khóa luận sau này
Lời cuối cùng, tập thể nhóm chúng em kính chúc thầy nhiều sức khỏe và thành công hơn nữa trên con đường giảng dạy
Trang 3ii
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 M ục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Câu h ỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Ph ạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa đề tài 4
1.6 Bố cục của đề tài 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6
2.1 Khái niệm cấu trúc vốn 6
2.2 Một số lý thuyết cấu trúc vốn 6
2.2.1 Lý thuy ết M&M 6
2.2.2 Lý thuy ết trật tự phân hạng 7
2.2.3 Lý thuy ết đánh đổi cấu trúc vốn 8
2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây 9
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Dữ liệu nghiên cứu 11
3.2 Mô hình nghiên cứu 14
3.3 Phương pháp nghiên cứu .15
CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17
4.1 Thống kê mô tả và ma trận hệ số tương quan 17
4.2 Kiểm định đa cộng tuyến 18
4.3 Phân tích hồi quy tuyến tính theo mô hình Pool OLS 19
4.4 Kết quả hồi quy ước lượng theo FEM và REM 21
Trang 44.5 Kiểm định hausman test 22
4.6 Kiểm định hiện tương phương sai thay đổi 23
4.7 Hiện tượng tự tương quan 23
4.8 Phương pháp FGLS 24
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 26
5.1 Kết luận 26
5.2 Hạn chế của đề tài 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHỤ LỤC 30
Trang 5iv
HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
Pooled OLS Hồi quy kết hợp tất cả các quan sát
FEM Mô hình tác động cố định
REM Mô hình tác động ngẫu nhiên
FGLS Bình phương tối thiểu tổng quát khả thi
Trang 6DANH M ỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tóm tắt các biến
Bảng 4.1: Thống kê mô tả
Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan
Bảng 4.3: Kiểm định đa cộng tuyến
Bảng 4.4: Các thông số thống kê trong mô hình Pool OLS
Bảng 4.5: Mô hình hồi quy FEM, REM
Bảng 4.6: Kết quả ước lượng bằng mô hình FEM và phương pháp ước lượng FGLS
Trang 71
Bài nghiên cứu này nghiên cứu về tác động của các nhân tố: quy mô doanh nghiệp (SIZE), khả năng sinh lợi (ROA), tốc độ tăng trưởng (SALE-GROW), tính chất hữu hình trong cấu trúc vốn (TANG) và tính thanh khoản (LIQUIDITY) lên cấu trúc vốn của doanh nghiệp Qua nghiên cứu thấy rằng các nhân tố về khả năng sinh lợi và tính chất hữu hình có tác động ngược chiều lên cấu trúc vốn Trong khi đó các nhân tố về quy mô, tốc
độ tăng trưởng hay tính thanh khoản lại phản ánh cùng chiều với cấu trúc vốn
Từ khoá: cấu trúc vốn, Pooled OLS, FEM, REM, FGLS
Trang 8CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Tuy nhiên tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng và phát triển Hiện nay,
vấn đề để lựa chọn một cấu trúc vốn hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị của công ty trở nên quan trọng Song, trong bối cảnh kinh tế và môi trường thể chế của Việt Nam đã có những tác động trong việc lựa chọn cấu trúc vốn Nhìn thấy được vấn đề nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn và mức độ tác động đến việc lựa chọn cấu trúc vốn cho công ty một cách tối ưu là thực sự cần thiết,
chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Các nhân t ố tác động đến cấu trúc vốn của công ty” với mục đích tìm ra ảnh hưởng của các yếu tố đến cấu trúc vốn các doanh nghiệp tại Việt Nam, đánh giá mức độ ảnh hưởng từ đó có thể giúp các nhà quản trị công
ty có thể vận dụng và mở rộng đề áp dụng vào doanh nghiệp của mình
1.2 M ục tiêu nghiên cứu
1.2.1 M ục tiêu tổng quát
Bài nghiên cứu nhằm tìm hiểu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty được niêm yết trên thị trường Việt Nam và mức độ của sự tác động
Trang 93
1.2.2 Câu h ỏi nghiên cứu
Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu tác động như thế nào đến cấu trúc vốn? Tác động ra sao?
Tỷ lệ giữa tài sản cố định hữu hình và tổng tài sản tác động như thế nào đến cấu trúc vốn? Tác động ra sao?
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) tác động như thế nào đến cấu trúc vốn? Tác động ra sao?
Quy mô tác động như thế nào đến cấu trúc vốn? Tác động ra sao?
Tính thanh khoản tác động như thế nào đến cấu trúc vốn? Tác động ra sao?
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các nhân tố tác động làm ảnh hưởng đến quyết định phân bổ cấu trúc vốn của các công ty
cổ phần: với biến phụ thuộc là tổng nợ trên tổng tài sản (TDTA), và tỷ lệ tăng trưởng (SALE_GROWTH) , tài sản hữu hình (TANG), khả năng sinh lời (ROA), quy mô doanh nghiệp (SIZE), tính thanh khoản (LIQUIDITY) là năm biến độc lập đại diện cho năm yếu
tố tác động đến mức độ đòn bẩy tài chính mà doanh nghiệp đang sử dụng
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu bao gồm các thông tin tài chính được trích từ 3 báo cáo tài chính là: báo cáo tình hình tài chính, báo cáo kết quả lưu chuyển tiền tệ và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của 93 công ty cổ phần đang hoạt động tại Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2017, các công ty được niêm yết ở 2 Sở giao dịch chính là Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) Mẫu quan sát đã chọn lọc số liệu cẩn thận, những công ty thiếu dữ liệu, dữ liệu trùng lắp và dữ liệu không rõ ràng đã được loại bỏ khỏi mẫu quan sát
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 10Phương pháp nghiên cứu định tính: điều tra, thu thập thông tin, so sánh, phân tích, tổng hợp dữ liệu về thông tin tài chính của 93 công ty niêm yết được chọn trên sàn chứng
khoán ở Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu định lượng: vì dữ liệu thu thập được là dữ liệu bảng, do đó áp dụng phương pháp kỹ thuật phân tích dữ liệu bảng với các kiểm định chính là kiểm định
đa cộng tuyến, kiểm định phương sai tự thay đổi và kiểm định hiện tượng tự tương quan bằng mô hình hồi quy hiệu ứng cố định ( Fixed effects models) và mô hình hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên ( Random effects models), phương pháp FGLS
1.5 Ý nghĩa đề tài
Ý nghĩa khoa học:
Đề tài này tổng hợp và phân tích các kết quả của những nghiên cứu trước cả trong và ngoài nước về cấu trúc tài chính của công ty Từ đó, góp phần làm rõ liệu có sự tương quan mật thiết nào giữa cấu trúc tài chính hay cấu trúc vốn của công ty và những yếu tố nội tại của nó hay không, và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố lên sự phân bố giữa tỷ lệ
nợ và vốn chủ sở hữu trong cấu trúc vốn
1.6 Bố cục của đề tài
Bài nghiên cứu được chia bố cục thành 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Tổng hợp lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trang 115 Chương 4: Nội dung và các kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận
Trang 12CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Khái ni ệm cấu trúc vốn
Cấu trúc vốn là thuật dùng để chỉ quyết định tài trợ của công ty để tài trợ trong việc mua sắm tài sản, phương tiện vật chất Cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa vốn chủ sỡ hữu, chứng khoán nợ hoặc các chứng khoán lai
Một cấu trúc vốn tối ưu là cấu trúc mà công ty có chi phí vốn nhỏ nhất và giá cổ phiếu cao nhất Tuy nhiên các giám đốc sẽ chọn cấu trúc vốn mà họ tin rằng nó sẽ tối đa hóa giá trị cho công ty vì cấu trúc vốn này sẽ mang lại lợi ích nhất cho cổ đông của họ
2.2 M ột số lý thuyết cấu trúc vốn
2.2.1 Lý thuy ết M&M
Modigliani và Miller (1958) đã đưa ra lý thuyết MM về cấu trúc vốn , lý giải mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp, chi phí sử dụng vốn và mức độ sử dụng nợ M&M được phát biểu thành 2 định đề quan trọng Định đề 1 về giá trị công ty và định đề 2 về chí phí sử dụng vốn Hai định đề này sẽ được lần lượt xem xét trong hai trường hợp môi trường không thuế và có thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
Lý thuyết MM trong trường hợp không có thuế:
MM dựa trên một số giải định quan trọng để nghiên cứu:
- Không có thuế TNDN và thuế TNCN
- Không có chi phí giao dịch
- Không có chi phí phá sản và chi phí khó khăn về tài chính
- Cá nhân và doanh nghiệp có thể đi vay ở cùng một mức lãi suất
Với những giả định trên, nội dung lý thuyết MM trong trường hợp không có thuế được phát biểu như sau:
Định đề 1: Trong điều kiện không có thuế TNDN, giá trị của công ty có vay nợ (VL) bằng giá trị của công ty không có vay nợ (VU), hay VU = VL Hay cấu trúc vốn không
có ảnh hưởng gì đến giá trị công ty Vì vậy, không có cơ cấu vốn nào là tối ưu và công
ty cũng không thể nào tăng giá trị bằng cách thay đổi cơ cấu vốn
Trang 137
Định đề 2: chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ
rE = rU + (rU – rD) Trong đó:
rE = lợi nhuận yêu cầu hay lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổ phần
rD = lãi suất vay hay chi phí sử dụng nợ
rU = chi phí sử dụng vốn nếu công ty sử dụng 100% vốn cổ phần
D = giá trị của nợ hay trái phiếu của công ty phát hành
E = giá trị của vốn cổ phần của công ty
Lý thuyết MM trong trường hợp có thuế TNDN
Gỉa định:
- Có thuế TNDN
- Không có chi phí giao dịch và chi phí kiệt quệ tài chính
- Cá nhân và doanh nghiệp có thể đi vay ở cùng một mức lãi suất
Với những giả định trên, nội dung lý thuyết MM trong trường hợp có thuế được phát
biểu như sau:
Định đề 1: Trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp , giá trị công ty có vay
nợ bằng giá trị công ty không có vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế từ lãi vay Hay cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị doanh nghiệp, sử dụng nợ càng cao thì giá trị của doanh nghiệp càng tăng và tăng đến mức tối đa khi doanh nghiệp dùng 100% nợ
Trang 14của các doanh nghiệp dựa trên cơ sở bất cân xứng thông tin Theo lý thuyết trật tự phân hạng, cấu trúc vốn có tác động đến giá trị doanh nghiệp Các doanh nghiệp có xu hướng
sử dụng nguồn tài trợ nội bộ để tài trợ hơn các nguồn tài trợ từ bên ngoài Và nếu sử dụng nguồn tài trợ bên ngoài, các doanh nghiệp sẽ có xu hướng sử dụng nợ hơn là phát hành cổ phần mới Theo đó, thứ tự ưu tiên khi ra quyết định tài trợ theo trường phái trật tự phân hạng của các doanh nghiệp:
Thứ nhất, sử dụng lợi nhuận giữ lại
Thứ hai, vay nợ
Thứ ba, phát hành cổ phần mới
Mục tiêu của việc sử dụng các nguồn tài trợ theo thứ tự này là nhằm để tối thiểu hóa chi phí bất cân xứng thông tin và các chi phí khác như chi phí giao dịch, chi phí phát hành, chi phí đại diện Theo lý thuyết trật tự phân hạng, nguồn vốn nội bộ nên là lựa chọn đầu tiên của các doanh nghiệp trong việc huy động nguồn tài trợ Bởi vì khi đó doanh nghiệp
sẽ không phải tốn các chi phí giao dịch để thuyết phục hay giải thích về các lựa chọn của mình đối với các nhà đầu tư bên ngoài Ưu tiên tiếp theo là sử dụng nguồn vốn đến từ nợ
vì vay nợ sẽ đem lại những lợi ích từ tấm chắn thuế và có chi phí sử dụng vốn thấp hơn so với chi phí phát hành cổ phần Lựa chọn cuối cùng theo lý thuyết trật trật tự phân hạng là phát hành cổ phần mới Tại sao các doanh nghiệp lại cho việc phát hành mới cổ phiếu không phải là một lựa chọn tối ưu khi muốn huy động vốn? Bởi vì hai lý do quan trọng Thứ nhất, chi phí phát hành cổ phần mới khá cao Thứ hai, khi muốn phát hành cổ phần mới công ty phải minh bạch về tài chính và cung cấp tất cả thông tin cho các nhà đầu tư Trong khi đó, vay nợ cũng buộc các doanh nghiệp tiết lộ các thông tin nhưng là có giới hạn hơn
2.2.3 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn
Lý thuyết này là sự phát triển và khắc phục một nhược điểm từ lý thuyết MM , là đã xem xét đến chi phí kiệt quệ tài chính khi công ty quyết định tài trợ bằng nợ nhằm mục đích giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần Lợi ích từ việc tài trợ bằng nợ là ưu điểm từ tấm chắn thuế Một lý do
Trang 159
lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì việc sử dụng tài trợ bằng nợ phát sinh nên chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp có thể gây nên việc phá sản của công ty
Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, thì lợi ích từ tấm chắn thuế cũng tăng, đồng thời chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng Sẽ đến lúc mà tại đó với mỗi tỷ lệ tăng thêm trong
nợ thì lợi ích từ tấm chắn thuế không còn đủ để bù đắp chi phí kiệt quệ tài chính Tức là doanh nghiệp tạo ra EBIT thấp hơn so với số lãi vay, hay doanh nghiệp không thể đáp ứng các nghĩa vụ nợ Chính vì điều này, các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa tổng giá trị doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa chọn bao nhiêu nợ và bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình
VL = VU + t×D – PV (chi phí kiệt quệ tài chính)
2.3 Các nghiên c ứu thực nghiệm trước đây
Có rất nhiều lý thuyết và giả thuyết khi nói về quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp trong đó phổ biến nhất là 2 lý thuyết: lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng Những nghiên cứu thực nghiệm trước đây về lý thuyết đánh đổi hay lý thuyết trật tự phân hạng khá là mơ hồ Theo nghiên cứu của Myers (2001), chúng ta không thể tìm ra một mẫu hình chung chính xác cho một cấu trúc vốn mà doanh nghiệp nên theo đuổi
Nghiên cứu đầu tiên ủng hộ lý thuyết đánh đổi là của Schwartz và Aronson ( 1967), người
đã tìm ra bằng chứng về tỷ lệ nơ tối ưu mà doanh nghiệp theo đuổi Tiếp đó, Taggart (1977) cũng chứng mình rằng hầu hết các công ty đều có xu hướng theo đuổi cấu trúc vốn với tỷ lệ nợ mục tiêu Một số những nghiên cứu khác như của Marsh (1982), Bradley et
al (1984), Opler và Tittan ( 1994) cũng ủng hộ quan điểm trên Một trong những nghiên cứu thực nghiệm gần đây trái ngược với lý thuyết trật tự phân hạng được thực hiện bởi Fama and French (2005) cũng cho thấy rằng những quyết định tài chính mâu thuẫn với lý thuyết trật tự phân hạng Một lập luận được đưa ra đó là hầu hết các công ty niêm yết thường huy động cổ phần mỗi năm trong khi đó theo lý thuyết trật tự phân hạng, vốn cổ phần nên là lựa chọn cuối cùng
Downloaded by v? ngoc (vuchinhhp10@gmail.com)
Trang 16Trái với những người ủng hộ lý thuyết đánh đổi, Baskin (1989), Chaplinsky và Niehaus (1993), Titman và Wessels (1988) and Rajan và Zingales (1995), Lemmon và Zender (2002) cũng tìm thấy mối tương quan nghịch mạnh mẽ giữa tỷ lệ nợ và khả năng sinh lợi, điều này khá nhất quán với lý thuyết trật tự phân hạng Shyam-Sunder and Myers (1999) cũng ủng hộ giả thuyết này Họ thu thập dữ liệu của các công ty tại Mỹ giao dịch liên tục
từ giai đoạn 1971-1998, sau đó so sánh kết quả với lý thuyết đánh đổi và kết luận rằng lý thuyết trật tự phân hạng có độ tự tin cao hơn lý thuyết đánh đổi Kết quả tương tự cũng được tiến hành bởi Frank và Goyal (2003) với đối tượng thu thập là các công ty Mỹ giai đoạn 1971-1998
Trái với lập trường của hai nhóm trên, nhóm cuối cùng không thiên về một lý thuyết nào
cả Ví dụ như trường hợp của Haan và Hinloopen (2003) khẳng định rằng cả lý thuyết đánh đổi và trật tự phân hạng đều quan trọng cho việc giải thích lý do các doanh nghiệp
ưu tiên chọn cấu trúc vốn như thế nào? Gaud et al (2007) đã thu thập số liệu hơn 5000 công ty ở khu vực Châu Âu và đã kết luận rằng quyết định lựa chọn cấu trúc vốn không chỉ phụ thuộc vào một lý thuyết Một nghiên cứu gần đây được thực hiện bởi Antoniou et
al (2008) đã sử dụng dữ liệu bảng và nhận thấy rằng tỷ lệ đòn bẩy có mối tương quan cùng chiều với giá trị tài sản hữu hình và quy mô của doanh nghiệp nhưng lại ngược chiều với khả năng sinh lợi, cơ hội tăng trưởng và thành quả giá trị thị trường Tuy nhiên các công ty trong nghiên cứu trên lại theo đuổi tỷ lệ nợ tối ưu Điều này dẫn đến không thể đưa ra một kết luận ủng hộ lý thuyết nào cả Một trong những nghiên cứu gần đây nhất là của Seifert và Gonenc (2008) Họ xem xét tác động của lý thuyết trật tự phân hạng lên quyết định cấu trúc vốn ở thị trường Anh, Mỹ, Đức và Nhật Bản và họ nhận thấy rất ít những bằng chứng ủng hộ lý thuyết này ngoại trừ tại Nhật Bản trong giai đoạn những năm 1980 và đầu những năm 1990
Trang 1711
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 D ữ liệu nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 93 doanh nghiệp được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) từ
năm 2008-2017, tương ứng với 930 quan sát
Số liệu của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu phải có đầy đủ và liên tục trong giai đoạn nghiên cứu 2008 – 2017 Nghiên cứu sẽ loại trừ các doanh nghiệp không công bố báo cáo tài chính hoặc không cung cấp đầy đủ số liệu trong giai đoạn này vì các doanh nghiệp này sẽ có thể đang gặp vấn đề tài chính cũng như tình hình kinh doanh không hiệu quả
Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (TDTA)
Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp là từ đi vay Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp Tỷ số này mà quá nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp vay ít Điều này có thể hàm ý doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao Song nó cũng có thể hàm ý là doanh nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy tài chính, tức
là chưa biết cách huy động vốn bằng hình thức đi vay Ngược lại, tỷ số này mà cao quá hàm ý doanh nghiệp không có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh Điều này cũng hàm ý là mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao hơn
Quy mô doanh nghiệp (SIZE)
Các công ty càng lớn, đa dạng hơn phải đối mặt với rủi ro thấp hơn Do đó, lý thuyết
đánh đổi dự đoán các công ty lớn hơn, trưởng thành hơn sẽ có nợ tương đối nhiều hơn
Lý thuyết trật tự phân hạng dự đoán các công ty lâu đời đã có cơ hội giữ lại thu nhập nên những công ty không cần vay nợ quá nhiều
Ln(doanh thu)
Khả năng sinh lời của doanh nghiệp (ROA)
Downloaded by v? ngoc (vuchinhhp10@gmail.com)
Trang 18Đây là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi Tỷ
số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng khả năng sinh lợ sẽ có mối tương quan nghịch với tỷ lệ đòn bẩy vì các công ty sinh lợi càng nhiều họ sẽ hạn chế vay nợ mà thay vào đó ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ nội bộ Lý thuyết đánh đổi thì cho rằng các công ty lại thích vay nợ nhiều hơn khi thành quả kinh doanh tốt do đó kết quả hồi quy sẽ có mối tương quan thuận giữa tỷ suất sinh lợi và tỷ lệ đòn bẩy
Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp (SALE_GROWTH)
Một trong các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng nợ của công ty chính là tốc độ tăng trưởng, phân tích yếu tố này sẽ giúp nhà đầu tư thấy được điều kiện tài chính chung của doanh nghiệp, đánh giá doanh nghiệp hiện đang hoạt động tốt và có lợi thế trong kinh doanh hay đang gặp rủi ro, từ đó giúp nhà quản trị có quyết định chính xác hơn Trong bài này, tác giả sử dụng yếu tố tăng trưởng của doanh thu để thể hiện tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp với tỷ lệ đòn bẩy cũng được giải thích tương tự với mỗi quan hệ giữa khả năng sinh lợi của doanh nghiệp với tỷ lệ đòn bẩy
-
1 Tài sản hữu h nh (TANG)
Cụ thể, nhiều nghiên cứu chứng minh rằng tài sản hữu hình chẳng hạn như đất đai, nhà cửa, nhà máy và thiết bị dễ dàng cho người ngoài định giá hơn so với tài sản vô hình như danh tiếng khi mua lại, điều này làm giảm phá sản dự kiến Chi phí phá sản giảm dự đoán mối quan hệ cùng chiều giữa tài sản hữu hình và đòn bẩy Một dự đoán tương tự là các công ty có nhiều tài sản vô hình hơn thường có các chi phí lớn như chi phí bán hàng,
Trang 1913
chung, quản lý doanh nhiệp, nghiên cứu và phát triển và do đó ít nợ hơn
Lý thuyết đồng đầu tƣ của các bên liên quan cho rằng các công ty sản xuất các sản phẩm độc đáo (nhƣ hàng hóa lâu bền) nên có ít nợ hơn trong cơ cấu vốn của họ (Titman năm 1984) Các công ty trong các ngành công nghiệp độc đáo có nhiều lao động chuyên môn hơn, dẫn đến chi phí kiệt quệ tài chính cao hơn và do đó ít nợ hơn
Các lý thuyết trật tự phân hạng đƣa ra dự đoán ngƣợc lại Sự bất cân xứng thông tin thấp liên quan đến tài sản hữu hình làm cho việc phát hành cổ phiếu ít tốn kém hơn Do đó, tỷ
lệ đòn bẩy nên thấp hơn cho các công ty có tài sản hữu hình cao hơn
√
Tính thanh khoản (LIQUIDITY)
Việc xác định khả năng thanh toán là quan trọng, nó quyết định đến nghĩa vụ nợ của công
ty, thể hiện năng lực công ty trong việc đáp ứng các cam kết vay nợ (trả lãi và nợ gốc
định kỳ) Trong thực tế hệ số thanh toán đƣợc sử dụng nhiều nhất là hệ số khả năng thanh
toán hiện tại Hệ số này cho thấy mức độ an toàn của công ty trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là doanh nghiệp không đủ tài sản có thể sử dụng ngay để thanh toán khoản nợ ngắn hạn sắp đáo hạn
Downloaded by v? ngoc (vuchinhhp10@gmail.com)
Trang 20Khả năng sinh lời của doanh
Khả năng thanh khoản
nhanh của doanh nghiệp
LIQUIDITY
3.2 Mô hình nghiên c ứu
TDTAit= βo + β1SIZE+ β2 ROA+ β3 SALE_GROWTH+ β4 TANG+ β5 LIQUIDITY + ɛi,t
Mô hình của xây dựng ban đầu dựa trên mô hình của các nghiên cứu trước đây Tác giả chọn mô hình này vì tính bền vững của nó trong việc chọn các biến được tóm tắt trong tài liệu cấu trúc vốn trước đó Vì sự bền vững này, nó vẫn được sử dụng rộng rãi trong lý thuyết cấu trúc vốn
Trang 2115
Trong đó: TDTA là tỷ suất nợ tổng nợ/tổng tài sản; SIZE là quy mô doanh nghiệp; ROA
là tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản; SALE_GROWTH là tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp; TANG là cấu trúc tài sản hữu hình của doanh nghiệp; LIQUIDITY là tính thanh khoản
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Bước 1: Thống kê mô tả dữ liệu và ma trận hệ số tương quan.
Bước 2: Kiểm định đa cộng tuyến dựa vào hệ số phóng đại phương sai VIF
Một số tài liệu, sách về thống kê sẽ cho rằng: Nếu VIF < 10 thì không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra Tuy nhiên, mốc đánh giá ở mức 10 sẽ phù hợp với những đề tài về kỹ thuật, vật lý không sử dụng thang đo Likert Còn ở các đề tài về kinh tế, xã hội, các nhà nghiên cứu cho rằng VIF > 2 sẽ có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra Điều này cũng được chính tác giả kiểm chứng qua việc xử lý dữ liệu cho hơn 100 đề tài nghiên cứu ở các lĩnh vực: kinh tế - xã hội, kỹ thuật, y học, nông nghiệp
Bước 3: Báo cáo kết quả hồi quy theo mô hình hồi quy Pooled OLS (hồi quy kết hợp tất
Nếu P_value > alpha: Chấp nhận H0 => Chọn Pooled OLS
P_value < alpha: Bác bỏ H0 => Chọn FEM
Bước 6: Kiểm định Hausman test để xem xét mô hình FEM hay REM phù hợp hơn Thực
chất kiểm định Hausman để xem xét có tồn tại tự tương quan giữa εi và các biến độc lập hay không
Giả thiết:
Ho: εi và biến độc lập không tương quan
Downloaded by v? ngoc (vuchinhhp10@gmail.com)
Trang 22H1: εi và biến độc lập có tương quan
Khi giá trị P_value < alpha: ta bác bỏ Ho Khi đóm εi và biến độc lập tương quan với nhau ta sử dụng mô hình tác động cố định Ngược lại, ta sử dụng mô hình tác động ngẫu nhiên
Bước 7: Kiểm định tự tương quan, phương sai thay đổi
Kiểm định phương sai thay đổi bằng kiểm định Wald
Giả thiết:
H0: Không có phương sai thay đổi
H1: Có phương sai thay đổi
Nếu Pvalue > alpha: Chấp nhận H0
Bước 8: Để khắc phục các khiếm khuyết, phương pháp ước lượng bình phương tối
thiểu tổng quát khả thi (FGLS) được sử dụng
Phương pháp GLS (cụ thể là FGLS) lần đầu được giới thiệu bởi Alexander Aitken vào năm 1934 Về cơ bản GLS tối thiểu hóa tổng bình phương phần dư có trọng số trong khi việc tối thiểu hóa tổng bình phương phần dư bằng mô hình OLS thì không sử dụng trọng
số Đây là phương pháp tin cậy để ước lượng hàm hồi quy tổng thể GLS sẽ đặt trọng số lớn hơn đối với các quan sát nằm gần giá trị trung bình (tổng thể) Ngược lại các quan sát nằm rải rác ở xa sẽ có trọng số thấp hơn