M� Đ�U ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Xà HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ PHƢỢNG NHÂN VẬT NỮ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU ĐỌC THEO LÝ LUẬN VỀ GIỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI, 2013 ĐẠI HỌC QUỐC[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN-
NGUYỄN THỊ PHƢỢNG
HÀ N ỘI, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
Lu ận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã s ố: 60.22.01.21
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Nho Thìn
- HÀ N ỘI, 2013 -
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Với niềm kính trọng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến qúy thầy, cô giáo đã tận tình giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc
trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cám ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài
Nguy ễn Thị Phƣợng
Trang 4M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
4 Mục đích nghiên cứu: 11
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
6 Phương pháp nghiên cứu 12
7 Cấu trúc luận văn 13
N ỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÌM HIỂU NGƯỜI PH Ụ NỮ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU TỪ QUAN ĐIỂM GIỚI14 1.1 Quan điểm giới (gender) 14
1.2 Quan điểm văn hóa về nữ giới ở Việt Nam thời trung đại 18
1.2.1 Quan điểm “tam tòng tứ đức” 18
1.2.2 Quan điểm đề cao trinh tiết 24
1.2.3 Quan điểm kỳ thị nữ sắc: 28
1.3 Nguyễn Du với tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du 31
CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ CH Ữ HÁN CỦA NGUYỄN DU 37
2.1 Hình tượng người phụ nữ đức hạnh 38
2.2 Hình tượng người phụ nữ phản diện 48
2.3 Hình tượng người phụ nữ tài sắc, tài tình 53
2.4 So sánh người phụ nữ trong Thơ chữ Hán với người phụ nữ trong Truy ện Kiều……… 72
2.4.1 Sự khác biệt giữa người phụ nữ trong Thơ chữ Hán và Truyện Kiều 72 2.4.2 Sự tương đồng giữa người phụ nữ trong Thơ chữ Hán và Truyện Kiều 89
Trang 5CHƯƠNG 3: CÁI MỚI CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ
CH Ữ HÁN CỦA NGUYỄN DU TRONG TRÀO LƯU VĂN HỌC MANG TÍNH N Ữ QUYỀN THẾ KỶ XVIII - ĐẦU THẾ KỶ XIX 95
K ẾT LUẬN 121 TÀI LI ỆU THAM KHẢO 123
Trang 6M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học là nhân học Nghiên cứu văn học là môn khoa học về con người thì cần chú ý đến con người với các nhân tố cấu thành khác nhau, trong đó có nhân tố giới (gender) Giới là vấn đề văn hóa xã hội Sự hình thành những chuẩn mực lý tưởng về người nam/ người nữ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố văn hóa xã hội, như kinh tế, đạo đức, tập tục… Lẽ tất yếu, ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi dân tộc lại có quan niệm giới khác nhau
Cách ứng xử, hành động, vị trí và số phận của người phụ nữ trong một thời kỳ, giai đoạn lịch sử đều bị chi phối bởi quan điểm về giới Bên cạnh đó, văn học là nhân học, văn học là tấm gương phản chiếu sống động nhất về đời sống, văn hóa
thực tại Vì vậy, các nhân vật nữ trong một thời đại văn học là sản phẩm tất yếu của cách nhìn về giới trong giai đoạn này Nghiên cứu nhân vật nữ trong một loạt tác
quan điểm của nhà văn, nhà thơ đối với các số phận tính cách cá nhân mà quan
niệm về con người cá nhân được mở ra, mỗi tác giả, mỗi thời đại đều có thêm
những đường nét mới
quyền lợi Nói cách khác, đó là một xã hội nam quyền, người đàn ông có vai trò chủ
chốt, là "lực lượng" nắm quyền và "điều khiển" xã hội Họ có quyền áp đặt chuẩn
mực về cái đẹp, về hành vi, về đạo đức cho người phụ nữ Từ thời kỳ văn học viết, kiểu nhân vật trữ tình cũng như tác giả chủ yếu là những người đàn ông, có đôi ba trường hợp xuất hiện nhân vật phụ nữ, nhưng những nhân vật này lại được nhìn qua lăng kính tư tưởng nam quyền Từ sau thế kỉ XVIII hình tượng người phụ nữ được
xuất hiện với tần suất nhiều hơn và tạo được dấu ấn về sự thay đổi tư tưởng, cách nhìn nhận của nam giới từ thời trung đại
Trang 7Nguyễn Du (1765 - 1820) là một trong những tác giả viết nhiều, thể hiện nhiều
những quan điểm về phụ nữ, về giới so với những tác giả thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX Đại thi hào cũng có những đóng góp lớn về thể loại, và đạt được thành tựu cả
nhân đạo phi Nho giáo Còn văn học chữ Hán thường có tính chính thống cao hơn văn học Nôm Vì vậy nghiên cứu sáng tác của một tác giả phải chú ý đến cả hai
tư tưởng nữ quyền của Nguyễn Du trong truyện thơ Nôm Truyện Kiều Nhưng vấn
đề phụ nữ trong thơ chữ Hán của ông có những đặc trưng gì, có điểm gì khác biệt, tương đồng so với truyện thơ Nôm? Đây hiện vẫn đang là vấn đề cần được nghiên
Nguyễn Du.
giới là chọn một cách tiếp cận mới để luận giải thái độ hay cách nhìn phụ nữ của
Nguyễn Du trong bối cảnh văn hóa nam quyền thời trung đại Luận văn chú ý đến quan điểm của Nguyễn Du, một tác giả nam giới đối với người phụ nữ, tìm hiểu tác
mới, có gì tương đồng, riêng biệt so với các tác giả khác Qua đó để hiểu thêm về
bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội, về quan điểm tư tưởng, cách nhìn nhận của ông đối với xã hội, với giới nói chung và với người phụ nữ nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Truy ện Kiều, Văn chiêu hồn đã có bề dày nghiên cứu với hàng trăm vấn đề được
khai thác để thấy được tinh hoa văn hóa cũng như thành công trong tư tưởng, nghệ
Trang 8mức của các nhà nghiên cứu Hầu hết các nhà nghiên cứu mới chỉ tập trung sưu
tầm, giới thiệu, in lại, dịch mới… thơ chữ Hán của Nguyễn Du
Người có công mở đường cho việc nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du là
Đào Duy Anh Trong bài viết Thi tập của Nguyễn Du trong công trình Khảo luận về
Kim Vân Ki ều, lần đầu tiên vị trí của thơ chữ Hán Nguyễn Du được khẳng định “về hình th ức cũng như về nội dung, thơ chữ Hán Nguyễn Du có thể đề vào hàng với thơ Cao Bá Quát và có thể đem so sánh với thơ Đường" (Sđd tr.207)
Đặc biệt Đào Duy Anh là người đầu tiên khẳng định rằng những sáng tác chữ
Hán này "là ngu ồn tư liệu quí giá đế tìm hiểu cái phẩm cách phức tạp và bi đát" của
Nguyễn Du Có thể nói đây là những ý kiến có giá trị gợi mở cho nhiều nhà nghiên cứu, phê bình ở các giai đoạn sau
Trước hết, phải kể đến các bộ lịch sử văn học mới được biên soạn mà ở đó,
thơ chữ Hán Nguyễn Du đã có được một vị trí xứng đáng Trong cuốn Lược thao
l ịch sử văn học Việt Nam (nhóm Lê Quý Đôn, Nxb Xây đựng, H 1957), Trương
Chinh khẳng định thơ chữ Hán chẳng những "là nguồn tư liệu rất quý để tìm hiểu
tác gi ả Truyện Kiều", mà còn “phải được kể là những tác phẩm bậc nhất trong văn thơ chữ Hán của cha ông ta ngày trước” Theo ông, những sáng tác đó không phải
làm để tiêu khiển thù ứng "mà là thứ thơ chân thành, xuất phát tự tâm can" Ông
m ột ngòi bút hiện thực, điều hiếm gặp trong các thi tập thời xưa"
Xuân Diệu khi viết Con người Nguyễn Du qua thơ chữ Hán (Tạp chí Văn
nghệ số 58, tháng 3 năm 1962) đã nghiêng hẳn về cái nhìn buồn thương, day dứt
c ủa ông là một đau khổ lớn có tính chất đại diện cho nhân loại” Xuân Diệu cũng
đi sâu vào một số bài thơ tiêu biểu như Sở kiến hành; Thái bình mại ca giả, Phản
Trang 9Năm 1965 trong Lời giới thiệu công trình Thơ chữ Hán Nguyễn Du (bản in lại
năm 2012), Trương Chính phân tích một cách cụ thể và sâu sắc nhiều vấn đề Khi bàn về thái độ của Nguyễn Du với các triều đại, Trương Chính đã có nhiều kiến giải riêng Ông không tán thành quan điểm của Đào Duy Anh về vấn đề này và cho rằng tâm trạng u uất của Nguyễn Du không bắt nguồn từ tâm sự người bề tôi phải thờ hai vua Trái lại nó bắt nguồn từ cái nhìn hiện thực của nhà thơ với thời đại mình; từ sự
thất vọng với cái xã hội phong kiến thối nát đương thời Cũng chính nỗi đau đớn thất vọng này đã khiến Nguyễn Du tìm đến những triết lí bi quan, tiêu cực Đây là
những ý kiên rất xác đáng, có giá trị gợi mở cao
Cũng vào tháng 11 năm 1965, Tạp chí Văn học đăng bài viết Tìm hiểu thơ chữ
Hán Nguy ễn Du của Nguyễn Huệ Chi Có thể nói ông là người đầu tiên trực tiếp đặt
"m ột hình ảnh rất động trước mọi biến cố của cuộc đời" Từ đó ông phác họa chân
dung của một con người "mất phương hướng" giữa cuộc đời dâu bể; hoàn toàn bế
tắc trong một giai đoạn '"cực kì thối nát tan rữa” của chế độ phong kiến Trong con người ấy đã luôn xảy ra xung đột giữa "một bên là tư tưởng chính thống một bên
là hi ện thực chói chang, sừng sững" Đặc biệt, ông khẳng định Nguyễn Du "là con người tư tưởng" với bao mâu thuẫn, giằng xé dồn nén trong tâm can Nhưng vượt
dừng lại ở sự thương khóc họ - mà còn khái quát được bản chất của một xã hội: chà đạp lên mọi nhân phẩm tha hóa mọi tính cách làm tan vỡ mọi giá trị cao đẹp
tượng được biếu hiện trực tiếp qua những bài thơ viết về mình và biểu hiện gián tiếp qua các đôi tượng trữ tình
2010) Ở chuyên luận này, tác giả đã bao quát được khá toàn diện chân dung con
Trang 10người Nguyễn Du qua chính cách nhìn của ông ở cả hai phương diện: hướng nội (thơ tự họa) và hướng ngoại (hệ thống nhân vật) Tác giả đã sử dụng tư liệu chính
đó là văn bản thơ chữ Hán làm cơ sở, tiền đề hiểu thêm về chính phong cách thơ cũng như con người Nguyễn Du đặt trong bối cảnh của thời đại
Có thể nói, ở giai đoạn đầu một số tác giả còn khuôn hẹp giá trị của bộ phận sáng tác này vào việc thể hiện tâm sự của Nguyễn Du đối với triều đại phong kiến đương thời Sau đó các nghiên cứu mới tiếp tục khai thác những nội dung cảm xúc sâu xa hơn như niềm trăn trở của nhà thơ trước thân phận con người và cuộc đời
tình cảm, tư tưởng mà Nguyễn Du ký thác trong thơ Lê Thước, Đào Duy Anh khẳng định giá trị của thơ chữ Hán trong việc phản chiếu cuộc đời và tâm sự
Nguy ễn Du; Nguyễn Huệ Chi phát hiện con người tư tưởng và hình tượng tự họa
đặc sắc…; Nguyễn Lộc khẳng định vấn đề trung tâm trong sáng tác chữ Hán của Nguyễn Du là nỗi đau đời… Nhìn chung, khi nghiên cứu tập thơ chữ Hán của
tượng nhân vật nữ trong tập thơ này
các công trình nghiên cứu như: Tìm hiểu về nhân vật lịch sử trong thơ chữ Hán
Nguy ễn Du của Đào Phương Anh, khoa Văn học, hệ tại chức K19, 2005 và So sánh
đề tài thơ chữ Hán của Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến của Nguyễn Thị Hiền, khoa
Văn học, hệ chính quy K51, năm 2010 Tuy nhiên trong hai luận văn này, sự tìm
hiểu nhân vật nữ còn khá sơ lược, chưa mang tính chuyên khảo và chưa vận dụng lý
luận với giới để tìm và hiểu về các nhân vật phụ nữ trong tập thơ
Thơ chữ Hán là tập thơ được khá nhiều các nhà nghiên cứu tập trung khai thác nhưng hầu hết chưa đặt vấn đề nghiên cứu một cách có chiều sâu, mang tính hệ
trong thơ Nguyễn Du nói chung và trong thời đại Nguyễn Du sống chưa được đánh giá và khai thác đúng mức Chính vì thế, luận văn hy vọng góp một phần nhỏ theo
Trang 11hướng nghiên cứu giới của nhân vật nữ để nhìn quan điểm tư tưởng tác giả, thời đại cũng như quan điểm chung của thời đại về giới một cách toàn diện hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng chính trong luận văn của chúng tôi chính là các kiểu nhân vật người
phụ nữ trở thành hình tượng nhân vật chính trong tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du
(Theo Lê Thước - Trương Chính (2012), in lại theo bản 1965, NXB Văn học, H)
Chúng tôi hy vọng rằng, trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của các thế
hệ đi trước và vận dụng phương pháp, cơ sở lý luận hiện đại, luận văn sẽ góp phần
điểm về giới, thái độ quan điểm về thời đại của ông Các nhân vật là phụ nữ nhưng không phải hình tượng nhân vật như người mẹ, người vợ, người con gái hái sen… không thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn
Để có cái nhìn đầy đủ, khách quan hơn, chúng tôi chọn nghiên cứu thêm hình tượng phụ nữ trong một vài tác phẩm văn học Việt Nam trung đại và tư liệu lịch sử,
tư liệu văn hoá để so sánh khi cần thiết Một số tư liệu tiêu biểu là: Truyện Kiều -
Nguyễn Du, Gia huấn ca, Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm,
Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều, Người phụ nữ trong thơ của Hồ Xuân
Hương, Nguyễn Công Trứ…
4 Mục đích nghiên cứu:
Từ việc xác định đối tượng nghiên cứu chính là hình tượng người phụ nữ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du nhìn từ góc nhìn lý luận giới, luận văn làm nổi bật điểm tương đồng cũng như góc nhìn mới của Nguyễn Du so với cái nhìn nam quyền truyền thống mang tinh thần Nho giáo, qua đó mà xác định bản chất chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn của Nguyễn Du
Trên cơ sở đó luận văn chỉ ra những biểu hiện của tư tưởng nữ quyền, biểu
hiện rõ rệt của tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa của Nguyễn Du, điểm khác biệt và nhất quán trong hành trình sáng tác của Nguyễn Du, từ thơ chữ Hán đến thơ Nôm
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 12Luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài như: khái
niệm giới; khái niệm giới tính, quan điểm văn hóa về nữ giới ở Việt Nam thời trung đại; nữ giới trong văn học viết Việt Nam thời kì trung đại; tư tưởng nhân đạo cũng như đặc điểm văn hóa, xã hội thời kỳ trung đại qua sáng tác của Nguyễn Du
Phân loại, phân tích, cắt nghĩa các hình tượng phụ nữ trong Thơ chữ Hán
Nguy ễn Du từ góc nhìn giới gồm người phụ nữ chính diện lý tưởng và người phụ nữ
các nhân vật này Theo quan niệm Nho gia, cái đẹp gắn liền với phạm trù đạo đức,
đó được xem như những người phụ nữ tiết hạnh, trinh liệt, có thể lấy cái chết để minh chứng hay bảo vệ cho quan niệm này Ngược lại, những yếu tố thiên về đời
sống bản năng tự nhiên, không phù hợp chuẩn mực được đặt ra sẽ bị coi là xấu, tầm thường Đó là những người phụ nữ có lối sống tự do, nhất là tự do yêu đương, tình yêu mang đậm nét yếu tố thân xác Qua hình tượng người phụ nữ nhìn từ góc độ
cho người phụ nữ
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận văn hóa học:
Để nhìn nhận bất kỳ vấn đề, khía cạnh nào trong một tác phẩm văn học một cách toàn diện thì việc cần thiết là đặt tác phẩm trong bối cảnh văn hóa, xã hội của tác phẩm đó khi ra đời Bởi điều hiển nhiên, một tác phẩm văn học sinh ra trong
một thời kỳ nhất định ít nhiều bị chi phối bởi hệ tư tưởng, quan điểm của chính thời đại đó
Văn học trung đại Việt Nam là “cuốn từ điển” phản ánh sâu sắc đời sống văn hóa, xã hội cũng như cách nhìn nhận của con người trong thời kỳ này Giai đoạn từ đầu thế kỷ XVII cuối thế kỷ XVIII, xã hội Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, hệ tư tưởng vững chắc của xã hội Trung Hoa Không thể phủ nhận, Nho giáo đã tạo nên hệ thống xã hội có tôn ti, trật tự, hệ thống xã hội được sắp xếp
Trang 13theo những quan điểm, chuẩn mực nhất định Cũng chính vì hệ tư tưởng Nho giáo
có ảnh hưởng lớn từ đời sống đến văn học, đã khiến cho thân phận người phụ nữ từ thực tế đến trong văn học có số phận khá “thiệt thòi” và xuất hiện nhiều bi kịch Quan điểm văn hóa này cũng sẽ giúp chúng tôi hiểu đúng đắn về cách xây dựng
Phương pháp hệ thống, tổng hợp:
T ập thơ chữ Hán Nguyễn Du đã được tổng hợp khá đầy đủ, gồm 250 bài thơ
với nhiều chủ đề khác nhau Mỗi phần trong tập thơ đều được tác giả thể hiện vấn
đề thực tại cuộc sống đến những tâm sự về thời thế qua nhiều chủ đề như thiên nhiên, đất nước, qua những câu chuyện về người anh hùng, người kĩ nữ… Chính vì vậy, để có cách nhìn vấn đề người phụ nữ ở góc độ giới một cách toàn diện và sâu
cách đầy đủ và nhiều chiều
Phương pháp so sánh:
Để thấy được các mối liên hệ đa dạng, đa chiều cũng như nét chung, nét riêng
độc đáo của nhân vật nữ trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du, luận văn sử dụng phương
pháp so sánh Chúng tôi dự kiến sẽ so sánh người phu nữ trong Thơ chữ Hán
Nguy ễn Du với nhân vật nữ trong Truyện Kiều Bên cạnh đó, chúng tôi còn so sánh
với cách nhìn nhận vị trí, số phận của các hệ thống nhân vật nữ trong các tác phẩm
văn đưa ra những quan điểm khách quan, toàn diện về tư tưởng tiến bộ của đại thi hào Nguyễn Du
7 Cấu trúc luận văn
thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tìm hiểu người phụ nữ trong thơ
ch ữ Hán của Nguyễn Du từ quan điểm giới
Chương 2: Hình tượng nhân vật người phụ nữ trong thơ chữ Hán của Nguyễn
Du
Trang 14Chương 3: Cái mới của hình tượng người phụ nữ trong thơ chữ Hán của Nguy ễn Du trong trào lưu văn học mang tính nữ quyền thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX
N ỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
VI ỆC TÌM HIỂU NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN
DU T Ừ QUAN ĐIỂM GIỚI
1.1 Quan điểm giới (gender)
Khái niệm thuật ngữ Giới cùng những công trình nghiên cứu dựa trên lý thuyết về giới đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây Không chỉ trong thực
tế xã hội mà trong văn học, các nhà nghiên cứu đều vận dụng những quan điểm về
giới làm tiền đề cho những công trình của mình Trong luận văn Nhân vật nữ trong
thơ chữ Hán Nguyễn Du đọc theo lý luận về giới, chúng tôi muốn tìm và hiểu rõ
khái niệm giới, bởi đó là cơ sở để khai thác tác phẩm, chuỗi tác phẩm, tìm ra những thành công và hạn chế của tác giả trong một giai đoạn văn học nhất định
Theo David Glover và Cora Kapla, thuật ngữ Gender xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1963 trong Sex in Society (Sex trong xã hội) của Alex Comfort – một
nghiên cứu thuộc về tình dục học (sexology), nhưng thuật ngữ này chỉ thật sự nhận
được sự quan tâm đặc biệt với công trình Sex and Gender: On the Development of
Masculinity and Femininity (1968) (Giới và giới tính: về sự phát triển của nam tính
sách, Gender bắt đầu được nhìn nhận trong sự khu biệt với sex Với Stoller, sex thuộc về sinh vật học còn gender thuộc phạm vi của tâm lí học Hai năm sau, Kate Millett viết lại luận điểm của Stoller Sex thuộc về sinh vật học, gender thuộc về tâm
lí h ọc, và vì thế thuộc về văn hóa Chính nét nghĩa cuối cùng đã tạo ra sự đối lập
Trang 15giữa sex và gender như là sự đối lập giữa tự nhiên và văn hóa Bắt đầu từ đây,
những nghiên cứu về gender có được sự quan tâm đặc biệt bởi lẽ nó là một đầu mối quan trọng để kiến tạo nên phạm trù chủ thể (subject) – một phạm trù luôn ám ảnh trong những suy tư triết học về con người
Theo quan điểm của Hoàng Bá Thịnh trong bài Tiểu luận xã hội học về giới thì
Gi ới được hiểu như sau: Khái niệm giới không chỉ đề cập đến nam và nữ mà cả mối quan h ệ giữa nam và nữ Trong mối quan hệ này có sự phân biệt vai trò, trách nhi ệm, hành vi xã hội mong đợi và quy định cho mỗi giới, phù hợp với những đặc điểm văn hoá, chính trị, kinh tế và tôn giáo Nó luôn biến đổi theo thời gian và có
s ự khác biệt theo không gian; vì thế nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và
có khác bi ệt giữa các cộng đồng, xã hội” [78, tr.54]
điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội Khác với giới tính là các đặc điểm sinh ra đã có, các đặc điểm giới của nam và nữ được hình thành và phát tr ỉnh trong quá trình lớn lên của mỗi cá nhân do sự tương tác của các nhân v ới mội trường xã hội (gia đình, nhà trường, thông tin đại chúng ) Các đặc điểm này được xây dựng do sự phối hợp giữa yếu tốc khách quan là sự mong đợi của xã hội đối với người nữ hay nam và yếu tố chủ quan là cách mà người nữ hay nam đó muốn xã hội nhìn nhận họ Chính vì thế, trong khi các đặc điểm giới tính r ất ít thay đổi thì các đặc điểm về giới lại rất đa dạng tùy thuộc vào điều kiện địa lý, thể chế, xã hội, lịch sử
Qua việc liệt kê một số quan điểm về giới, chúng ta có thể hiểu Giới là một
thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những đòi hỏi, yêu cầu đối với nam và nữ Nó là sản phẩm của xã hội, văn hóa Giới là những đặc điểm mà xã
người nữ, là những đặc trưng xã hội ở nam và nữ Giới thường bao gồm nhiều vấn
đề như: vai trò, vị trí của mỗi giới, đặc điểm và nhiệm vụ của mỗi giới trong xã
Trang 16hội… Những vấn đề này thường do xã hội quy định và biến đổi theo từng giai đoạn
lịch sử, từng quốc gia, tuỳ theo truyền thống, phong tục tập quán của mỗi dân tộc… Tuy nhiên, một thực tế còn tồn tại trong cách hiểu của các công trình nghiên
cứu, Giới (Gender) lại thường bị dùng lẫn lộn với Giới tính (sex) Giới tính chỉ nhấn
mạnh đến tính (nam/ nữ) thì Giới nhấn mạnh sự phân biệt nam, nữ trên phương diện
hệ gia đình, quan hệ nam nữ Văn hóa là đa dạng trong không gian và biến đổi không ngừng trong thời gian nên một khi thừa nhận gender là một kiến tạo văn hóa
thì chúng ta tất yếu phải chấp nhận một thực tế: không có một quan niệm duy nhất, phổ quát cho cái gọi là nam tính (masculinity) hay nữ tính (femininity) Nam tính
và ngay trong một nền văn hóa thì nam tính và nữ tính cũng luôn biến đổi từ thời kì này sang thời kì khác
Nữ tính chủ yếu tồn tại trong không gian của gia đình, nam tính chủ yếu được
nhận vai trò vượt trội và thống trị của nam giới với nữ giới Những quy phạm về nữ tính và nam tính, vì thế, không phải là một tồn tại có tính chất tự nhiên mà là sản
cho giới tính nữ trong một nền văn hóa của một giai đoạn lịch sử nào đó Theo quan điểm về giới trong nhiều lĩnh vực khoa học xã hội, nữ tính thường được gắn với sự tái sản sinh ra sự sống và những phẩm chất thuộc về sự chăm sóc, nuôi dưỡng
khác, đặc biệt là quan hệ chủng tộc trong thời kì bành trướng của phương Tây trên
phạm vi toàn thế giới Những nghiên cứu của E Said trong Đông phương học
Trang 17nam tính (phiêu lưu, chinh phục và chủ động) Ở cấp độ này, quan hệ về giới tính đã
trở thành một công cụ văn hóa để biểu đạt những tương quan quyền lực
Trước đây, nhân vật nam, nữ thường chỉ được nhìn theo quan điểm giai cấp:
áp bức hay bị áp bức; theo quan điểm đạo đức: đáng khen hay đáng chê thì với điểm nhìn giới, chúng ta thấy thêm những phương diện khác của nhân vật Bởi từ góc độ
quyền, những tiêu chuẩn để xã hội đánh giá nữ giới bị quy chiếu từ điểm nhìn của người đàn ông Đó là những tiêu chuẩn kép có lợi cho đàn ông nhưng bất công, bất
cầu thì được đánh giá là chính diện lý tưởng còn người phụ nữ vượt ra ngoài khuôn phép sẽ bị coi là phản diện
Trong triết học Trung Hoa, nữ tính là âm trong cặp âm, dương Nhiều nhà
nhưng về sau chúng không có hàm nghĩa cố định nữa Chúng được xem là cách để
đồng nhất với tự nhiên và đàn bà – các nguyên lý được đánh giá cao hơn là dương, văn hóa và nam tính Trái lại, trong Nho giáo chính thống, âm và dương lại liên quan tới các mối quan hệ mang tính tôn ti của con người và quan hệ quyền lực giữa
những gì mang tính âm và tính dương lại bị đảo ngược Người vợ bị coi là thấp kém hơn người chồng, như là âm so với dương Ngay cả một bề tôi hoặc một ông quan nhà nho cũng được xem là âm trong mối tương quan với tính dương của vua chúa,
và điều đó vẫn đúng ngay cả khi cả hai người trong mối quan hệ cặp đôi này đều là đàn ông Âm và dương thể hiện những mối quan hệ có tính tôn ty, phụ thuộc lẫn nhau không nhất thiết là giữa đàn ông và đàn bà, mặc dù những gì thuộc dương thường có đặc trưng là thường gắn với những nguyên lý của đàn ông và âm thì gắn
giá trị “nhất thành bất biến” mà có tính lịch sử, tính khu vực Chúng vừa là những
Trang 18qui ước xã hội về giới áp đặt lên cá nhân từ bên ngoài vừa là ý thức và cách ứng xử theo giới của chính họ
Trong nghiên cứu văn học, nghiên cứu giới để tìm hiểu các kiểu hình tượng
giới để thấy được quan niệm trinh tiết nghiệt ngã của Nho giáo đã trói buộc nàng
hiểu được một cách toàn diện những nguyên nhân dẫn đến bất hạnh của Kiều, từ nguyên nhân xã hội đến nguyên nhân thuộc về quan niệm giới
nam tính và nữ tính) sẽ phần nào giúp luận văn tìm hiểu, khai thác triệt để cách nhìn
tượng nhân vật nữ trong Tập thơ chữ Hán Nguyễn Du Từ quan điểm về Giới, luận
văn sẽ có thêm cơ sở phân tích, khái quát được những đặc trưng về người nữ, cách nhìn nhận của người nam đối với người nữ trong một bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã
với tư cách là một người nam, có cách nhìn mới mẻ và nhân văn đối với cách hành
xử, số phận, cuộc đời của người nữ trong xã hội Đó cũng chính là cách để đánh giá cũng như hiểu hơn về tư tưởng, quan điểm nhân văn, chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc và
tiến bộ của đại thi hào Nguyễn Du
1.2 Quan điểm văn hóa về nữ giới ở Việt Nam thời trung đại
1.2.1 Quan điểm “tam tòng tứ đức”
nhân h ọc Nói văn hóa học thực ra là phải nói đến con người Bất kỳ tác phẩm văn
h ọc nào cũng thể hiện con người và hoạt động của nó trong không gian và thời gian xác định Con người trong văn học mỗi thời kỳ lịch sử lại có một diện mạo riêng
ch ịu sự quy định của quan niệm về con người lý tưởng trong thời đại ấy" [73,
tr.17] Tác phẩm văn học không chỉ phản ánh tư tưởng, quan điểm của tác giả trong
Trang 19thời đại của mình mà còn thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người,
những quy định, quy tắc, luật lệ giữa con người với nhau trong xã hội ấy
Nghiên cứu về lịch sử vấn đề phụ nữ ở Trung Quốc, Tani Barlow nhận thấy, trong xã hội Trung Quốc truyền thống không có một từ chỉ khái niệm phụ nữ (woman) nói chung mà chỉ có các từ biểu thị những vai giới tính của một người phụ
nữ ở những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời của họ: là con gái khi ở gia đình – là
những ảnh hưởng sâu đậm từ Nho giáo Những vai giới tính của người phụ nữ nói trên là hoàn toàn tương ứng với nguyên lí tam cương (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) Tình hình cũng tương tự như thế ở Việt Nam, ít nhất từ thế kỉ thứ X và ngày càng trở nên đậm nét dưới ảnh hưởng kéo dài của Nho giáo trong
lịch sử Lẽ đương nhiên là có những khác biệt do môi trường văn hóa tạo ra
và liên tục củng cố cả bằng luật pháp lẫn phong tục, văn hoá và văn chương là địa vị đứng trên của người đàn ông so với người phụ nữ Đối với chồng, họ phải tôn thờ như ông trời của mình Nghĩa vụ của họ là phải sinh được con trai nối dõi và “nâng khăn, sửa túi” cho chồng
Trong văn hoá người Việt, giới có tác động không nhỏ đến sự phân công lao động giữa người phụ nữ và người đàn ông trong gia đình Người đàn ông luôn là người giữ vai trò trụ cột trong gia đình Mọi lĩnh vực có liên quan đến đời sống gia đình như: làm nhà, dạm vợ, gả chồng cho con cái, chăn nuôi, trồng trọt… nhất nhất đều do người đàn ông chủ gia đình quyết định Tư tưởng trọng nam khinh nữ của
cố Phản ánh lại xã hội Việt Nam thời phong kiến, văn học trung đại Việt Nam trong cái nhìn lịch sử, nhất là từ khi hệ thống văn tự được xác lập, phái nam gần như giữ vai trò thống trị tuyệt đối Họ áp đặt các chuẩn mực về cái đẹp, về hành vi, về đức
hạnh cho người phụ nữ, bất công bất lợi cho người phụ nữ và có lợi cho nam giới Văn học trung đại nói chung là nền văn học của nam giới, tác giả của những thành
Trang 20viết ra đều phản ánh quan điểm tư tưởng, cách nhìn nhận vấn đề của chính nam giới hay phản ánh hình tượng của họ Thời kỳ đầu của văn học viết, lực lượng chủ yếu là
tăng lữ, quý tộc và nhà nho (Khương Công Phụ với bài phú hiện còn Bạch Vân
chi ếu xuân hải, nhà sư Đỗ Pháp Thuận với Quốc tộ) cho tới Trần Tế Xương và Tản
Đà hầu hết đều là những thành viên của “giới tính thứ nhất” Do hoàn cảnh lịch sử,
văn hóa xã hội chi phối Do những quy ước và quan niệm bất bình đẳng về giới tồn
tại hơn 8 thế kỷ đã khắc sâu vào đời sống văn hóa tinh thần cũng như trong văn học, khiến người phụ nữ "mặc nhiên" phải phụ thuộc vào đàn ông Họ luôn bị ràng buộc
bởi trách nhiệm trong gia đình và là bộ phận luôn chịu sự thiệt thòi khi so sánh với nam giới về quyền lợi, địa vị xã hội Trong một số tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Dữ, Lê Thánh Tông đã xuất hiện hình tượng người phụ nữ, nhưng họ đều được tạo nên bởi lăng kính thiên kiến của các nhà nho chính thống, đó là những người nam giới, là nhà nho và họ là lực lượng chính chịu sự chi phối của các quy
tắc, quan niệm xã hội
Tư tưởng Tam tòng tứ đức là một trong những tư tưởng nổi bật nhất được du
nên nhiều đau khổ, bất hạnh cho người phụ nữ khi sống trong xã hội bị áp đặt bởi tư
tưởng này Có thể nói, Tam tòng tứ đức trở thành một luật lệ bó buộc cách suy nghĩ,
hành động đến số phận của người phụ nữ, đòi hỏi sự phục tùng của họ đối với đàn ông suốt cuộc đời Đó là tư tưởng thể hiện đậm đặc địa vị thấp hèn, thụ động của
người phụ nữ trong xã hội nam quyền Dường như tư tưởng "tam tòng" đã ăn sâu
vào tiềm thức của toàn xã hội Là quy chuẩn để đánh giá hành xử, đạo đức của người phụ nữ, và cũng là nguyên nhân của những số phận, cuộc đời bi kịch của họ trong xã hội
Khái niệm Tam tòng về cơ bản được hiểu như sau: Tại gia tòng phụ (在家從父): người phụ nữ khi còn ở nhà phải nghe theo cha; Xuất giá tòng phu
chồng qua đời phải theo con trai Câu “Tam tòng” từ sách Lễ Ký, thiên Tang Phục,
Tử hạ truyện, nguyên văn: vị giá tòng phụ, ký giá tòng phu, phu tử tòng tử, chủ
Trang 21trương nam tôn nữ ti (trọng nam khinh nữ) Tam tòng là cái cùm để cùm chân nữ
giới không cho ra ngoài xã hội, chỉ ở trong nhà để phục vụ cha, chồng rồi con, người phụ nữ không có quyền hạn gì trong gia đình Nói về quy định này, Phan Kế
Bính đã đưa ra nhận xét: Quy định tam tòng khiến người phụ nữ khi xuất giá lấy
ch ồng thì hoàn cảnh tốt hay xấu thế nào cũng đã trở thành người nhà chồng, chứ không được nương nhờ ai nữa [7, tr 78] Những gì Phan Kế Bính phát biểu dường
như được xem là điều hiển nhiên tồn tại lâu dài và sâu sắc trong đời sống xã hội và văn chương của nước ta Người phụ nữ không được coi trọng, họ không hề có quyền lợi đối với bản thân cũng như xã hội bởi xã hội phong kiến được “mặc nhiên”
khắt khe, bất công
Phan Khôi trong bài nghiên cứu “Chữ trinh – Cái tiết với cái nết” trên báo Phụ
v ề tiết thì chết chồng mà lấy chồng khác là thất tiết Cái luật nghiêm khắc ấy do lòng tham lam và thói ích k ỷ của bọn đàn ông bày ra, rất là không công bình Trải xem s ử sách, thấy người đời xưa chỉ chuộng cái nết trinh mà không ép người đàn bà
ph ải giữ cái tiết trinh Bên Tàu, từ trước cho đến cuối thế kỷ X, đối với việc đàn bà
c ải giá, xã hội coi là thường, không hề phi nghị Những sự cấm chế vô lý là từ các ông T ống Nho về sau Theo Phan Khôi, quan niệm “tam tòng” có thể được xem là
nhìn, cách nghĩ, cách hành động lệch lạc của cả một xã hội, mà cụ thể là người nam đối với người nữ Cũng theo nhà nghiên cứu này, cái luật nghiêm khắc về tam tòng
tồn tại lâu đời là một “thể chế” vô lý cần được bỏ qua khi nhìn nhận về người phụ nữ
đình và ngoài xã hội, đó là cha, chồng, con trai, đề cao sự phục tùng một chiều, sự chung thủy của họ đối với người đàn ông, thì Tứ đức lại chú trọng vào sự tu dưỡng
như là điều kiện để thực hiện tốt đạo tòng phụ, tòng phu, tòng tử Ngược lại, tam
Trang 22đức cũng có mối quan hệ với nhau, đó là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức,
hạnh là nội dung, công dung ngôn là hình thức Như vậy, Nho giáo đòi hỏi ở người phụ nữ vẻ đẹp toàn diện theo một khuôn mẫu nhất định Sâu xa hơn là đòi hỏi sự toàn tâm, toàn ý, sự hi sinh hết mình đối với nam giới
(婦言) và phụ hạnh (婦行): Công: nữ công, gia chánh phải khéo léo Tuy nhiên các
ngh ề với phụ nữ ngày xưa chủ yếu chỉ là may, vá, thêu, dệt, bếp núc, buôn bán, với người phụ nữ giỏi thì có thêm cầm kỳ thi họa; Dung: dáng người đàn bà phải hòa nhã, g ọn gàng, biết tôn trọng hình thức bản thân; Ngôn: lời ăn tiếng nói khoan thai,
d ịu dàng, mềm mỏng; Hạnh: Tính nết hiền thảo, trong nhà thì nết na, kính trên nhường dưới, chiều chồng thương con, ăn ở tốt với anh em họ nhà chồng Ra ngoài thì nhu mì chín ch ắn, không hợm hĩnh, cay nghiệt [7, tr 77] Bên cạnh những mặt
tích cực, tạo nên vẻ đẹp toàn diện cho người phụ nữ từ tính cách, tâm hồn thì xét cho cùng vẫn mang tính chất "thiên vị" nam giới bởi tứ đức không mang lại quyền
Gia hu ấn ca:
Ph ận làm gái này lời giáo huấn,
L ắng tai nghe cổ truyện mới nên, Hãy xem xưa những bậc dâu hiền, Kiêm t ứ đức: dung, công, ngôn, hạnh
Công là đủ mùi xôi, thức bánh, Nhi ệm nhặt thay đường chỉ mũi kim
Dung là m ặt ngọc trang nghiêm, Không tha thi ết, không chiều lả tả
Ngôn là d ạy trình thưa vâng dạ,
H ạnh là đường ngay thảo kính tin
Xưa nay mấy kẻ dâu hiền, Dung, công, ngôn, h ạnh là tiên phàm trần
Trang 23Đời Hán ở Trung Hoa có Ban Chiêu đã dành tâm huyết cho việc hệ thống hóa
(vâng lời; phục tùng cha, chồng và gia đình chồng; thành thạo nữ công phụ xảo, ăn nói lễ độ cung kính, giữ gìn trinh tiết, sự đúng mực, đoan trang; “dung” thì không
luận rằng đàn ông học hành để có thể hiểu những cơ sở của uy quyền của họ và vận
trong địa hạt gia đình Cuốn Nữ giới của Ban Chiêu có ảnh hưởng rất lớn đối với
quan niệm về nữ tính trong thực tế cũng như văn chương Trung Quốc suốt thời trung đại Trong tứ đức không có khái niệm về sắc đẹp, đối với nhà nho, sắc đẹp phụ nữ là sự cám dỗ nguy hiểm, có thể gây ra những tác động tiêu cực đối với sự nghiệp chính trị, con đường công danh của họ Sắc đẹp, điều mà người phụ nữ ngày
nay đáng tự hào thì đối với Nho gia, là “giặc”, cần tránh xa: Sắc là giặc đam làm
chi (Nguyễn Trãi)
T ứ đức là một trong những quy định kìm hãm phụ nữ trong không gian gia
đình, chuyên tâm cho gia đình, không có điều kiện cũng như thời gian để hoạt động
xã hội Từ ngưỡng cửa trở vào là phạm vi hoạt động của người đàn bà, còn từ ngưỡng cửa trở ra là lãnh địa của người đàn ông Nó cũng góp phần hình thành nên quan niệm về nữ tính của Nho giáo Quan niệm đó được áp đặt vào thực tế khiến cho không gian hoạt động của người phụ nữ và đàn ông bị phân chia rõ rệt Đọc văn, thơ Trung Quốc hay Việt Nam thời trung đại chúng ta dễ thấy một điều là người đàn ông thường hay xuất hiện trong những không gian như nơi triều chính, trên đường, đất khách, ngao du sơn thủy, chiến trường… còn phụ nữ thì chủ yếu chỉ xuất hiện ở
phụ nữ không có khả năng đóng góp cho xã hội mà không có cơ hội, nói cách khác tứ
đức chính là rào cản vững chắc để kìm tỏa họ Chứng minh cho điều này, trong sử
liệu của Việt Nam hầu như không để lại tên tuổi người phụ nữ nào Trong chính trị,
Trang 24chỉ duy nhất Chiêu Thánh công chúa (Lý Chiêu Hoàng) là phụ nữ được phép tham gia vào công việc nhiếp chính Tuy nhiên, Chiêu Hoàng lên ngôi vua cũng chỉ là trường hợp bất đắc dĩ do vua bệnh nặng mà không có con trai nối dõi
Có thể nói, Tam tòng, tứ đức là hai phạm trù cơ bản, là chuẩn mực đạo đức để
xây dựng mẫu người phụ nữ phong kiến của Nho giáo, giữa chúng luôn có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời Điểm chung giữa hai phạm trù này đều là
những quy tắc, lễ nghĩa, chuẩn mực bắt buộc đối với người phụ nữ Cả hai đều được
phụ nữ với mục đích ổn định xã hội, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị và của người đàn ông
Như vậy, theo tiêu chí của nhà nho cũng như quan niệm về tam tòng, tứ đức,
lại không bao giờ được quyền đòi hỏi cho mình Nhu cầu tính dục ở người đàn ông được xem là một nhu cầu bình thường thì với người phụ nữ sẽ là tiêu chí đánh giá đức hạnh, phẩm chất Trong quan niệm của những người có tư tưởng nam quyền, nam giới có thể có từ một đến rất nhiều phụ nữ Ngược lại, người phụ nữ nghĩ đến
đời sống bản năng, hành động theo bản năng lại bị xem thường, khinh bỉ
1.2.2 Quan điểm đề cao trinh tiết
Văn hoá giới là hệ thống những quan niệm giá trị hình thành từ thực tiễn quan
hệ giữa người nam với người nữ về mặt giới tính Xã hội Việt Nam thời trung đại có nhiều yếu tố của xã hội nam quyền, trong đó, các chuẩn mực, quy tắc đạo đức, hành
trong xã hội phong kiến từ quan điểm giai cấp thì có tất cả mọi người dân đều bị thể
chế phong kiến chà đạp Tuy nhiên, nếu nhìn từ quan điểm giới, dễ thấy, so với nam
quyền sống dục tính thân thể, bị gông cùm rất bất công bởi phạm trù trinh tiết
Trinh ti ết được coi là biểu hiện của đạo đức chỉ áp dụng cho người phụ nữ;
còn người đàn ông đối với người phụ nữ được tự do, không bị ràng buộc bởi phạm
Trang 25trù này Không ai khen hay chê người đàn ông vì giữ hay không giữ trinh tiết với
nữ Một nhà nho có thể có hàng chục vợ hay một ông vua có hàng trăm, hàng cung
nữ, nhưng vẫn “vô tư” bàn về trinh tiết phụ nữ, vẫn sẵn sàng làm thơ, viết văn ngợi
ca những người phụ nữ tiết hạnh khả phong Thực tế bất bình đẳng này luôn là phổ
kép về trinh tiết, đòi hỏi khắt khe người phụ nữ phải giữ gìn “cái tiết” nhưng không yêu cầu ngược lại ở đàn ông Trai năm thê bảy thiếp gái chính chuyên một chồng
Xã hội Nho giáo đề cao người liệt nữ, người phụ nữ sẵn sàng hy sinh cuộc sống, hy sinh thân thể để bảo vệ trinh tiết, chung thủy ngay cả đối với những ông chồng đa thê Quan niệm bất công này đã cướp đi của người phụ nữ những quyền lợi thuộc về nhân quyền, khiến họ phải chịu nhiều oan khổ, bất hạnh
Quốc đều dẫn câu nói nổi tiếng của một nhân vật Tống Nho là Trình Di: Chết đói là
chuy ện rất nhỏ, thất tiết là chuyện rất lớn (饿死事极 小,失节事极大) như là bằng
chứng điển hình nhất về sự đàn áp của Nho giáo đối với phụ nữ Theo học giả Phan
Khôi: Trinh không ph ải là cái nết thuộc về khách quan, mà là cái nết thuộc về chủ quan Mình vì cái ý chí, cái ph ẩm giá của mình mà giữ trinh… Như vậy, trinh là một cái n ết còn Tiết khác với nết Tiết là một cái dấu tỏ ra mình đã làm hết bổn phận
c ủa mình đối với người mà mình thuộc về Một người đàn bà chết chồng, không lấy
ch ồng khác, mà gọi là tiết phụ, cũng chẳng khác nào một bề tôi chết vì vua mà gọi
là t ử tiết hay là tận thần tiết [37] Vậy trinh tiết là chuẩn mực đạo đức một chiều áp
đặt cho người phụ nữ Nhà nho không tiếc công tuyên truyền cho trinh tiết ở phụ nữ
và kết quả đáng buồn là hầu hết người phụ nữ đã tiếp nhận quan niệm trinh tiết nghiệt ngã này
Trong xã hội nam quyền thời trung đại này, quan niệm về trinh tiết đã gây ra
đánh giá về mặt đạo đức, bị xã hội, đặc biệt là nhà nho xem thường Ngược lại,
Trang 26những người phụ nữ cố gắng tuẫn tiết, thủ tiết sẽ được ngợi ca, nêu gương Có thể
thấy, việc coi trọng trinh tiết người phụ nữ không chỉ xuất hiện ở Việt Nam mà thực chất có nguồn gốc từ trung Hoa, mở rộng ra tất cả các quốc gia thuộc vùng văn hóa phương Đông và âm ỉ tồn tại trong trường kỳ lịch sử ở vùng văn hóa này
Nho giáo là thái độ nghiệt ngã của nó đối với sự sống của người phụ nữ Tinh thần
thủ tiết, tuẫn tiết đã chi phối đến cách bình luận Thúy Kiều của các nhà nho thế kỷ XIX Thúy Kiều sau khi bán mình cho Mã Giám Sinh, bị đưa đến lầu xanh Tại đây, nàng đã rút dao tự sát để bảo vệ phẩm giá của người phụ nữ Hoặc đến cuối câu chuyện về cuộc đời Kiều, khi Thuý Kiều từ chối cuộc sống vợ chồng với Kim Trọng là mang một mặc cảm tự ti của người phụ nữ bị áp lực của chuẩn mực đạo đức do nam giới quy định, tự cho rằng mình không xứng với Kim Trọng nữa sau
bấy nhiêu năm lưu lạc giang hồ Mặc cho Kim Trọng hết sức cảm thông, chiêu tuyết cho nàng, Thuý Kiều vẫn một mực từ chối Tấn bi kịch của ngày tái ngộ chính là tấn
Hiển nhiên việc Kiều rơi vào cảnh “ong qua bướm lại” là do chính bọn đàn ông gây
ra, chính họ đã biến Kiều thành một cánh hoa tàn, song Kiều không bao giờ truy nguyên nhân từ họ
Sự áp đặt về trinh tiết đối với người phụ nữ trở nên phiến diện và gây áp lực
rất lớn đối với việc tìm đến hạnh phúc riêng của họ Sự áp đặt này lẽ dĩ nhiên không
có thiết chế hữu hiệu đảm bảo cho thân phận của những người "hồng nhan", khiến cho những người hồng nhan trở thành nạn nhân của những kẻ có quyền, có tiền Không những bản thân họ là nạn nhân, họ còn có thể, một cách gián tiếp, là nguyên nhân gây ra nỗi bất hạnh cho gia đình, cho người thân (ví dụ, để chiếm đoạt người
vợ đẹp của anh nông dân thấp cổ bé họng, kẻ có thế lực có thể giết chết người
cuộc sống thời bấy giờ đều bị chi phối bởi quan niệm “trinh tiết” Chính họ còn bị lên án, phê phán bởi chính tầng lớp đã tạo ra luật lệ, quy định áp đặt những bất
hạnh, đau khổ trong cuộc sống của họ
Trang 27Trong lịch sử bình luận Truyện Kiều, tất cả các nhà nho như Nguyễn Công
Trứ, Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng,… vốn lớn tiếng phê phán Kiều là dâm, là đĩ nhưng không ai trong số các nhà nho ấy lên án người đàn ông đã tạo nên những áp
cho Kiều Và tất nhiên, họ sẽ viết bài phê bình, làm thơ ca ngợi Kiều nếu như nàng
chọn cái chết để bảo toàn trinh tiết như bao liệt nữ khác Người con gái, người phụ
gây ra lại là đàn ông Nếu nhìn từ góc độ xã hội học thì hầu hết các nhà nghiên cứu
chất xã hội phong kiến chung chung Nhưng nếu nhìn từ góc độ về giới, sẽ dễ dàng nhận thấy sự đau khổ, mặc cảm "thất tiết", không giữ trọn chữ "trinh" chính là do xã
nữ thời bấy giờ
và thái độ của người đàn ông với người phụ nữ chỉ tồn tại ở giai đoạn thế kỷ XVI – XVIII Đến Nguyễn Du, người đọc đã cảm nhận được sự đồng cảm, sẻ chia cùng tấm lòng nhân đạo của ông đối với số phận của người phụ nữ, đối với một kiếp
người Chính vì vậy, trong đoạn kết đoàn viên của Truyện Kiều, tuy quan niệm trinh
tiết Nho giáo đã ăn sâu vào cả cách nghĩ khiến Thuý Kiều tự nguyện gánh chịu tất
cực Có thể nói những lời xót xa của nàng Kiều đòi hỏi một sự suy nghĩ nghiêm túc
về trách nhiệm của những người đàn ông đối với vấn đề trinh tiết của phụ nữ thay vì bình thản chứng kiến người phụ nữ phải gánh chịu hậu quả đến mức phải hy sinh cả hạnh phúc của họ Vấn đề là tại sao chỉ có người phụ nữ phải tuân thủ tiết hạnh? Và,
tại sao người phụ nữ lại chỉ có giá trị với điều kiện bắt buộc là phải có tiết hạnh? Dường như nhà thơ vĩ đại muốn đặt những câu hỏi khá bức bối này của tư tưởng nữ
trị của chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du
Trang 281.2.3 Quan điểm kỳ thị nữ sắc:
Nếu như trong các tác phẩm văn học hiện đại, vẻ đẹp ngoại hình người phụ nữ được đề cao và trân trọng như cội nguồn tạo nên sự hấp dẫn của nữ tính thì vẻ đẹp
ấy trong hầu hết các tác phẩm văn học trung đại đã bị lấn át bởi những tiêu chuẩn về
vẻ đẹp đạo đức Thái độ kỳ thị nữ sắc của Nho gia đã dẫn đến nguyên tắc miêu tả ít quan tâm vẻ đẹp ngoại hình người phụ nữ lý tưởng, đặc biệt né tránh cái đẹp thân
tôn thờ như một giá trị Kỳ thị nữ sắc là quan niệm coi thường và nghiêm khắc với
nữ sắc của Nho gia Sắc đẹp người phụ nữ, đặc biệt là vẻ đẹp quyến rũ, hấp dẫn về phương diện giới không biểu trưng cho cái tốt mà thường gắn với sự đen tối, sự cám
dỗ nhục dục, với cái xấu xa, độc ác, gắn với người phụ nữ phản diện còn giá trị của người phụ nữ lý tưởng không phải ở thân thể mà là đức hạnh
“khuôn khổ” về cách đối nhân, xử thế cho con người từ ngàn xưa Và nền tảng đạo
lý luân thường mà Khổng Tử có chỉ dạy cho hậu thế đều phân biệt rõ ràng nhiệm
vụ, vai trò của nam giới và nữ giới trong xã hội Đạo làm trai phải biết Tam cương,
ngũ thường Đức tính, phẩm hạnh của người con gái là tam tòng, tứ đức Cả nam
nhi và nữ nhi phải hiểu được đạo lý: Trai trung nghĩa không theo hai Chúa, Gái tiết
li ệt không thờ hai Chồng Không chỉ Nho giáo mà Phật giáo cũng chủ trương “tiết
trong mắt các tín đồ đạo Phật Tam tổ thực lục có kể lại câu chuyện ca ngợi thiền sư Huyền Quang vượt qua sắc dục, giữ lòng chay bạch với thái độ e sợ, cảnh giác với người phụ nữ nhan sắc
Trong văn hóa làng xã của Việt Nam thời trung đại, chỉ có đàn ông mới được lên đình làng bàn việc trọng đại có ý nghĩa quyết định đến cuộc sống văn hóa, xã
hội của làng Phụ nữ chỉ ở nhà, việc tổ chức các lễ nghi tôn giáo cũng do người đàn ông thực hiện Cái nhìn của nam giới về phụ nữ cũng có phần khinh miệt Nam giới
Trang 29diện xã hội mà tỏ ra khinh miệt những kẻ mê đắm nữ sắc, coi như những nhân vật
nam nhi, chí khí anh hùng cần phải gạt bỏ tình cảm nhi nữ, không đam mê sắc đẹp Nhìn nhận số lượng tác phẩm sáng tác trong thời kỳ văn học trung đại, có rất ít tác giả viết về người phụ nữ và nếu có thì dung lượng thường rất ít ỏi, hầu như không miêu tả mà chỉ thiên về đánh giá, bình phẩm dưới cái nhìn đạo đức khắt khe
dưỡng đạo đức nên phải xa lánh nữ sắc, coi nữ sắc nguy hiểm như ma quái, quỉ, hồ
thường sắc đẹp
K ỳ thị nữ sắc cũng là một trong những quan niệm "cổ hủ, lạc hậu", "quy chụp"
cho người phụ nữ khi đã dùng sắc đẹp của mình làm sụp đổ bao triều đại lừng danh trong lịch sử Bàn về vấn đề này, Tuân Tử viết: Ham sắc đẹp của người con gái là
chu ốc lấy cái ác nghiệt vậy Vương Sung thời Hán tẩy chay sắc đẹp kịch liệt: yêu khí sinh ra s ự xinh đẹp, nên những người xinh đẹp phần lớn tà ác… Người có sắc đẹp có mang châm độc Những phát ngôn này đều xuất phát từ điểm nhìn nam giới,
đều thể hiện cái nhìn nghiêm khắc với người con gái đẹp của Nho gia
đẹp bao giờ cũng là đầu mối của sự đe dọa mất nước Nàng Hỷ Muội là mỹ nữ bị vua Kiệt nhà Hạ cướp được trong chiến tranh và vô cùng sủng ái Khi nhà Thương
diệt nhà Hạ đã cho Kiệt và Hỷ Muội lên thuyền thả trôi ra biển Vì vậy, Hỷ Muội bị
vua Trụ và cũng bị kết tội làm mất nhà Thương Cũng như vậy, Dương Quý Phi (tức Dương Ngọc Hoàn) là vợ của Thọ Vương Mạo, con thứ 18 của Đường Huyền Tông
đẹp của Dương Quý Phi lập tức áp đảo hết ba ngàn người đẹp trong hậu cung, khiến
Trang 30Thục, đến Mã Ngôi, quân lính không chịu đi, đòi trừng phạt Dương Quốc Trung
góc độ phụ nữ, Dương Quý Phi là vật hy sinh của chế độ hậu cung tàn ác, còn về góc độ giai cấp thì là sự xa xỉ cùng cực, nguyên nhân chính dẫn tới sự bại vong
đều bị xem như những con hồ ly, con cáo Đó cũng là cách buộc tội dễ dàng nhất cho những người phụ nữ bị coi là đẹp "nghiêng thành"
Trong lịch sử Việt Nam, cũng có những trường hợp tương tự như trong lịch sử
trái với quốc sử Họ không dám tin tất cả thảm án này là một vụ đảo chính đẫm máu kéo dài trên hai mươi năm do chính Thần phi Nguyễn Thị Anh chủ trương cùng với
thuyết rắn báo oán
lại trong Tang thương ngẫu lục với cốt truyện như sau: Tục truyền rằng, thời
Nguy ễn Trãi còn dạy học ở làng Nhị Khê, khi dọn gò ngoài đồng làm chỗ dạy học,
h ọc trò của ông đã đánh một con rắn trắng cụt đuôi Đêm ấy, ông đọc sách dưới đèn, con rắn trắng leo lên xà nhà nhỏ một giọt máu xuống giữa cuốn sách, thấm ướt
ch ữ đại đến ba trang giấy (ý sẽ báo oán đến ba đời dòng họ Nguyễn Trãi) Khi hiển đạt, một hôm đi chầu về, lúc qua phố Hàng Chiếu, Nguyễn Trãi gặp một cô gái xinh đẹp, dùng thơ từ để xướng họa với ông Rồi ông yêu mến cưới về làm thiếp Khoảng năm Thiệu Bình, cô gái ấy thường đi lại vào trong cấm, vua Thái Tông yêu cho làm
ch ức Nữ học sĩ Khi vua băng hà, triều đình đem nàng ra tra hỏi, nàng khai là do Nguy ễn Trãi xui nên ông mới phải tội Khi lâm hình, người con gái ấy hóa thành
r ắn, bơi xuống nước đi mất [58, tr 102 – 103] Việc liên hệ Thị Lộ xinh đẹp tài hoa
với rắn báo oán không phải là ngẫu nhiên Trong tâm thức của người Việt, rắn
nguy hiểm, đen tối Câu chuyện trên đây tuy phi lý nhưng ít nhất ở một thời nó đã
Trang 31được cộng đồng trung đại chấp nhận, thể hiện quan niệm của một bộ phận cộng đồng đó về sự nguy hiểm của nữ sắc
Quan điểm kỳ thị nữ sắc của các học giả Nho gia thời trung đại không chỉ thể
hiện qua những giai thoại, liệt truyện mà còn được chính thức hóa bằng nhiều phát
làm h ại người ta quá lắm Thị Lộ chỉ là một người đàn bà thôi, Thái Tông yêu nó
mà thân ph ải chết, Nguyễn Trãi lấy nó mà cả họ bị diệt, không đề phòng mà được ư? Tác giả Khóa hư lục viết Giới sắc văn với những lời lẽ đầy nghiêm khắc khi
đánh giá về những yếu tố ngoại hình hấp dẫn của người phụ nữ: Tóc mượt lưng ong
d ễ khiến mịt mờ tâm tính; mặt hoa da phấn dễ xui rời rã tinh thần Mắt đưa lấp lánh như dao, ai không đứt ruột; lưỡi uốn ngọt ngào tựa sáo, hết thảy nghiêng tai Người đắm đuối, nghĩa tình xa bỏ; kẻ đam mê, đạo đức tiêu tan Trên thì phong giáo đắm chìm; dưới thì cửa nhà táng loạn Không kể kẻ phàm người học; đều say
áo pháp điểm trang Cương kỷ quốc gia đổ vỡ chốn Tô đài… Độc giác gần nữ am
mà tr ở về cõi tục; Chân Quân xa thán phụ mà được lên thiên đàng Kẻ lánh sắc được ngũ thần thông; kẻ phạm sắc mất toàn giới hạnh [88, tr 98] Những phát ngôn
này đều xuất phát từ điểm nhìn nam giới, đều thể hiện cái nhìn nghiêm khắc với người con gái đẹp của Nho gia
quan niệm về nữ giới ở Việt Nam thời trung đại Quan niệm này có sức chi phối
mạnh mẽ đến tư tưởng, quan điểm đến cách hành xử của người đàn ông đối với người phụ nữ trong xã hội Cũng chính quan niệm này là nguyên nhân gây ra nhiều bất công, đau khổ, bất hạnh mà người phụ nữ trong thời kỳ trung đại phải gánh chịu
1.3 Nguyễn Du với tập Thơ chữ Hán
Nguyễn Du sinh ra tại phường Bích Câu thuộc kinh thành Thăng Long Từ
nên không chỉ có những người ở đây, mà nhân tài tứ xứ, đặc biệt là văn sĩ Bắc Hà sinh sống và làm việc ở đó Xuất thân từ một gia đình khoa bảng, có truyền thống thi ca lại được giao du, tiếp xúc với những người tài sống ở Thăng Long, tài thơ
Trang 32bẩm sinh của Nguyễn Du như hạt giống tốt gặp đất tốt, mưa thuận, gió hoà Nhà thơ
lớn của một dân tộc phải là người hiểu được văn hoá của cả dân tộc mình chứ không phải chỉ của một vùng đất, một nhóm người Nguyễn Du không chỉ đem lại
cho văn học Thăng Long những kiệt tác như Bài ca người gảy đàn ở Long thành
(Long thành c ầm giả ca), Thăng Long, Ngộ gia đệ cựu ca cơ Môi trường sinh hoạt
ấy tổng hòa cả ngôn ngữ tình tứ, trau chuốt của các làn điệu quan họ quê mẹ, sự
kinh kì Thăng Long là nền tảng vững chắc ảnh hưởng rất nhiều đến kho tàng ngôn
ngữ của thi hào khi dùng để sáng tác nên những tác phẩm bất hủ
m ột người thuộc hạ làm chức Câu kế (kế toán) Mẹ Nguyễn Du mất khi ông mới 13
tu ổi, bố mất khi ông 10 tuổi Vì vậy ông phải sống cùng người anh khác mẹ là Nguy ễn Khản, hơn ông 31 tuổi Đời sống hưởng lạc của ông anh này có ảnh hưởng
r ất lớn đến nhà thơ Cũng chính vì vậy phần nào độc giả giải thích được phần nào lòng tr ắc ẩn của nhà thơ đối với phụ nữ nói chung và đối với ca kĩ nói riêng Cái
c ảnh những người đàn bà sống trong xã hội cũ, vì có chút nhan sắc hay giọng háy hay r ồi phải đem nhan sắc tài hoa làm trò chơi cho thiên hạ, mà sau này ra đời nhà thơ còn có nhiều dịp chứng kiến nữa, thì từ những ngày thơ ấu, ông đã chứng kiến trong gia đình mình, hơn nữa, chính những người thân của ông là nạn nhân Cho nên, ta không l ấy làm lạ khi trong tác phẩm của Nguyễn Du khi nói về họ, ông lại
có m ột thái độ trìu mến, xót thương [57, tr 19] Nhờ có mối đồng tình xót thương
đó, mặc dù chịu ảnh hưởng của ý thức hệ phong kiến, Nguyễn Du không có con mắt
ông không hề có một lời nào khinh bạc mà còn cảm thông, ngợi ca, trân trọng Nếu
toàn diện, tiến bộ như vậy
Là tác giả tiêu biểu cho giai đoạn thứ hai của văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Du có những đóng góp quan trọng trong tiến trình văn học dân tộc trong cả
Trang 33mảng sáng tác chữ Hán và chữ Nôm Đặc biệt với Truyện Kiều, tầm vóc tư tưởng và
tài năng nghệ thuật của tác giả đã, đang và sẽ lay động tâm can của nhiều thế hệ
người Việt Bên cạnh kiệt tác thơ Nôm Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du còn để
quá trình làm việc không mệt mỏi của các nhà nghiên cứu, sưu tầm để có hậu thế có cái nhìn tổng quan, nhiều chiều, toàn diện hơn về con người và tư tưởng Nguyễn
ngâm và B ắc hành tạp lục Từ 3 tập thơ này, các nhà nghiên cứu đã sưu tập và giới
thiệu, dịch thuật, chú giải được tất cả 249 bài thơ chữ Hán của ông Đến năm 1996,
Lăng mộ II trong Bắc hành tạp lục thành 250 bài chẵn
Nam trung t ạp ngâm và Bắc hành tạp lục 250 bài thơ lần lượt được phân chia trong
3 phần của tập thơ phần nào nói lên hành trình cuộc đời của tác giả, về những sự việc, những câu chuyện, những suy nghĩ, những trải nghiệm… trong cuộc đời mà
Thanh Hiên thi tập gồm 78 bài thơ, là tập thơ chữ Hán đầu tiên của Nguyễn
Du Tập thơ này Nguyễn Du làm trong thời kỳ còn hàn vi và có thể phân chia ra làm
ba giai đoạn: 1 Mười năm gió bụi (1786-1795) là thời gian ông lẩn trốn ở Quỳnh Côi; 2 Dưới chân núi Hồng (1796-1802), về ẩn ở quê nhà; 3 Làm quan ở Bắc Hà
ông trong hoàn cảnh đương thời
Thanh Hiên thi t ập chính là tâm tình của Nguyễn Du trong những năm tháng
sống long đong vất vả ở Thái Bình (quê vợ), cũng như ở Tiên Điền (quê nhà)
bụi” (Mạn hứng), “mới rét mà đã thấy khổ vì thiếu áo” (Thu Dạ) và lúc nào cũng “ở
Trang 34đất khách, giả vụn để phòng thói tục, gặp thời loạn vì muốn giữ toàn mạng nên luôn
sợ người ta” (U cư) Trong những bài làm trong thời gian về Tiên Điền (Hà Tĩnh), nhà thơ cũng có một tâm lý chán chường như thế Có lúc, Nguyễn Du muốn ở ẩn,
muốn trốn vào tôn giáo, rồi có lúc ông lại muốn hành lạc (Hành lạc từ) Nói vậy, nhưng không thể làm vậy, cho nên ông lại tiếp tục với nỗi buồn của mình và than
tướng công hầu, chưa chết thì có ngày sẽ làm bạn với hươu nai” (Ký hữu) Tất cả
những điều ông viết dường như chỉ là một lớp váng nổi trên bề mặt, còn thực chất tâm sự của nhà thơ là gì, ông không nói ra cụ thể và hình như ông cũng chưa nhận thức cụ thể
bài thơ làm từ năm 1805 đến cuối năm 1812, tức là từ khi được thăng hàm Đông các điện học sĩ ở Huế cho đến hết thời kỳ làm Cai bạ dinh Quảng Bình Tập thơ
Phượng Hoàng) và cuối tập là bài Đại tác cửu tư quy (Làm thay người đi thú lâu
năm mong về) GS Nguyễn Lộc viết: Nam trung tạp ngâm có tính chất nhật ký, bút
ký c ủa tác giả trong những năm tháng làm quan ấy Về đề tài, chưa có gì mới so với
t ập thơ đầu Những bài thơ trong tập thơ này vẫn là những tiếng thở dài của nhà thơ trước một thực trạng mà ông không thấy có gì gắn bó Cũng giống như Thanh Hiên thi t ập, trong Nam Trung tạp ngâm, chưa bao giờ Nguyễn Du nói rõ cái tâm
s ự thật của mình; rải rác đây đó, trong thơ chỉ thấy ông than thở cuộc đời là đáng
bu ồn, đáng chán, là vô nghĩa, là bãi bể nương dâu [44, tr364]
Quý Dậu 1813 đến đầu năm Giáp Tuất 1814 Đây là một tập thơ nói lên lòng thương cảm sâu xa những người trung nghĩa bị hãm hại, những người tài hoa bị vùi
Trang 35dập, những người lao động cùng khổ bị đói rét cùng nỗi khinh ghét giới thống trị kiêu căng, tàn bạo, được Nguyễn Du nói lên bằng những vần thơ hết sức sâu sắc
ông Các bài thơ trong Thanh Hiên thi tập và Nam trung tạp ngâm tuy biểu hiện
chú ý: Một là ca ngợi, đồng cảm với các nhân cách cao thượng và phê phán những
người Ba là cảm thông với những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội, bị đọa đày hắt hủi Thơ chữ Hán Nguyễn Du chứa đựng những tâm tư tình cảm của một người có chí cao mộng lớn nhưng thời vận lỡ làng, phản ánh nhân tình thê thái trong con mắt
nhận được một cách sắc nét những cảnh trạng bất công, bất nhẫn trong xã hội phong
kiến đương thời mà những người nghèo khổ, yếu đuối phải chịu hầu hết thiệt thòi Cũng trong tập thơ này, chúng tôi thấy một nét mới căn bản là nhận thức toàn diện của Nguyễn Du về con người Con người không chỉ là thần dân trong con mắt
của vua quan, được triều đình chăm lo mà đồng thời phải phục tùng trật tự đạo đức nghiệt ngã, phải triệt tiêu cá nhân Con người còn là một thực thể tồn tại độc lập,
cần được quan tâm không chỉ về phương diện vật chất, chuyện ăn mặc ở Con người có thân xác, do đó có quyền sống về mặt thân xác, có trái tim, do đó có quyền được mong muốn, ước ao, được buồn vui, hy vọng hay đau khổ, có trí tuệ do đó có
không thể không ngợi ca vẻ đẹp của chân dung và hình thể con người
Từ “những điều trông thấy” trong suốt hành trình cuộc đời của Nguyễn Du được ghi lại một cách sinh động, chân thực trong tập thơ chữ Hán, Nguyễn Du đã
nhân trước thực trạng xã hội phong kiến Việt Nam Hơn ai hết, nhà thơ tiêu biểu cho giai đoạn văn học trung đại đã bộc lộ khả năng tái hiện hiện thực Ông không để
Trang 36ngòi bút rơi vào một chủ nghĩa khách quan tàn nhẫn mà luôn nhập thân vào những
thức, vượt lên trên những thương vay tự phát, thường tình Gắn bó với con người,
với cuộc sống, và nhìn sâu vào lịch sử, Nguyễn Du còn đặc biệt thương xót cho một
loại người có tài và có tình Ấy là những nhà văn nhà thơ nổi tiếng trác tuyệt mà
cuộc đời trải muôn vàn bất hạnh, là những bậc anh hùng hào kiệt thất thế, là những người phụ nữ có sắc đẹp nghiêng thành phải chịu một số phận buồn thảm Những con người ấy, dù thân phận của họ là danh nhân, là đào hát, là tướng giặc, là gì đi
nữa, nhưng đã sống khác với mọi người và chết trong bần cùng hoặc bất đắc kỳ tử, thì đều là đối tượng của tấm lòng ưu ái của Nguyễn Du
Từ thơ chữ Hán đến Truyện Kiều, Nguyễn Du với tư cách một nghệ sĩ đã khiến cho hàng triệu trái tim rung cảm vì những hình tượng khơi gợi sự trải nghiệm
hiện thành công tư tưởng tiến bộ của mình đến độc giả hậu thế Những nét tư tưởng
thiên nhiên, đất nước, miêu tả đời sống thế sự… Cũng chính Nguyễn Du đã tạo nên điều khác biệt, nâng tầm vóc của đại thi hào so với những nhà văn, nhà thơ trước và cùng thời với ông
Ti ểu kết: Ở chương 1, luận văn tìm hiểu những khái niệm cơ bản, phổ biến
nhất về giới, giới tính, nam tính và nữ tính , trên cơ sở đó để nhìn nhận, phân tích
và khái quát một số quan niệm về nữ giới trong xã hội phương Đông thời trung đại Qua đó, luận văn muốn phác thảo sơ bộ về bức tranh xã hội Việt Nam thời trung đại, từ thực tế cuộc sống đến thơ văn, từ thơ văn đến quan điểm, tư tưởng của tác
giả văn học, đặc biệt là những tác giả tiêu biểu cho cách nhìn mới mẻ và tiến bộ về giới nói chung và người phụ nữ nói riêng Những vấn đề lý luận và thực tiễn này chính là cơ sở giúp luận văn phân loại các kiểu hình tượng nhân vật người phụ nữ
điểm tư tưởng của nhà thơ qua góc nhìn giới
Trang 37CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ
TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU
Khảo sát phần lớn thơ văn trung đại Việt Nam trước thế kỷ XVIII, chúng ta dễ
nhận thấy tiếng nói át trội trên thi đàn là tiếng nói tỏ chí, tỏ lòng của các anh hùng hào kiệt, các đấng trượng phu, các bậc quân tử Đặc biệt là khi Nho giáo giành được địa vị độc tôn, trở thành ý thức hệ chính thống của dân tộc từ thời Lê Thánh Tông Học thuyết Nho giáo, với sự phân chia trật tự xã hội theo triết lý âm – dương, những
lý tưởng tam cương, ngũ thường áp đặt đối với nam giới và đạo tam tòng, tứ đức
ràng buộc người phụ nữ… khiến sự phân biệt giữa nam và nữ càng trở nên triệt để
Nam tôn n ữ ty, nam cao nữ thấp, nam ngoại nữ nội… là những quy tắc mặc nhiên
được thừa nhận và tuân thủ Đàn ông nói chung và giới trí thức chủ yếu là bộ phận Nhà nho nói riêng là giới nắm đặc quyền về mọi mặt chính trị, xã hội, kinh tế, văn
làm quan Vì thế, lực lượng sáng tác tuyệt đại đa số vẫn là các nhà nho nam giới và
quân tử
Ở giai đoạn này, người phụ nữ vẫn còn xuất hiện mờ nhạt trong văn học Việt
đẹp hấp dẫn về phương diện giới, những khát vọng, quyền lợi riêng tư của họ cũng chưa được các tác giả thời kỳ này trân trọng và chú ý miêu tả Mặc dù người phụ nữ
đã dần xuất hiện nhiều hơn trong văn học giai đoạn thế kỷ XVI, song toàn bộ phẩm
chất, giá trị cũng như đời sống tâm hồn và thân thể của họ luôn được nhìn bằng đôi
mắt của nam giới Miêu tả người phụ nữ, các nhà văn thiên về tô đậm đức hạnh siêu phàm, chí khí hơn người của người phụ nữ mà hầu như không chú ý đến yếu tố nữ tính, yếu tố giới của họ Tuy nhiên, bước sang thế kỷ XVII - XVIII, khi trật tự xã
bước chuyển biến rõ rệt PGS.TS Trần Nho Thìn nhận định: "Các nhà văn nhà thơ
v ỡ mộng, thất vọng về vai trò mà họ hằng tin tưởng của đạo thánh hiền đối với sự
Trang 38nghi ệp xây dựng quốc gia, xã hội, xây dựng nhân cách Những biến chuyển tư tưởng ấy đã làm thay đổi quan niệm về bản chất, nhân vật, thể loại, ngôn ngữ…
M ột thời kì văn học mới ra đời… nhìn từ góc độ phát triển thì chính đây lại là thời
kì hóa gi ải những chi phối của tư tưởng đạo đức chính trị để văn học trở về với
nh ững vấn đề thân thiết của cuộc sống và con người" [73, tr 75]
Chính sự chuyển biến này dẫn đến một bộ phận lớn các tác giả văn học chuyển hướng đề tài sáng tác của mình Từ việc tỏ chí, tỏ lòng trong thi ca đến việc bày tỏ những cảm xúc trước thực tại cuộc sống, trước cuộc đời, trước những số
và chân thực nhất đã trở thành hình tượng, thành đề tài, cảm hứng trong thơ ca của các nhà nho thời bấy giờ Tiêu biểu cho xu hướng “thi duyên tình” này là các tác giả như Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du… Đặc biệt, trong Tập thơ chữ Hán của đại thi hào, ngoài những bài thơ thể hiện
người phụ nữ Có thể họ là những người bình thường mà ông bắt gặp, có thể là hình ảnh bất khuất, có thể là những nhan sắc tài hoa… Tất cả đều trở thành những hình tượng nhân vật sống động, ấn tượng trong thơ Chính họ đã một phần giúp chúng ta
2.1 Hình tượng người phụ nữ đức hạnh
Nghiên cứu hình tượng người phụ nữ từ quan điểm giới thời trung đại chúng tôi nhận thấy, quan điểm về nữ giới của Nho gia đã chi phối sâu sắc cách kể, tả, đánh giá về người phụ nữ Vì vậy, những người phụ nữ được coi là chính diện thường được kể, tả với đặc điểm là những người hoàn toàn phụ thuộc vào người đàn ông, trở thành cái bóng của người đàn ông, hy sinh vì người đàn ông mà không
nhận được sự hy sinh, đền đáp ngược lại Người phụ nữ chính diện lý tưởng là
Trang 39đàn ông và không có đời sống riêng tư cá thể Nhà thơ Nguyễn Du cũng viết về người phụ nữ từ điểm nhìn của Nho giáo Đó là sự nhìn nhận con người trong các mối quan hệ luân thường Với Nho giáo, con người không phải là một cá nhân tồn
tại độc lập mà chỉ tồn tại trong những quan hệ luân thường được xác định: vua – tôi,
Du, một người sống trong thời đại của Nho giáo thống trị, ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sự nghiệp sáng tác của ông
đến những người phụ nữ, đặc biệt là hình tượng người phụ nữ đức hạnh, họ là những người mang tính cách trung trinh, tiết nghĩa mà ông ngưỡng mộ Bằng con
mắt của một nhà nho, ông đã lên tiếng ca ngợi đức hy sinh của họ, trân trọng những hành động “thuận” theo đạo đức Nho gia của họ Và trong thơ, ta thấy Nguyễn Du
tích, gần gũi như chính cuộc đời của họ
Dương Thái hậu, vợ vua Tống Độ Tông được thờ ở Càn Hải (đền Cờn, tỉnh Nghệ An) Khi nhà Tống mất nước, bà cùng hai người con gái đi thuyền ra biển lánh nạn
đã lập đền thờ Ở đây, nhà thơ đã dùng cảnh để tả tình, dùng những hình ảnh thiên nhiên của buổi chiều tà cùng sự lẻ loi của sự vật để nói lên cảm xúc, tâm trạng của chính nhân vật trữ tình trong thơ:
Mang mang h ải thủy tiếp thiên xu
Ẩn ước cô từ xuất tiểu chu (châu)
C ổ mộ hàn liên phù chử mộ Tình yên thanh d ẫn hải môn thu Hào thiên tướng tướng đan tâm tận
Ph ủ địa Quỳnh Nhai khối nhục vô
Trang 40Thấp thoáng thấy ngôi đền đứng lẻ loi giữa bãi cát nhỏ
Buổi chiều chòm cây cổ thụ lạnh lẽo liền với bến chim phù đậu Mùa thu, làn khói lúc trời tạnh mát dịu bay ra cửa biển
Kêu trời, các bậc tướng văn tướng võ dốc hết cả lòng son
Vỗ đất, ở Quỳnh Nhai không còn một ai là dòng giống nữa)
để rút ra bài học lịch sử hay đạo đức mà thiên về bộc lộ thái độ, cảm xúc Nguyễn
Du đã cảm thương cho số phận người bạc mệnh trước thời gian và không gian lẻ loi Nhà thơ như nhập thân vào nhân vật để cảm nhận cả nỗi cô đơn, lạnh lẽo của con người giữa sông nước mênh mông, tĩnh mịch và hiu quạnh
đức, phẩm chất mà xã hội đã “mặc định” và chi phối đến số phận cuộc đời của họ
nhân văn của mình, nhà thơ đã hết lòng ca ngợi những người phụ nữ có khí tiết như Dương Thái hậu:
Ti ểu nhĩ Minh phi trường xuất tái
Tì bà bôi t ửu khuyến Thiền Vu
(Đáng cười thay nàng Minh phi ra ở ngoài cửa ải
Gảy đàn tì và, rót rượu mời chúa Thiền Vu) Người đàn bà đã đi vào lịch sử với hình tượng liệt nữ này đã được Nguyễn
Du đặc biệt ngợi ca trong hình ảnh so sánh với Minh Phi (Vương Chiêu Quân), người chịu gảy đàn, rót rượu cho giặc, chứ không quyên sinh thủ tiết Nguyễn Du thể hiện sự đồng tình sâu sắc với quan niệm khắt khe của Nho gia về trinh tiết, thể
cưỡi thuyền ra bể lánh nạn rồi bị đắm thuyền chết Bà đã giữ toàn vẹn trinh tiết của người đàn bà, vì mục đích chứng minh lòng tiết liệt mà tự hi sinh mạng sống của