1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bản chất và các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa liên hệ thực tiễn với việt nam

12 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bản chất và các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa liên hệ thực tiễn với Việt Nam
Tác giả Nhóm 8, Nguyễn Ngô Giang Sang, Nguyễn Đức Hiếu, Phạm Ngọc Duyên, Lê Toàn Thắng, Phạm Hữu Đạt, Nguyễn Nhật Đăng
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Minh Tuấn
Trường học Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 198,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  TIỂU LUẬN BẢN CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐỊA TÔ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỚI VIỆT NAM Lớp PM001 Giảng viên Nguyễn Minh[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

B ẢN CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐỊA TÔ TƯ BẢN CHỦ

NGHĨA LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỚI VIỆT NAM

Lớp: PM001

Lê Toàn Thắng Phạm Hữu Đạt

Trang 2

MỤC LỤC

L ỜI MỞ ĐẦU 3

PHẦN 1: BẢN CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐỊA TÔ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA 4

1.1 Khái quát về địa tô tư bản chủ nghĩa 4

1.2 Bản chất địa tô tư bản chủ nghĩa 4

1.3 Các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa 5

1.3.1 Địa tô chênh lệch 5

1.3.2 Địa tô tuyệt đối 8

1.3.3 Địa tô độc quyền 9

1.3.4 So sánh địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối 9

1.4 Giá cả ruộng đất 10

PH ẦN 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM 10

2.1 Vận dụng trong luật đất đai 10

2.2 Vận dụng trong thuếđất nông nghiệp 11

2.3 Trong việc cho thuê đất ở Việt Nam 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Nhà tư bản luôn hướng tới mục đích đạt được mức giá trị thặng dư tối đa điều kiện - tồn tại và phát triển của tư bản Bởi lẽ dù là nền sản xuất nào để phát triển, đạt được yêu cầu cơ bản của con người về điều kiện sống đều cần thực hiện tái sản xuất, mở rộng và tạo ra giá trị thặng dư

Có thể nói, sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản Lĩnh vực nông nghiệp, trong nền kinh tế thị trường cũng như các lĩnh vực khác cũng là một lĩnh vực sản xuất của xã hội Bàn về đất đai - thuộc nông nghiệp hẳn ai cũng biết đây chính là tài nguyên thiên nhiên quý giá, là một tư liệu sản xuất đặc biệt, đồng thời đất là nguồn lực sản xuất quan trọng để tạo ra của cải vật chất cho quá trình phát triển của xã hội hiện đại Nhà tư bản nông nghiệp khi tiến hành kinh doanh nông nghiệp họ trước hết cần đảm bảo thu lợi nhuận bình quân Tất nhiên là họ không thể chiếm đoạt toàn bộ giá trị thặng dư của người lao động mà phải cắt một phần để nộp tô cho địa chủ khi thực hiện thuê đất kinh doanh Do đó, họ còn phải bảo đảm thu được một số giá trị thặng dư vượt ra ngoài lợi nhuận bình quân, một lợi nhuận siêu ngạch Khoản lợi nhuận siêu ngạch ấy luôn được bảo đảm thường xuyên và tương đối ổn định Là một đất nước nông nghiệp, cùng với triết học Mác Lê Nin, việc vận dụng sáng tạo lý luận địa tô đã đem lại cho Việt Nam những thành quả nổi bật ở trong nông nghiệp Xuất phát từ những lý lẽ trên với nền kinh tế Việt Nam hiện nay nền kinh tế thị trường và đặc biệt là sinh - viên kinh tế, sẽ góp phần đóng góp, xây dựng nền kinh tế nước nhà trong tương lai, yêu cầu đặt ra là chúng ta phải phân tích, làm rõ những lý luận địa đô trong triết học Mác, từ đó liên hệ với cách vận dụng của nhà nước Việt Nam ta Vậy nên, nhóm em đã nghiên cứu tìm hiểu để đi đến làm rõ đề tài:

“Phân tích bản chất và các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa Liên hệ với thực tiễn Việt Nam.” Đây là một vấn đề mới mẻ và đòi hỏi những hiểu biết sâu sắc vậy nên trong quá trình hoàn thành, bài tiểu luận có thể còn có những khiếm khuyết và bất cập không thể tránh khỏi, vậy nhóm chúng em mong được thầy góp ý và giúp đỡ để hoàn thiện đề tài này.

Trang 4

PHẦN 1: BẢN CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐỊA TÔ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

1.1 Khái quát về địa tô tư bản chủ nghĩa

Khi bàn về các vấn đề xoay quanh quyền sở hữu ruộng đất, C.Mác nêu ra những giả định

và nhấn mạnh rằng : “Vấn đề đặt ra là phải giải thích rõ cái giá trị kinh tế của độc quyền ấy, nghĩa là sử dụng cái độc quyền ấy trên cơ sở sản xuất tư bản chủ nghĩa Quyền lực về mặt pháp

lý của những người đó cho phép họ được sử dụng và lạm dụng”, “Việc sử dụng quyền lực đó hoàn toàn phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế độc lập với ý chí của họ” Bên cạnh đó, C.Mác cũng chỉ ra nguồn cội của quyền sở hữu ruộng đất có là do đâu : : “Cũng như mỗi người sở hữu hàng hóa đều có thể sử dụng hàng hóa của họ; và cái quan niệm ấy – cái quan niệm pháp lý về quyền tự do tư hữu ruộng đất – trong thế giới cổ đại chỉ xuất hiện vào thời kỳ tan rã của trật tự

xã hội hữu cơ, và trong thế giới cận đại, chỉ xuất hiện cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Ở Châu Á, quan niệm pháp lý ấy chỉ do người châu Âu du nhập vào một số nơi nào đó thôi”

So với các lĩnh vực khác như là lĩnh vực công nghiệp và thương nghiệp, chúng ta có thể thấy được quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp xuất hiện muộn hơn và được hình thành theo hai con đường điển hình như là : Chuyển dần nền nông nghiệp phong kiến sang kinh doanh theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa; theo đó chính phủ xã xóa bỏ chế độ canh tác ruộng đất theo kiểu phong kiến và phát triển chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp Trong giai cấp tư bản chủ nghĩa, quan hệ đất đai gắn liền với quan hệ giai cấp trong xã hội

Trong nền nông nghiệp hàng hóa đã bị phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối phải nói tới ba tầng lớp : Tư bản kinh doanh nông nghiệp; địa chủ sở hữu ruộng đất và công nhân nông nghiệp làm thuê Qua đó chúng ta cũng nghiên cứu toàn bộ quan hệ đất đai trong nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa đang vận động liên tục không ngừng nghỉ “Vấn đề ở đây là phải nghiên cứu các quan hệ sản xuất và quan hệ trao đổi nhất định do việc đầu tư tư bản vào nông nghiệp đẻ ra” (C.Mác) Vậy cho nên vấn đề chính của chúng ta là nghiên cứu về địa tô chênh lệch, nhất là địa tô chênh lệch II, là địa tô mà mọi địa chủ thu về trên những mảnh ruộng được thâm canh

1.2 Bản chất địa tô tư bản chủ nghĩa

Do có sự phân hoá của các tiểu nông dân, tầng lớp giàu có kinh doanh nông nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản hình thành Cùng với việc đó, quá trình cải tạo nông nghiệp đã đẩy mạnh, quan

hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời

Trang 5

Ở lĩnh vực sản xuất nông nghiệp thời kỳ tư bản chủ nghĩa, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có hai chế độ độc quyền:

Trước hết, kinh tế địa chủ về cơ bản được duy trì, qua từng bước cải tạo đã chuyển sang hoạt động tư bản chủ nghĩa, tức là sử dụng lao động làm thuê (như Đức, Nhật Bản, ) Đây là một hình thức kinh doanh đất đai

Hai là, thông qua cách mạng dân chủ tư sản, xóa bỏ chế độ kinh tế địa chủ phong kiến, giải phóng nông nghiệp khỏi ách nô lệ, hình thành và phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa (như Mỹ, Anh, Pháp ) Đây được gọi là một hình thức sở hữu đất đai

Dù thuộc chế độ nào, trong xã hội tư bản vẫn tồn tại mối quan hệ giữa ba giai cấp với ruộng đất: địa chủ (độc quyền sở hữu ruộng đất), tư bản kinh doanh nông nghiệp (độc quyền buôn bán ruộng đất) và giai cấp công nhân nông nghiệp

Dựa trên cơ sở độc quyền sở hữu ruộng đất, phản ánh mối quan hệ giữa người với người với ruộng đất, phạm trù địa tô ra đời Trong thời kỳ xã hội phong kiến, địa tô tồn tại, nhưng sự bóc lột xảy ra giữa địa chủ, nông nô và tá điền Trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, nông nghiệp biến thành một ngành kinh doanh; do độc quyền vẫn còn, các nhà tư bản kinh doanh nông

nghiệp phải thuê đất của địa chủ và thuê công nhân để thực hiện quá trình sản xuất Tức là địa chủ là người sở hữu ruộng đất nhưng không trực tiếp sản xuất mà cho thuê ruộng đất, nhà tư bản thuê ruộng đất của địa chủ và hoạt động theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa; những công nhân nông nghiệp được các nhà tư bản thuê trên thực tế canh tác trên đất mà không có thu nhập mà còn bị giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản cùng bóc lột Một phần thu nhập của các nhà kinh doanh tư bản có một phần sẽ là giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất của công nhân nông nghiệp, gọi là lợi nhuận siêu ngạch, sẽ trả cho địa chủ dưới hình thức địa tô

Có thể thấy, địa tô tư bản chủ nghĩa thực chất là hình thức biến đổi của giá trị thặng dư, là phần lợi nhuận siêu ngạch mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp trả cho địa chủ, người sở hữu ruộng đất khi đã trừ đi phần lợi nhuận bình quân

1.3 Các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa

1.3.1 Địa tô chênh lệch

Địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận thu được trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi (đất đai màu mỡ hơn, gần chợ hơn, gần đường giao thông hơn, hoặc đất đai được đầu tư sử dụng

để thâm canh nông nghiệp) Đó là sự khác biệt giữa giá sản xuất chung (được xác định bởi điều kiện sản xuất nông nghiệp tồi tệ nhất) và giá sản xuất cá nhân

Định lượng: Địa tô chênh lệch = Giá cả sản xuất chung - Giá cả sản xuất cá biệt

Tại sao giá cả sản xuất nói chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất tồi tệ nhất trên ruộng đất: Trong công nghiệp, giá cả sản xuất được quyết định bởi điều kiện sản xuất trung bình,

Trang 6

trong khi trong nông nghiệp, giá cả của một sản phẩm nếu sản xuất ra cũng được quy định trên ruộng đất nếu điều kiện sản xuất Nói chung đất xấu thì không ai canh tác, nông sản không đủ đáp ứng nhu cầu của xã hội

Thực chất của địa tô chênh lệch là lợi nhuận vượt mức Nguồn gốc của nó là một phần giá trị thặng dư do lao động làm thuê trong nông nghiệp tạo ra

Nông nghiệp, giống như công nghiệp, có lợi nhuận vượt trội, Nhưng trong công nghiệp, do cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận vượt trội không tồn tại một cách ổn định trong một hãng cố định Ngược lại, trong nông nghiệp, luôn luôn có sự vượt trội về lợi nhuận Những điều kiện thuận lợi này là do:

Thứ nhất, về nông nghiệp, đất canh tác là tư liệu sản xuất chính, nhưng ruộng đất có hạn lại bị độc quyền, con người không thể tạo điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn Thứ hai, nông sản là sản phẩm không thể thiếu đối với đời sống con người và xã hội Do đó, để đáp ứng nhu cầu về nông sản, con người không chỉ phải làm việc trên đất tốt hoặc trung bình, mà cả trên đất nghèo dinh dưỡng hoặc nghèo dinh dưỡng Do đó, giá thị trường của nông sản được quyết định bởi giá sản xuất ở những nơi có điều kiện kém, để đảm bảo rằng các giao dịch tư bản trên đất kém chất lượng cũng có thể thu được lợi nhuận trung bình Vào thời điểm đó, các nhà tư bản kinh doanh trên những vùng đất tốt kiếm được trung bình nhiều hơn lợi nhuận trung bình khi bán sản phẩm của họ với giá sản xuất bình thường Lợi nhuận thặng dư này được chuyển thành tiền thuê, được gọi là tiền thuê chênh lệch

Nói chung, địa tô chênh lệch có liên quan đến sự độc quyền quản lý đất đai của chủ nghĩa tư bản Xét từ góc độ cơ sở hình thành của lợi tức vượt mức và sự chuyển hóa của lợi tức vượt mức thành địa tô, địa tô chênh lệch được chia thành địa tô chênh lệch cấp một và địa tô chênh lệch cấp hai:

a Địa tô chênh lệch I

Địa tô chênh lệch I có liên quan đến các hạng đất khác nhau và các vị trí ruộng khác nhau đất Kinh doanh trên những mảnh đất có năng lực sản xuất tốt, vị trí đắc địa, nhà tư bản sẽ tiết kiệm được phần lớn chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuyển Và khi hàng hóa được bán với giá như nhau thì những nhà tư bản đó tất nhiên sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn so với những người phải sản xuất trên những mảnh đất cách xa thị trường, dẫn đến địa tô chênh lệch I Địa tô chênh lệch I

là địa tô chênh lệch thu được trên đất đai với một mức độ nhất định Độ phì tự nhiên từ trung bình đến cao, nằm gần chợ hoặc gần đường giao thông

Ví dụ: Giả sử có ba mảnh ruộng tương ứng với ba mức sinh khác nhau: tốt, trung bình và xấu Vốn đầu tư vào mảnh đất này bằng nhau, cả ba đều là 100, và lợi tức trung bình là 20% Tuy nhiên, năng suất của ba mảnh đất sẽ khác nhau do sự khác biệt về độ phì nhiêu của đất Cụ thể: ô tốt đạt 6 tạ, ô trung bình 5 tạ, ô xấu 4 tạ Ta có bảng như sau:

Trang 7

Loại ruộng TB

đầu

p Sản lượng

( tạ) Giá cả sx cá biệt Giá cả sx chung Địa tô chênh

lệch Tổng

SP

1 tạ 1 tạ Tổng

SP

Tốt 100 20 6 120 20 30 180 60

Trung bình 100 20 5 120 24 30 150 30

Xấu 100 20 4 120 30 30 120 0

b Địa tô chênh lệch II

Địa tô chênh lệch (II) là địa tô chênh lệch thu được do thâm canh

Thâm canh là đầu tư thêm trên một đơn vị diện tích đất để nâng cao chất lượng đất canh tác, tăng độ phì nhiêu của đất, tăng năng suất trên một đơn vị diện tích Trong thời hạn hợp đồng, các nhà tư bản bỏ túi phần lợi tức vượt trội, nhưng khi hết thời hạn hợp đồng, địa chủ sẽ tìm cách tăng địa tô để thu lợi tức vượt mức, tức là chuyển phần lợi nhuận dôi ra thành địa tô chênh lệch

Do đó, địa chủ chỉ muốn cho thuê đất trong một thời gian ngắn, còn các nhà tư bản không muốn đầu tư nhiều tiền vào việc cải tạo vì mất nhiều thời gian để thu hồi vốn Vì vậy, khi các nhà tư bản kinh doanh thuê đất, họ ra sức lợi dụng sự màu mỡ của đất đai để thu được số lợi nhuận lớn

Vì vậy, trong điều kiện của nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa, độ màu mỡ của đất đai ngày càng giảm đi

Địa tô chênh lệch I Địa tô chênh lệch 2

Gắn với quảng canh Gắn với thâm canh

Thuộc về địa chủ Thuộc về TB kinh doanh nông nghiệp

Thu được dựa vào các yếu tố tự nhiên Thu được dựa vào các yếu tố tự nhiên + các

yếu tố kinh tế

Ý nghĩa phương pháp luận: Để khuyến khích sản xuất nông nghiệp nhà nước cần:

Giảm, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong nhiều lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, khuyến khích sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, hạn chế bỏ hoang, đồng thời các tổ chức, gia đình,

cá nhân cần tính toán hiệu quả sử dụng đất Sử dụng đất để có thu nhập tốt hơn Qua đó thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn

Nhà nước không cấp quyền sử dụng đất canh tác cho nông dân ở một số vùng sản xuất nông nghiệp để chống thoái hóa đất

Trang 8

1.3.2 Địa tô tuyệt đối

Ngoài địa tô chênh lệch, địa tô độc quyền cũng là một bộ phận quan trọng của địa tô tư bản chủ nghĩa Địa tô độc quyền là địa tô mà tất cả các nhà tư bản nông nghiệp và những người sử dụng ruộng đất phải nộp cho địa chủ, không phân biệt ruộng đất tốt hay xấu, xa hay gần Đây là loại địa tô được tính trên mọi loại đất, kể cả loại đất xấu nhất Là tỷ suất lợi nhuận vượt quá mức lợi nhuận bình quân hình thành do chênh lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản xuất chung của nông phẩm

Ví dụ: Tư bản đầu tư trong nông nghiệp và công nghiệp là ngang nhau, đều là 100; cấu tạo hữu

cơ của tư bản trong nông nghiệp là 60c + 40v (3/2), cấu tạo hữu cơ tư bản trong công nghiệp là 80c + 20v (4/1) Giả sử tỷ suất giá trị thặng dư của cả nông 9 nghiệp và công nghiệp đều là 100% thì giá trị sản phẩm và giá trị thặng dư được sản xuất ra ở từng lĩnh vực là:

Trong nông nghiệp: 60c + 40v + 40m = 140

Trong công nghiệp: 80c + 20v + 20m = 120

Trong đó

c: tư liệu sản xuất

v: sức lao động

m: giá trị thặng dư

Giá trị thặng dư dôi ra trong nông nghiệp so với công nghiệp là lợi nhuận siêu ngạch, và lợi nhuận siêu ngạch này không bị bình quân hóa mà chuyển thành địa tô tuyệt đối bằng: 140 – 120

= 20

Nguồn gốc của địa tô tuyệt đối thực chất là một bộ phận của giá trị thặng dư do các sức lao động không công của người làm thuê tạo nên dựa trên cơ sở là cấu tạo hữu cơ của đất trong nông nghiệp thường thấp hơn trong công nghiệp, nó là phần khác biệt giữa giá trị sản phẩm trong nông nghiệp và giá cả sản xuất chung Địa tô tuyệt đối chính là thể hiện vai trò của đất đai trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh Nếu đất đai tham gia vào hoạt động sản xuất và tạo nên giá trị kinh tế càng lớn thì địa tô tuyệt đối càng cao Phần địa tô này không thuộc quyền sở hữu của người sử dụng đất đai

Điều kiện để địa tô tuyệt đối ra đời là từ sự độc quyền tư hữu ruộng đất của địa chủ trong nông nghiệp tư bản chủ nghĩa Và có thể tồn tại thì dựa vào cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thường thấp trong công nghiệp, giá trị kinh tế lẫn kỹ thuật được áp dụng trong nông nghiệp đều thường lạc hậu, lỗi thời hơn so với công nghiệp nên nếu trình độ bóc lột ngang nhau, một lượng tư bản ứng ra bằng nhau và tỷ suất giá trị thặng dư như nhau thì lượng giá trị thặng dư được tạo ra trong nông nghiệp bao giờ cũng cao hơn trong công nghiệp Chế độ độc quyền tư hữu về ruộng đất đã làm cản trở sự phát triển của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong lĩnh vực nông 10 nghiệp, hay nói cách khác chính là cản trở quá trình cạnh tranh của nông nghiệp,

Trang 9

làm hạn chế quá trình tự do di chuyển tư bản từ các ngành khác vào nông nghiệp, từ đó ngăn cản quá trình bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận giữa nông nghiệp và các ngành khác Vì thế trong nông nghiệp tư bản chủ nghĩa, nông sản được bán ra theo giá trị chứ không phải giá cả sản xuất chung, giá trị của nông sản cao hơn giá cả sản xuất chung Phần chênh lệch giữa giá trị sản phẩm trong nông nghiệp so với giá cả sản xuất chung, cũng là phần chênh lệch giữa giá trị thặng dư tạo ra trong nông nghiệp và lợi nhuận bình quân, được gọi là lợi nhuận siêu ngạch, chuyển thành địa tô tuyệt đối và cuối cùng được nộp lại cho địa chủ

Tóm lại, địa tô tuyệt đối luôn gắn liền với độc quyền sở hữu ruộng đất Chính độc quyền sở hữu ruộng đất đã làm cho lợi nhuận thực hình thành trong nông nghiệp không bị bóp méo, không

bị phân chia đi và phải chuyển hoá thành địa tô

1.3.3 Địa tô độc quyền

Địa tô độc quyền là một trong những hình thức đặc biệt của địa tô tư bản chủ nghĩa, là phần lợi nhuận siêu ngạch làm cho thu nhập tăng thêm khi giá cả của hàng hóa vượt qua giá trị của hàng hóa khi được sản xuất trong một điều kiện đặc biệt có lợi và là một phần giá trị thặng dư do lao động làm thuê ăn lương trên mảnh đất của địa chủ tạo ra

Địa tô độc quyền được hình thành khi bán bán hàng theo giá cả độc quyền vượt quá giá trị của hàng hóa đó Địa tô độc quyền xuất hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: nông nghiệp, công nghiệp khai thác và trong lĩnh vực xây dựng đặc biệt là trong các khu đất ở thành phố Trong nông nghiệp, địa tô độc quyền xuất hiện trên các mảnh đất có tính chất đặc biệt có thể sản suất tạo ra những loại sản phẩm đặc sản, quý hiếm, số lượng giới hạn hoặc những sản phẩm đặc biệt có thể mang đến nhu cầu cao hơn khả năng có sẵn

Trong công nghiệp khai thác, địa tô độc quyền xuất hiện ở các vùng khai thác ra những kim loại quý hiếm như vàng, bạc … , những mỏ khoáng sản khan hiếm có nhu cầu khai thác vượt qua khả năng khai thác của chúng như than, dầu mỏ… có giá cả thị trường cao hơn giá cả của chúng Trên những mảnh đất này các nhà tư bản muốn thuê đất thì phải trả một khoản tiền lớn cho địa chủ (gồm có địa tô tuyệt đối, địa tô chênh lệch và địa tô độc quyền )

Trong lĩnh vực xây dựng đặc biệt là trong các khu đất ở thành phố, địa tô độc quyền xuất hiện trong việc xây dựng trung tâm thương mại, dịch vụ lớn, các tòa nhà buôn bán hoặc cho thuê mang lại lợi nhuận cao được biểu hiện dưới hình thức là những khoản tiền được trả những khoản tiền được trả rất lớn

1.3.4 So sánh địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối

Giống nhau:

+Đều mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho địa chủ

+Đều là hình thức của địa tô tư bản chủ nghĩa là phần thặng dư sau khi đã trừ đi phần lợi nhuận mà các nhà tư bản kinh doanh phải trả cho địa chủ

Trang 10

Khác nhau:

+Địa tô chênh lệch: Là phần địa tô mà địa chủ thu được trên những mảnh đát màu mỡ thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp hoặc là trên những mảnh đất đã được đầu tư, thâm canh

+Địa tô tuyệt đối: Là phần địa tô mà địa chủ thu được trên mảnh đất cho thuê không kể độ màu mỡ tự nhiên thuận lợi hay do thâm canh

Vì vậy khi xóa bỏ được chế độ tư hữu ruộng đất cũng sẽ loại bỏ được hình thức địa tô làm cho giá cả của các sản phẩm nông nghiệp giảm xuống và có lợi cho người tiêu dùng

1.4 Giá cả ruộng đất

Một hình thức địa tô tư bản hóa là giá cả ruộng đất Vì đất đai mang lại địa tô, có thể hiểu là thu nhập bằng tiền ổn định, nó được coi là một loại tư bản đặc biệt, lợi tức của tư bản đó là địa tô chính Vì vậy, giá đất được hiểu một cách đơn giản là giá mua địa tô do ruộng đất mang lại theo

tỷ suất lợi tức hiện hành Nó tỷ lệ thuận với địa tô và tỉ lệ nghịch với lãi suất tiền ngân hàng hàng năm, theo công thức sau:

Địa tô hàng năm

Giá cả đất đai =

Lãi suất gửi tiền ngân hàng/năm

Khi chủ nghĩa tư bản phát triển, lãi suất có xu hướng giảm làm giá đất tăng độc lập với giá địa tô Giá cả địa tô tăng lên khi chủ đất đầu tư nhiều hơn vào đất đai do sự căng thẳng ngày càng tăng giữa cung và cầu đất đai Điều này đã đẩy giá đất lên cao

PHẦN 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM

Ngày nay, khi đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý thuyết về địa

tô này đã được đảng và nhà nước ta vận dụng một cách sáng tạo để xây dựng đất nước giàu mạnh Lý thuyết này là cơ sở khoa học của kiến trúc xây dựng chế độ thuế đối với nông nghiệp

và các ngành khác có liên quan; Đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế nông nghiệp

2.1 Vận dụng trong luật đất đai

Đất đai là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt và là thành phần quan trọng Môi trường sống của con người là khu vực phân bố của các khu dân cư, công trình hạ tầng kinh

tế, văn hóa, xã hội, an sinh xã hội - Ngày nay đất đã có chủ nhân và chịu sự quản lý của nhà nước Nhà nước giao đất, giao rừng cho các tổ chức kinh tế được sử dụng bởi quân đội Bổ sung ngân sách và thực hiện các chính sách phát triển Trong phát triển nông nghiệp hộ gia đình, tá điền phải đóng thuế cho nhà nước Khác xa với địa tô tư bản và phong kiến, loại thuế này tập trung nhiều vào ngân sách 13 lợi ích của mọi người mà không bóc lột bản chất bóc lột của địa tô phong kiến và tư bản nghĩa Trong mỗi chế độ, ruộng đất thuộc các giai cấp khác nhau Ví dụ: Pháp, địa chủ, quý tộc phong kiến Cuối cùng, Mác kết luận: Nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa

Ngày đăng: 09/05/2023, 21:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w