1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài thảo luận số 4 bảo vệ quyền sở hữu

15 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo vệ quyền sở hữu
Tác giả Văn Thị Tuyết Minh, Vũ Khánh Linh, Hoàng Trọng Long, Đặng Khánh Linh, Võ Phi Hùng, Phạm Đặng Ngọc Minh, Lại Thu Hương, Nguyễn Thị Thu Hiền
Trường học Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân sự
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 181,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled BÀI TH O LU N SỐỐ 4 B O V QUYỀỀN S H UẢ Ậ Ả Ệ Ở Ữ T viếết tắết ừ BLDS B lu t Dân sộ ậ ự 1 Văn Thị Tuyết Minh 2 Vũ Khánh Linh 3 Hoàng Trọng Long 4 Đặng Khánh Linh 5 Võ Phi Hùng 6 Phạm Đặng Ngọ[.]

Trang 1

BÀI TH O LU N SỐỐ 4: B O V QUYỀỀN S H U Ả Ậ Ả Ệ Ở Ữ

T viếết tắết: ừ

- BLDS: B lu t Dân s ộ ậ ự

Nhóm 2

Trang 2

Đòi động sản từ người thứ ba

1 Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?

- Trâu là động sản vì các loại bất động sản được quy định ở điều 107 bộ LDS

2015 thường là các loại tài sản không thể di chuyển cơ học được Dựa vào đó ta khẳng định trâu là động sản

2 Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao?

- Trâu là tài sản không cần phải đăng ký quyền sở hữu, dựa vào mục 2 điều 106

“Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác”

3 Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền

sở hữu của ông Tài?

- “Căn cứ vào lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06, 07, 08), lời khai của các nhân chứng là anh Phúc (Bl 19), anh Chu (bl 20), anh Bảo (bl 22) và kết quả giám định con trâu đang tranh chấp (biên bản giám định ngày 16-08-2004, biên bản xác minh của cơ quan chuyên môn về vật nuôi ngày 20-08-2004), (BL 40,

41, 41a, 42) thì có đủ cơ sở xác định con trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tấn Tài”

4 Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh có tranh chấp trên?

- Chiếm hữu tài sản là “việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản” (mục 1 điều 179 BLDS 2015) Tại thời điểm xảy ra vụ án, 2006 có nghĩa là đang áp dụng bộ LDS năm

2005, quyền chiếm hữu được miêu tả quyền nắm giữ, quản lý tài sản (Điều 182 BLDS 2005) Vào thời điểm tranh chấp, người chiếm hữu con Trâu là ông Chiên

5 Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không?Vì sao?

- Việc chiếm hữu trong hoàn cảnh của ông Chiên là có căn cứ pháp luật vì ông được chuyển giao quyền sở hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật

Trang 3

6 Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

-Theo Điều 181 BLDS 2015: “ Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu”

-Theo Điều 189 BLDS 2005: “ Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật”

7 Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì sao?

- Người như hoàn cảnh của ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình Vì theo Điều

180 BLDS 2015 “ Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu

có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu” Cụ thể là trong bản án, ông Thi đã đổi con trâu mẹ cho ông Dòn có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với con trâu đang chiếm hữu

8 Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong BLDS?

- Hợp đồng có đền bù: là hợp đồng mà trong đó mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương đương Lợi ích tương ứng ở đây không đồng nghĩa với lợi ích ngang hàng vì các bên dành cho nhau không phải lúc nào cũng cùng một tính chất hay chủng loại

 Ví dụ: Hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê biểu diễn ca nhạc

- Hợp đồng không có đền bù: là hợp đồng mà trong đó, một bên nhận được lợi ích do bên kia chuyển giao nhưng không phải chuyển giao lại bất kỳ lợi ích nào

 Ví dụ: Hợp đồng tặng cho tài sản,

9 Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không

có đền bù? Vì sao?

Trang 4

-Ông Dòn có được trâu thông qua giao dịch đền bù.

- Vì con trâu ông Dòn có được là do giao dịch với ông Thi , cụ thể ông Thi đổi cho ông Dòn lấy con trâu lấy sổi Từ đó, ta có thể thấy đây là giao dịch mà trong đó mỗi bên sau khi thực hiện cho bên kia một lượi ích sẽ nhận được từu bên kia một lợi ích tương đương Do vậy, đây là hợp đồng có đền bù

10 Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu

ngoài ý chí của ông Tài không?

- Trâu có tranh chấp là tài sản bị lấy cắp, bị mất hay chiếm giữ là ngài ý chí của ông Tài Ta thấy việc con trâu bị người khác chiếm hữu là ngoài ý chí của ông Tài vì ông không từ bỏ quyền sở hữu con trâu ( hàng tháng vẫn lên xem trâu), cũng không định đoạt ( bán, tặng, cho) con trâu Khi ông Thơ dắt con trâu về qua nhà ông Tài, ông nhận ra là trâu, nghé của mình và nói với ông Thơ nhưng ông Thơ vẫn dắt trâu về sau đó bán cho ông Thi và được đổi cho ông Dòn, và xảy ra tranh chấp Như vậy, con trâu có tranh chấp có thể bị lấy cắp, bị mất hoặc bị chiếm giữ ngoài ý chí của ông Tài

Câu 11: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu

từ ông Dòn không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

- Theo Tòa án dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn

- Căn cứ vào đoạn: “Tòa án cấp phúc thẩm nhận định con trâu mẹ và con nghé con là củaông Tài là đúng nhưng lại cho rằng con trâu cái đang do ông Nguyễn Văn Dòn quản lý nên ông Tài phải khởi kiện đòi ông Dòn và quyết định chỉ buộc ông Thơ phải trả lại trị giá con nghé là 900.000đ, bác yêu cầu của ông Tài đòi ông Thơ phải trả lại con trâu mẹ là không đúng pháp luật.”

Câu 12: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

- Hướng giải quyết của Tòa án nhân tối cao như vậy là chưa hợp lý Tòa án quyết định rằng ông Tài không có quyền đòi lại trâu từ ông Dòn, nhưng theo Điều 257

Trang 5

BLDS 2005 có quy định: trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu Vậy thì Tòa đã xác định con trâu ông Thơ chiếm giữ là bất hợp pháp, không có căn cứ pháp luật mà chỉ trả lại trị giá con nghé thôi là chưa đúng căn cứ theo điều 599 BLDS

2005 có nêu Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không

có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó Bên cạnh đó hợp đồng giữa ông Thi và ông Dòn là hợp đồng mua bán tức là có hợp đồng đền bù nên ông Tài có quyền đòi lại

Câu 13: Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo vệ ông Tài không?

- Theo Điều 167 BLDS 2015 có quy định: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.”

- Ở đây, động sản là con trâu cái và ông Tài là chủ sở hữu hợp pháp, còn ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình Và con trâu đã bị lấy cắp, mà giao dịch con trâu của ông Thơ và ông Dòn là hợp đồng có đền bù nên ông Tài vẫn được

quyền đòi con trâu đó

Câu 14: Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

- Khi ông Tài không đòi được trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được yêu cầu khởi kiện ông Thơ

- Căn cứ vào đoạn: “Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định con trâu tranh chấp

Trang 6

giữa ông Tài và ông Thơ và đã quyết định buộc ông Thơ là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả lại giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là có căn cứ pháp luật.”

15 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao?

- Hướng giải quyết trên của Tòa án vẫn chưa thực sự thuyết phục Vì trong

Quyết định ông Thơ có khai là tháng 6-2002 có mua một con trâu cái từ ông Phùng Văn Tài, tuy nhiên trong bản án lại không nhắc đến vấn đề này Xét thấy trong trường hợp lời khai của ông Thơ là đúng thì có thể ông Thơ cũng là người chiếm hữu ngay tình (không biết con trâu cái là thuộc sở hữu của ông Triệu Tiến Tài) Nên cần phải xem xét xác minh lại con trâu cái có phải thực sự là ông Thơ mua của ông Phùng Văn Tài không, và ông Thơ có biết con trâu là của ông Triệu Tiến Tài không Nếu đúng là như vậy thì ông Thơ cũng là người chiếm hữu ngay tình và ông sẽ không phải bồi thường thiệt hại cho ông Triệu Tiến Tài mà ông Phùng Văn Tài sẽ là người chịu trách nhiệm

* Đòi động sản từ người thứ ba

1)Đoạn nào của Quyết định giám đốc thẩm cho thấy quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?

- “Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2015/DS-ST ngày 24/9/2015, Tòa án nhân dân tỉnh B quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị X (bà X đã chết) nay các thừa kế của bà X là các nguyên đơn ông Nguyễn Văn V (ông V đã chết, anh Nguyễn Văn G, anh Nguyễn Văn S, anh Nguyễn Ngọc M (anh M đã chết), chị Nguyễn Thị Thu H về việc yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị N trả lại nhà, đất số 46 (cũ 2/15) T, thành phố B, tỉnh B Ghỉ nhận sự tự nguyện của bà Nguyen ép, Gullaume thi Thanh Tam (Nguyễn Thị Thanh T) về việc để cho các nguyên đơn được quyền sở hữu nhà số 46 (cũ 2/15) T, thành phố B (cũ

là thị xã) và phân đất có nhà Buộc bà Nguyễn Thị N trả cho các anh Nguyễn Văn G, Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị Thu H căn nhà số 46 (cũ 2/13) T, thành

Trang 7

phố B và 237,6m? quyên sử dụng đất trong đó có 49m? đất ở thuộc thửa 73, tờ bản đồ 27 phường L, thành phố B Anh G, anh s chị H được quyền sở hữu và quyên sử dụng chung nhà, đất này (dắt đã được cấp Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản trên đất số BC 207260, BC 207259, BC

207258, BC 207257, BC 207256 ngày 28/7/2010)

2) Theo quy định (trong BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015), chủ sở hữu bất động sản được bảo vệ như thế nào khi tài sản của họ được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?

- Tại Khoản 3 Điều 133 BLDS năm 2015 có quy định về việc “ Chủ sở hữu không

có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự này với người này không bị vô hiệu nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lí và bồi thường thiệt hại” Do giao dịch với người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ nên chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình mà chỉ có quyền kiện chủ thể có lỗi làm cho giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí bồi thường thiệt hại Nếu chỉ đánh giá ở phương diện quyền lợi thì quy định của BLDS năm 2015 có vẻ không ảnh hưởng đến chủ sở hữu nhưng xét ở khía cạnh đảm bảo thi hành án của tòa án thì chủ sở hữu tài sản có thể bị ảnh hưởng quyền lợi khi chủ thể có lỗi không có tài sản để thi hành án DO vậy, kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017, các chủ sở hữu phải thực hiện đầy đủ các quyền của chủ sở hữu để tránh trường hợp tài sản của mình bị chuyển giao ngoài ý muốn cho người thứ ba ngay tình

3) Để bảo vệ bà X, theo Toà án nhân dân tối cao, Toà án phải xác định trách nhiệm của bà N như thế nào đối với bà X?

- “Như vậy, nhà đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà X, nhưng bà N là người có công sức quản lý, gữi gìn nhà đất trong thời gian đài, đã thực hiện đầy

đủ nghĩa vụ của chủ sử dụng đất đối với Nhà nước Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà trả cho nguyên đơn 237,6m” và bà N được quyền sử dụng 1.228,5m? đất là chưa đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn; còn Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà N trả tiếp cho nguyên đơn 914m đất là đúng nhưng không xem xét công sức của

Trang 8

bà N trong việc quản lý, giữ gìn đất là chưa đảm bảo quyền lợi của bị đơn Khi xem xét tính công sức của bà N trong việc quản lý, giữ gìn đất thì Tòa án cần xem xét đến cả phần đất Nhà nước đã thu hồi và cần làm rõ bà N đã nhận số tiền Nhà nước bồi thường là bao nhiêu để tính toán công sức cho hợp lý.”

4) Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định trong BLDS chưa?

- Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định trong BLDS Trong một vài bản án liên quan đến việc tranh chấp quyền sử dụng đất tương tự

5) Theo anh/chị, hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao (trong câu hỏi trên) có thuyết phục không? Vì sao?

- Theo em hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao có thuyết phục Vì theo như nhận định của Tòa án, tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết chưa hợp lí Tại tòa sơ thẩm, giải quyết chưa thỏa đáng cho nguyên đơn, cụ thể chỉ bắt bà N trả cho nguyên đơn 237,6 mét vuông trong tổng số 1.518,86 mét vuông Đến phiến tòa phúc thẩm lại không giải quyết thỏa đáng cho bị đơn, chưa xem xét công sức của bị đơn trong việc giữ gìn, quản lý đất Đồng thời Tòa phúc thẩm không công nhận đất của bà L, ông Đ, bà T

 Lấn chiếm tài sản liền kề

2.1 Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Tận đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của ông Trường, bà Thoa và phần lấn cụ thể là bao nhiêu?

- Đoạn đầu phần xét thấy của quyết định số 23/2006/DS-GĐT ngày 7/9/2006:

“Ông Diệp Vũ Trê và ông Nguyễn Văn Hậu tranh chấp 185 mét vuông đất giáp ranh, hiện do ông Hậu đang sử dụng… thì có căn cứ xác định ông Hậu đã lấn đất ông Trê” Qua đoạn trên của bản án đã cho thấy ông Hậu đã lấn sang đất

thuộc quyền sử dụng của ong Trê bà Thi và phần đất lấn cụ thể là 185 mét vuông

Trang 9

2.2 Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất (không gian, mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên?

- Quyết định số 617 cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất (không gian, mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên ở

đoạn: “Khi sửa chữa lại nhà gia đình ông Hòa có làm 4 ô văng cửa sổ, một

máng bê tông và chôn dưới đất một ống thoát nước nằm ngoài phía tường nhà Quá trinhg giải quyết vụ án, tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định gia đình ông Hòa làm 4 ô văng cửa sổ, một máng bê tông chờm qua phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyễn nên quyết định buộc ông Hòa phải tháo dỡ là có căn cứ.”

2.3 BLDS có quy định nào điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền sử dụng của người khác không?

- BLDS có quy định nào điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền sử dụng của người khác Được quy định ở khoản 2 Điều 175 BLDS

2015: “Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Và được quy định tại Điều 176 BLDS 2015:

1 Chủ sở hữu bất động sản chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.

2 Các chủ sở hữu bất động sản liền kề có thể thỏa thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của các chủ thể đó.

Trang 10

Trường hợp mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo nên trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý thì mốc giới ngăn cách đó là sở hữu chung, chi phí để xây dựng do bên tạo nên chịu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; nếu chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý mà có lý do chính đáng thì chủ sở hữu đã dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn phải

dỡ bỏ.

3 Đối với mốc giới là tường nhà chung, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý.

Trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau thì chủ sở hữu cũng chỉ được đục tường, đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách tường của mình.

Đối với cây là mốc giới chung, các bên đều có nghĩa vụ bảo vệ; hoa lợi thu được

từ cây được chia đều, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2.4 Ở nước ngoài, việc lấn chiếm như trên được xử lý như thế nào?

- Ở Pháp chỉ cần lấn chiếm nhỏ đất của người khác, Tòa án tối cao Pháp cũng buộc phải tháo dỡ công trình lấn chiếm, cho dù người lấn chiếm có ngay tình Vì theo pháp luật Pháp thì “không ai có thể bị ép buộc chuyển nhượng tài sản của mình” cho dù “việc lấn chiếm là lớn hay nhỏ” trừ khi vì lợi ích công cộng

- Ở Quebec việc xử lý có phần mềm dẻo linh hoạt hơn ở Pháp bởi theo điều 992 BLDS Quebec: “nếu việc lấn chiếm là đáng kể, gây thiệt hại nghiêm trọng hay

là được tiến hành một cách không ngay tình thì chủ sở hữu bất động sản bị lấn chiếm có thể hoặc buộc người lấn chiếm nhận bất động sản của mình và thanh toán giá trị hoặc buộc phải tháo dỡ phần xây dựng và khôi phục lại tình trạng ban đầu.” Theo khoản 3 điều 174 BLDS Thụy Sĩ: “nếu sau khi biết việc lấn

chiếm mà chủ sở hữu bị lấn chiếm không phản đối trong một thời gian hợp lí và khi người lấn chiếm ngay tình và hoàn cảnh cho phép điều nay, chủ thể của những công trình xây dựng có thể yêu cầu phần đất lấn chiếm được giao cho mình với sự đền bù một khoản tiền hợp lý.”

Ngày đăng: 09/05/2023, 16:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w