1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài thảo luận môn luật dân sự, tài sản và thừa kế

55 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Thảo Luận Môn Luật Dân Sự, Tài Sản Và Thừa Kế
Người hướng dẫn Lê Thanh Hà
Trường học Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật dân sự, tài sản và thừa kế
Thể loại Bài tập lớn học kỳ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 434,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA TIẾNG ANH PHÁP LÝ MÔN HỌC Những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ GIẢNG VIÊN Lê Thanh Hà DANH SÁCH NHÓM 1 STT HỌ TÊN[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA TIẾNG ANH PHÁP LÝ

MÔN HỌC: Những quy định chung

về luật dân sự, tài sản và thừa kế

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ GIẢNG VIÊN: Lê Thanh Hà DANH SÁCH NHÓM 1

1 Phùng Nguyễn Phương Anh 2052202010003

5 Nguyễn Trần Hương Liên 2052202010023

Trang 2

MỤC LỤC BÀI 1 1

Quyết định số 08/2013/KDTM-GĐT ngày 15/3/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao 1Quyết định số 10/2013/KDTM-GĐT ngày 25/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao 1

A Trường hợp đại diện hợp lệ 1

Điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS năm 2005) về người đại diện 1Trong Quyết định số 08, đoạn nào cho thấy ông Mạnh đại diện cho Hưng Yên xáclập hợp đồng với Vinausteel? 3Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh có trách nhiệm gì với Vinausteel không? 3Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liênquan đến ông Mạnh (có văn bản nào không về chủ đề này? Có thuyết phục không?) 4Theo Hội đồng thẩm phán, Hưng Yên có trách nhiệm gì với Vinausteel không? 4Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liênquan đến Hưng Yên nêu trên 4Nếu ông Mạnh là đại diện theo pháp luật của Hưng Yên và trong hợp đồng có thỏathuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài này có ràng buộc Hưng Yên không? Biếtrằng điều lệ của Hưng Yên quy định mọi tranh chấp liên quan đến Hưng Yên (nhưtranh chấp phát sinh từ hợp đồng do đại diện theo pháp luật xác lập) phải được giảiquyết tại Tòa án 5

B Trường hợp đại diện không hợp lệ 5

Trong Quyết định số 10, đoạn nào cho thấy người xác lập hợp đồng với Ngân hàngkhông được Vinaconex ủy quyền (không có thẩm quyền đại diện để xác lập)? 5Trong vụ việc trên, theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex có chịu trách nhiệm vớiNgân hàng về hợp đồng trên không? 6Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm 6Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàngphản đối hợp đồng (yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không

có quyền đại diện) thì phải xử lý như thế nào trên cơ sở BLDS 2015? Vì sao? 7

BÀI 2 7

Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòa dân sự Tòa Án nhândân tối cao 7Quyết định số 08/2013/DS-GĐT ngày 24/01/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dântối cao 8

Trang 3

Bản án số 2493/2009/DS-ST ngày 04/9/2009 của Tòa án nhân dân Tp Hồ Chí

Minh 8

Quyết định số 26/2013/DS-GĐT ngày 22/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao 9

Quyết định số 533/2021/QĐ-PQTT ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh 9

A Hình thức sở hữu tài sản 10

Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về hình thức sở hữu tài sản

10

Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm không? Đoạn nào của Quyết định số 377 (sau đây viết gọn là Quyết định 377) cho câu trả lời? 11

Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà hay sở hữu riêng của ông Lưu ? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời? 11

Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của ông Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời? 12

Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?

12

Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu có thể di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lý khi trả lời 13

B Diện thừa kế 13

Bà Thẩm, chị Hương và bà Xê có thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu không? Vì sao? 14

Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không? Vì sao? 15

Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưu không? Vì sao? 15

Theo pháp luật hiện hành, ở thời điểm nào người thừa kế có quyền sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại ? Nêu cơ sở khi trả lời 15

Trong Quyết định số 08, theo nội dung của bản án, ở thời điểm nào người thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranh chấp ? Vì sao ? 16

C Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 16

Đoạn nào của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê? 16

Bà Xê, bà Thẩm, chị Hương có thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu không? Vì sao? 16

Trang 4

Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, vì sao bà Thẩm được hưởng thừa kếkhông phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Đoạn nàocủa Quyết định cho câu trả lời? 18Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì có được hưởng thừa kế khôngphụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Vì sao? 18Nếu di sản của ông Lưu có giá trị 600 đồng triệu thì bà Thẩm sẽ được hưởng khoảntiền là bao nhiêu? Vì sao? 18Nếu bà Thẩm yêu cầu được chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu của bà Thẩm cóđược chấp nhận không? Vì sao? 19Trong Bản án số 2493 (sau đây viết gọn là Bản án), đoạn nào của bản án cho thấy

bà Khót, ông Tâm và ông Nhật là con của cụ Khánh? 19

Ai được cụ Khánh di chúc cho hưởng toàn bộ tài sản có tranh chấp? 19Tại thời điểm cụ Khánh chết, bà Khót và ông Tâm có là con đã thành niên của cụKhánh không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 20

Bà Khót và ông Tâm có được Tòa án chấp nhận cho hưởng thừa kế không phụthuộc vào nội dung của di chúc không ? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 20Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án 20Hướng giải quyết có khác không khi ông Tâm bị tai nạn mất 85% sức lao động? Vìsao? 21Nêu những điểm giống và khác nhau giữa di chúc và tặng cho tài sản 22Nếu ông Lưu không định đoạt tài sản của ông cho bà Xê bằng di chúc mà, trước khichết, ông Lưu làm hợp đồng tặng cho bà Xê toàn bộ tài sản của ông Lưu thì bàThẩm có được hưởng một phần di sản của ông Lưu như trên không? 23Đối với hoàn cảnh như câu trên, pháp luật nước ngoài điều chỉnh như thế nào? 24Suy nghĩ của/anh chị về khả năng mở rộng chế định đang nghiên cứu cho cả hợpđồng tặng cho 24

D Nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản

Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và nhữngnghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu cơ sở pháp lýkhi trả lời 26Theo BLDS, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người quá cố? Nêu

cơ sở pháp lý khi trả lời 27Ông Lưu có nghĩa vụ nuôi dưỡng chị Hương từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thànhkhông? 27Đoạn nào của Quyết định cho thấy bà Thẩm tự nuôi dưỡng chị Hương từ khi cònnhỏ đến khi trưởng thành? 28

Trang 5

Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, nếu bà Thẩm yêu cầu thì có phải trích cho bà Thẩm từ di sản của ông Lưu một khoản tiền để bù đắp công sức nuôi dưỡng

con chung không? 28

Trên cơ sở các quy định về nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản, anh/chị hãy giải thích giải pháp trên của Tòa án 28

Trong Quyết định số 26, ai là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng người quá cố khi họ còn sống? 29

Trong Quyết định trên, theo Tòa giám đốc thẩm, công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ của ông Vân, ông Vi được xử lý như thế nào? 29

Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa giám đốc thẩm (trong mối quan hệ với các quy định về nghĩa vụ tài sản của người quá cố) 29

Trong vụ việc liên quan đến ông Định (chết năm 2015), nghĩa vụ nào của ông Định được Tòa án xác định chuyển sang cho những người thừa kế của ông Định (ông Lĩnh và bà Thành)? 30

Đoạn nào của Quyết định (năm 2021) cho thấy Tòa án buộc những người thừa kế(của ông Định) thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không lệ thuộc vào việc những người thừa kế đã thực hiện thủ tục khai nhận di sản hay chưa? Hướng như vậy của Tòa án có thuyết phục không, vì sao? 30

Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản có lệ thuộc vào thời điểm nghĩa vụ đã đến hạn thực hiện không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 31

Ở thời điểm ông Định chết (năm 2015), nghĩa vụ của ông Định đã đến hạn thực hiện chưa? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 32

Vì sao Tòa án xác định thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản của người quá cố vẫn còn mặc dù ông Định chết năm 2015 và việc khởi kiện chỉ được tiến hành năm 2019? Hướng của Tòa án như vậy có thuyết phục không, vì sao? 33

Thông qua Quyết định năm 2021, suy nghĩ của anh/chị về tính thuyết phục của quy định về thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản (có nên giữ lại hay không?) 34

BÀI 3 35

Quyết định số 619/2011/DS-GĐT ngày 18/08/2011 35

Quyết định số 767/2011/DS-GĐT ngày 17/10/2011 35

Quyết định số 194/2012/DS-GĐT ngày 23/04/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 36

Quyết định số 363/2013/DS-GĐT ngày 28/08/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 6

Trang 6

Cho biết thực trạng văn bản pháp luật liên quan đến thay đổi, hủy bỏ di chúc (vềthời điểm, cách thức và hình thức thay đổi, hủy bỏ) 37Trong thực tiễn xét xử, việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc có thể ngầm định (tứcngười lập di chúc không cần nói rõ là họ thay đổi hay hủy bỏ di chúc) không? Vìsao? 37Trong thực tiễn xét xử, việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc có phải tuân thủ hình thứccủa di chúc bị thay đổi hay hủy bỏ không? Vì sao? 38Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án trong 03 quyết địnhtrên (3 quyết định đầu) liên quan đến thay đổi, hủy bỏ di chúc 38Đoạn nào cho thấy, trong Quyết định số 363, Tòa án xác định di chúc là có điềukiện? Cho biết điều kiện của di chúc này là gì? 39Cho biết thực trạng văn bản quy phạm pháp luật về di chúc có điều kiện ở ViệtNam?

Cho biết hệ quả pháp lý khi điều kiện đối với di chúc không được đáp ứng 40Cho biết suy nghĩ của anh/chị về di chúc có điều kiện ở Việt Nam (có nên luật hóatrong BLDS không? Nếu luật hóa thì cần luật hóa những nội dung nào?) 41

BÀI 4 42

Án lệ số 24/2018/AL về di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu,quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân 42Trong Án lệ số 24/2018/AL, nội dung nào cho thấy đã có thỏa thuận phân chia disản? 42Trong Án lệ số 24/2018/AL, nội dung nào cho thấy thỏa thuận phân chia di sản đãđược Tòa án chấp nhận? 43Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án chấp nhận thỏa thuận phân chia di sản trên?Anh/chị trả lời câu hỏi này trong mối quan hệ với yêu cầu về hình thức và về nộidung đối với thỏa thuận phân chia di sản 43

Sự khác nhau cơ bản giữa tranh chấp di sản và tranh chấp tài sản 44Trong Án lệ số 24/2018/AL, tranh chấp về tài sản đã được chia theo thỏa thuận trên

là tranh chấp về di sản hay tranh chấp về tài sản? 45Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong Án lệ

Trang 7

Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án xác định phần tài sản ông Trải được hưởng của

cụ Hưng là tài sản chung của vợ chồng ông Trải, bà Tư có thuyết phục không? Vìsao? 46Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án theo hướng chị Phượng được hưởng công sứcquản lý di sản có thuyết phục không? Vì sao? 47

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật Dân sự

CCPL: Căn cứ pháp lý

CSPL: Cơ sở pháp lý

Trang 9

NỘI DUNG THẢO LUẬN BÀI 1

 Quyết định số 08/2013/KDTM-GĐT ngày 15/3/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nguyên đơn là công ty liên doanh sản xuất thép vinausteel (gọi tắt là bên B), bị đơn

là công ty cổ phần kim khí Hưng Yên (gọi tắt là A) do ông Lê Văn Mạnh là giámđốc đại diện Hai bên ký hợp đồng mua bán phôi thép Ngay sau khi hợp đồng được

ký kết, bên B đã chuyển khoản toàn bộ số tiền cho bên A, nhưng bên A đã thườngxuyên không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng Nay bên B yêu cầu bên A phải bồithường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Sau bao phiên tòa, Tòa án hủy quyết địnhgiải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và đình chỉgiải quyết kinh doanh thương mại Giao hồ sơ cho tòa án nhân dân Bắc Ninh xét xử

sơ thẩm theo đúng quy định pháp luật

 Quyết định số 10/2013/KDTM-GĐT ngày 25/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam kiện bị đơn là Công ty cổphần xây dựng 16-Vinaconex Ngày 14/5/2001 Ngân hàng TMCP Công Thương đãcho xí nghiệp xây dựng 4-Công ty Xây dựng số II nay là Công ty cổ phần xây dựng16-Vinaconex vay 2 tw đồng Nay Xí nghiệp 4 không có khả năng trả nợ nên Ngânhàng đã xử lý phát mại một phần tài sản thế chấp Do Xí Nghiệp xây dựng 4 thuộcCông ty cổ phần xây dựng 16-Vinaconex nên Ngân hàng yêu cầu Công ty này phải

có trách nhiệm thanh toán khoản nợ nêu trên và xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh đểthu hồi nợ

A Trường hợp đại diện hợp lệ

1 Điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS năm 2005) về người đại diện.

và vì lợi ích của cánhân hoặc pháp nhânkhác (sau đây được gọichung là người đạidiện) xác lập, thựchiện giao dịch dân sự(Điều 134)

+Pháp nhân có thể đạidiện cho cá nhân và

Đại diện là việc mộtngười (sau đây gọi làngười đại diện) nhândanh và vì lợi ích củangười khác (sau đâygọi là người được đạidiện) xác lập, thựchiện giao dịch dân sựtrong phạm vi đại diện Người đại diện phải cónăng lực hành vi dân

sự đầy đủ, trừ trườnghợp quy định tại khoản

2 Điều 143 của Bộ luật

Trang 10

pháp nhân khác này

+ Không thừa nhậnkhả năng đại diện củapháp nhân (Điều 139)

Năng lực của

người đại diện

Trường hợp pháp luậtquy định thì người đạidiện phải có năng lựcpháp luật dân sự, nănglực hành vi dân sự phùhợp với giao dịch dân

sự được xác lập, thựchiện (Khoản 3 Điều134)

Người đại diện phải cónăng lực hành vi dân

sự đầy đủ, trừ trường

hợp quy định tại khoản

2 Điều 143 (khoản 5Điều 139)

Phân loại đại

diện

Phân loại dựa vào cảcăn cứ xác lập quyền

và chủ thể đại diện + Đại diện theo phápluật của cá nhân

+ Đại diện theo phápluật của pháp nhân+ Đại diện theo ủyquyền

Phân loại dựa vào tiêuchí căn cứ xác lậpquyền (Theo pháp luậthay theo ủy quyền):+ Đại diện theo phápluật

+ Đại diện theo ủyquyền

Hình Thức ủy

quyền

Bỏ qua quy định vềhình thức (vì nếu cóquy định buộc ủyquyền theo một hìnhthức nhất định thì cácquy định chung vềgiao dịch dân sự đãbuộc phải tuân thủ)

Hình thức ủy quyền docác bên thỏa thuận,trừ trường hợp phápluật quy định việc ủyquyền phải được lậpthành văn bản (khoản

sự do người đại diệnxác lập (khoản 4 điều139)

Trang 11

Thời hạn đại

diện và phạm

vi đại diện

Điều 140 BLDS 2015Thời

hạn đại diện được xácđịnh

theo văn bản ủyquyền, theo quyếtđịnh của cơ quan cóthẩm quyền, theo điều

lệ của pháp nhân hoặctheo điều lệ của phápluật

Đại diện theo ủyquyền cũng như đạidiện theo pháp luật

Quy định thời hạn 1năm chỉ đối với đạidiện theo ủy quyền

quyền đại diện

Không nhập hai trườnghợp trong cùng mộtđiều luật

+ Không có quyền đạidiện:

Điều 142 BLDS 2015

đã sửa từ “đồng ý”

thành cụm từ “côngnhận giao dịch” và bổsung thêm hai trườnghợp Không nhập haitrường hợp trong cùngmột điều luật

+ Không có quyền đạidiện: Điều 142 BLDS

2015 đã sửa từ “đồngý” thành cụm từ “côngnhận giao dịch” và bổsung thêm hai trườnghợp

+ Không có quyền đạidiện Điều 142 BLDS2005

2 Trong Quyết định số 08, đoạn nào cho thấy ông Mạnh đại diện cho Hưng Yên xác lập hợp đồng với Vinausteel?

Trong Quyết định số 08, ông Mạnh đại diện cho Hưng Yên xác lập hợp đồng vớiVinausteel Thông tin được nêu ở đoạn:

Ngày 16/01/2007 công ty cổ phần kim khí Hưng Yên (gọi tắt là công ty kim khí Hưng Yên, bên A)-do ông Lê Văn Mạnh-phó tổng giám đốc làm đại

Trang 12

diện ký hợp đồng mua bán phôi thép với công ty sản xuất thép Vinausteel, bên B.

3 Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh có trách nhiệm gì với Vinausteel không?

Theo Hội đồng Thẩm phán, ông Mạnh không có trách nhiệm phải đơn phương bồithường các khoản nợ đối với Vinausteel

Trong phần xét thấy của Quyết định số 8 Hội đồng Thẩm phán đã nhận định:

việc ông mạnh cam kết chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty liên doanh sản xuất thép Vinausteel là việc nội bộ của công ty kim khí Hưng Yên Do đó, công ty kim khí Hưng Yên phải có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ và bồi thường cho công ty Vinausteel chứ không phải cá nhân ông Mạnh ông Dũng

4 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến ông Mạnh (có văn bản nào không về chủ đề này? Có thuyết phục không?)

Hướng giải quyết trên của Tòa là thuyết phục, mặc dù là ông Mạnh là người trựctiếp ký kết hợp đồng với công ty Vinausteel, nhưng ông chỉ là dưới danh nghĩa công

ty chứ không phải của riêng ông Mạnh, nghĩa là hợp đồng này là giữa 2 pháp nhânvới nhau Hơn nữa ông Mạnh được bà Lan ủy quyền cho thực hiện các giao dịchdân sự trong phạm vi kinh doanh của công ty, nên việc bồi thường phải do công tyHưng Yên giải quyết, ông Mạnh không phải chịu trách nhiệm bồi thường với công

ty Vinausteel, tuy nhiên ông Mạnh phải chịu trách nhiệm với công ty của mình.Việc ông Mạnh ký kết hợp đồng là không vượt quá thẩm quyền của ông căn cứ theokhoản 1 Điều 141 BLDS 2015:

Điều 141 Phạm vi đại diện

1 Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm

vi đại diện theo căn cứ sau đây:

a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;

b) Điều lệ của pháp nhân;

c) Nội dung ủy quyền;

d) Quy định khác của pháp luật.

5 Theo Hội đồng thẩm phán, Hưng Yên có trách nhiệm gì với Vinausteel không?

Theo Hội đồng thẩm phán, công ty Hưng Yên phải chịu trách nhiệm bồi thườngthiệt hại cho công ty Vinausteel

Thông tin trên được nêu ở phần “XÉT THẤY” như sau:

Trang 13

công ty kim khí Hưng Yên phải có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ và bồi thường thiệt hại cho công ty Vinausteel chứ không phải cá nhân ông Mạnh ông Hùng.

6 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến Hưng Yên nêu trên.

Hướng giải quyết của tòa giám đốc thẩm là hợp lý vì:

Thứ nhất, hướng giải quyết này là phù hợp về mặt pháp lý Cụ thể khoản 1 điều 141

BLDS 2015 quyết định" Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vớingười thứ ba làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện"

Thứ hai, căn cứ vào Khoản 1 điều 141 BLDS 2015 quá trình giao kết hợp đồng

giữa ông Mạnh với Vinausteel hoàn toàn nằm trong phạm vi đại diện, ông Mạnhkhông vượt quá phạm vi đại diện Cụ thể, nội dung giấy ủy quyền cho ông Lê VănMạnh là nhằm thực hiện các giao dịch dân sự, kinh tế và thương mại trong phạm vingành kinh doanh của công ty Theo đó, hợp đồng mua bán phôi thép giữa công tyVinausteel và công ty Kim khí Hưng Yên cho ông Mạnh ký kết hoàn toàn thuộcphạm vi đại diện Vì vậy, hợp đồng này làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối vớicông ty Kim Khí Hưng Yên

Thứ ba, việc công ty Kim Khí Hưng Yên và bà Lan từ chối nhận nghĩa vụ và trách

nhiệm do không biết hoặc không nắm là hoàn toàn không có căn cứ Bởi lẽ, sau khi

ký hợp đồng với công ty Vinausteel công ty Kim khí Hưng Yên tại công văn đề nghịngày 3/1/2007 về việc xin lùi thời gian giao hàng Hơn nữa, công ty Kim khí HưngYên thừa nhận nhận được số tiền cho công ty Vinausteel thực hiện nghĩa vụ chuyểntiền mà có Có thể thấy, công ty Kim Khí Hưng Yên đã biết về nghĩa vụ chuyển tiền

từ công ty Vinausteel nên không thể cho rằng công ty này hay bà Lan hoàn toànkhông biết về việc ông Mạnh ký hợp đồng trong phạm vi đại diện

7 Nếu ông Mạnh là đại diện theo pháp luật của Hưng Yên và trong hợp đồng

có thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài này có ràng buộc Hưng Yên không? Biết rằng điều lệ của Hưng Yên quy định mọi tranh chấp liên quan đến Hưng Yên (như tranh chấp phát sinh từ hợp đồng do đại diện theo pháp luật xác lập) phải được giải quyết tại Tòa án.

Trong trường hợp này thỏa thuận vẫn ràng buộc Công ty hưng Yên vì:

Thứ nhất, cần xác định điều lệ pháp nhân chỉ mang ý chí đơn phương của pháp

nhân đó trong khi hợp đồng có nguyên tắc cơ bản là dựa trên tính tự nguyện, bìnhđẳng và ý chí song hoặc đa phương Việc áp dụng điều lệ của công ty Hưng Yên đốivới cả những giao dịch dân sự, tranh chấp có liên quan đến pháp nhân khác làkhông hợp lý

Trang 14

Thứ hai, điều 1 khoản 2 điều 77 BLDS có quy định Điều lệ pháp nhân bao gồm

nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ Có thể thấy, tranh chấp phát sinh giữaCông Ty Hưng Yên và công ty Vinausteel không còn nằm trong nội bộ của công tyHưng Yên nữa mà còn có sự tham gia của một pháp nhân khác

Thứ ba, có thể thấy, ngay cả trong trường hợp việc tranh chấp được giải quyết nhờ

trọng tài bị vô hiệu cũng không làm ảnh hưởng đến phần còn lại của hợp đồng Do

đó, theo điều 130 BLDS 2015 thì giao dịch này chị có thể bị vô hiệu một phần vàvẫn sẽ phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với công ty Hưng Yên

B Trường hợp đại diện không hợp lệ

8 Trong Quyết định số 10, đoạn nào cho thấy người xác lập hợp đồng với Ngân hàng không được Vinaconex ủy quyền (không có thẩm quyền đại diện để xác lập)?

Trong Quyết định số 10 ở phần “XÉT THẤY” , đoạn cho thấy người xác lập hợp

đồng với Ngân hàng không được Vinaconex ủy quyền (không có thẩm quyền đạidiện để xác lập) là:

Theo tài liệu do Công ty xây dựng số II Nghệ An xuất trình thì ngày 26/3/2001, Công ty xây dựng số II có Công văn số 263 CV/XD2.TCKT quy định về việc vay vốn tín dụng của các đơn vị trực thuộc và ngày 06/4/2001,Công ty xây dựng số II Nghệ An có Công văn số 064CV/XDII.TCKT gửi Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An trong

đó có nội dung “đề nghị Ngân hàng Công thương Nghệ An không cho các

Xí nghiệp thuộc Công ty xây dựng số II Nghệ An vay vốn khi chưa có bảo lãnh vay vốn của Công ty kể từ ngày 06/4/2001…” và “Các văn bản của Công ty liên quan tới vay vốn tại Ngân hàng Công thương Nghệ An ban hành trước ngày 06/4/2001 đều bãi bỏ”, nhưng ngày 14/5/2001 Ngân hàng vẫn ký Hợp đồng tín dụng số 01/HĐTD của Xí nghiệp xây dựng 4 vay tiền.

9 Trong vụ việc trên, theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex có chịu trách nhiệm với Ngân hàng về hợp đồng trên không?

Theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex phải chịu trách nhiệm với Ngân hàng về hợpđồng trên Điều này được thể hiện qua đoạn

Sau khi Xí nghiệp xây dựng 4 vay tiền ngân hàng, Công ty xây dựng số II Nghệ An biết và không phản đối nên Công ty xây dựng số II Nghệ An (nay

là Công ty cổ phần xây dựng 16-Vinaconex) phải chịu trách nhiệm trả khoản nợ này.

10 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.

Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm là hợp lý vì:

Trang 15

Thứ nhất, Công ty Vinaconex đã đồng ý cho xí nghiệp xây dựng 4 trực thuộc Công

ty Vinaconex vay vốn từ ngân hàng thông qua việc Tổng giám đốc Vinaconex cóvăn bản số 23 CV/TCT thông báo cho ngân hàng biết việc Vinaconex đồng ý cho xínghiệp xây dựng 4 trực tiếp vay vốn tại chi nhánh ngân hàng Sau đó, Vinaconex cócông văn số 064CV/XDII.TCKT bãi bỏ văn bản trên Căn cứ theo Điểm c khoản 1Điều 142 BLDS 2015, Công ty Vinaconex có lỗi dẫn đến việc ngân hàng không thểbiết được Xí nghiệp xây dựng 4 không có quyền đại diện nên giao dịch dân sựkhông làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với Công ty Vinaconex

Thứ hai, có căn cứ để cho rằng Vinaconex biết được việc Xí nghiệp xây dựng 4 vay

vốn ngân hàng và không phản đối Điều này được thể hiện qua hàng loạt các sự kiệnnhư Xí nghiệp xây dựng 4 dùng tiền vay ngân hàng để mua máy móc và có thựchiện báo cáo tài chính định kỳ cho Công ty Vinaconex, Công ty Vinaconex sử dụngnhững máy móc trên để phục vụ công trình thi công Dựa trên Điểm b khoản 1Điều 142 BLDS 2015 thì Vinaconex biết mà không phản đối trong thời hạn hợp lýnên hợp đồng trong bản án vẫn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với Vinaconex

11 Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàng phản đối hợp đồng (yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện) thì phải xử lý như thế nào trên cơ sở BLDS 2015? Vì sao?

Trong trường hợp trên, căn cứ theo Khoản 3 Điều 142 BLDS 2015 thì ngân hàngkhông có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ hợp đồng do bênkhông có quyền đại diện xác lập Bởi lẽ:

Thứ nhất, ngân hàng hoàn toàn không có căn cứ để biết được rằng Xí nghiệp xây

dựng 4 không có quyền đại diện Như đã chứng minh ở trên, Công ty Vinaconexkhông chứng minh được rằng ngân hàng đã nhận công văn xuống 064CV/XDII bãi

bỏ những văn bản đồng ý cho các Xí nghiệp trực thuộc vay vốn được bảo lãnh

Thứ hai, người được đại diện, công ty Vinaconex đã biết và không phản đối hợp

đồng như đã chứng minh ở trên nên thỏa mãn điểm a khoản 1 Điều 142

BÀI 2

 Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòa dân sự Tòa Án nhân dân tối cao.

Nguyên đơn: Bà Cao Thị Xê

Bị đơn: Chị Võ Thị Thu Hương và Anh Nguyễn Quốc Chính

Nội dung vụ việc: Vụ việc tranh chấp thừa kế tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn vềngôi nhà cùng một số tài sản trong gia đình tại thành phố Mỹ Tho Nguyên đơn kếthôn với ông Võ Văn Lưu vào năm 1996, tuy nhiên toàn bộ số tài sản trên là tài sảnchung của hai vợ chồng Năm 2003, ông Lưu mất và trước khi chết có để lại di chúc

Trang 16

để lại toàn bộ tài sản của mình cho bà Xê Tuy nhiên, vào năm 1964, ông Lưu đã kếthôn với bà Nguyễn Thị Thẩm (mẹ của chị Võ Thị Thu Hương) và có đăng ký kếthôn vào ngày 26/10/1964 ở Phú Thọ Sau ngày công tác, ông Lưu chuyển vào miềnNam còn mẹ con chị Hương vẫn ở Phú Thọ; vì vậy việc ông Lưu lấy bà Xê là bấthợp pháp Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2005/DSST đã chấp nhận yêu cầu kiện chịHương và anh Chính của bà Xê và cho bà được hưởng toàn bộ di sản do ông Lưu đểlại theo di chúc.

Tuy nhiên, tại Quyết định số 377/2008/DS-GĐT, Tòa nhận định di chúc của ôngLưu là không đảm bảo quyền lợi của bà Thẩm – vợ hợp pháp của ông Lưu Quyếtđịnh cho Bà Thẩm không được hưởng 2/3 kỷ phần thừa kế theo quy định của phápluật là không đúng; bà vẫn có quyền thừa kế tài sản của ông Lưu mà không phụthuộc vào nội dung di chúc Hội đồng Giám đốc thẩm quyết định hủy bỏ bản án dân

sự phúc thẩm và sơ thẩm, giao lại hồ sơ vụ án giải quyết theo đúng quy định củapháp luật

 Quyết định số 08/2013/DS-GĐT ngày 24/01/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Nguyên đơn: Phạm Thị Ơn

Bị đơn: Lý Thị Chắc

Ông Nguyễn Kỳ Huệ (cha chồng của bà Ơn) có xây một căn nhà rộng 48.8 m2 trêndiện tích đất rộng 921,4 m2, được Sở xây dựng tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứngnhận Trước khi chết, cụ Huệ để lại di chúc giao toàn bộ tài sản cho ông Hà (conông Huệ) Ông Hà chết và không để lại di chúc Theo thỏa thuận, nguyên đơn đượcthừa kế toàn bộ tài sản này; nhưng trên thực tế, bị đơn đã được cụ Thiệu (mẹ đẻ ôngHuệ) cho ở nhờ trong nhà này một khoảng thời gian rất dài nên bị đơn đã mặc địnhđây là tài sản của mình Trong vụ việc, nguyên đơn yêu cầu bị đơn dọn đi nơi khác

và trả lại ngôi nhà còn bị đơn không đồng ý trả lại nhà đất cho nguyên đơn và yêucầu được công nhận đây là tài sản của mình

Về phía Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm, yêu cầu của phía bị đơn không được chấpnhận Viện kiểm sát kháng nghị, chỉ rõ những sai sót của Tòa án sơ thẩm và phúcthẩm đồng thời xem xét lại quyền lợi của bị đơn trong công sức quản lý và bảo vệdiện tích đất cũng như căn nhà nêu trên Quyết định của Tòa dân sự Tòa án nhândân tối cao đưa ra là hủy bản án sơ thẩm – phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án lại cho Tòa

án Nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử

 Bản án số 2493/2009/DS-ST ngày 04/9/2009 của Tòa án nhân dân Tp Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Khót, ông An Văn Tâm

Bị đơn: ông Nguyễn Tài Nhật

Trang 17

Cụ Khánh với cụ Lầm có 2 con là bà Khót, ông Tâm.

Cụ Khánh với Ngọt có 1 con là ông Nhật

Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Khánh là bà Khót, ông Tâm và ông Nhật

Cụ Khánh lập di chúc cho ông Nhật là người duy nhất thừa kế căn nhà 83 LươngĐịnh Của, phường An Khánh, quận 2 (cả 3 đương sự thống nhất có giá trị là1.800.000)

Ông Tâm, bà Khót yêu cầu được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của

di chúc (400.000.000 đồng) do không có khả năng lao động Vì ông Tâm 68 tuổi, lại

là thương binh 2/4 (bị suy giảm 62% khả năng lao động) Còn bà Khót đã 71 tuổi.Quyết định của tòa án: Không chấp nhận hoàn toàn yêu cầu của bà Khót và ôngTâm về việc hưởng di sản của cụ Khánh theo diện những người được hưởng thừa kếkhông phụ thuộc vào nội dung di chúc

 Quyết định số 26/2013/DS-GĐT ngày 22/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng Vũ, Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, Bà Nguyễn Thị Kim Dung

Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng Vân

Nội dung tranh chấp: tranh chấp di sản thừa kế

Cụ Nguyễn Văn Phúc và cụ Phạm Thị Thịnh có 6 người con là các ông bà: Nguyễn Hồng Vũ, Nguyễn Thị Kim Oanh, Nguyễn Hồng Vân, Nguyễn Thị Kim Dung, Nguyễn Thị Kim Thu, Nguyễn Hồng Vi Năm 1999, cụ Phúc chết không để lại di chúc Năm 2007, cụ Thịnh chết có di chúc để lại phần tài sản của cụ cho ông Vân Xét thấy ông Vân có sự ép buộc đối với các nguyên đơn trong việc ký giấy sang tên nhà, các anh chị em của ông Vân (tức phía nguyên đơn) khởi kiện yêu cầu chia thừa

kế Cụ thể, bà Oanh và bà Dung yêu cầu chia thừa kế, ông Vũ yêu cầu đòi chia bằnghiện vật

Quyết định của Tòa sơ thẩm: xác nhận ngôi nhà là tài sản của cụ Phúc và cụ Thịnh; xác nhận di chúc của cụ Thịnh là hợp pháp; bác yêu cầu đòi kiện chia thừa kế của

bà Oanh và bà Dung; không chấp nhận yêu cầu đòi chia bằng hiện vật của ông Vũ.Quyết định của Tòa phúc thẩm: sửa một phần bản án sơ thẩm; chấp nhận yêu cầu đòi chia thừa kế của bà Oanh và bà Dung

Quyết định của Tòa tối cao: hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm; giao hồ sơ vụ

án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật

 Quyết định số 533/2021/QĐ-PQTT ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân

TP Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn: Yue Da Mining Limited

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Hởi, Bà Nguyễn Thị Hồng Vân, Ông Huỳnh Công Lĩnh,

Bà Trần Thị Bông Thành

Quyết định về việc yêu cầu hủy phán quyết trọng tài do phía bị đơn yêu cầu

Trang 18

Yue Da Mining Limited (phía nguyên đơn trong phán quyết) yêu cầu tiến hành thủtục xử lý tài sản đảm bảo theo quy định tại Điều 5.1 của Hợp đồng đảm bảo ngày5/9/2013 mà Yue Da Mining Limited đã ký với ông Nguyễn Văn Hởi, bà NguyễnThị Hồng Vân, bà Trần Thị Bông Thành (phía bị đơn trong phán quyết).

Phán quyết trọng tài đã quyết định như sau: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiệncủa nguyên đơn, buộc các bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số nợ gốc là 5.962.783USD và không chấp nhận các yêu cầu về số tiền lãi chậm trả tính trên nợ gốc củanguyên đơn

Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xem xét vấn đề các thủ tục tố tụng có sự

vi phạm nghiêm trọng của Luật Trọng tài thương mại và đưa ra lý do Phán quyếtkhông trái với nguyên tắc của pháp luật Việt Nam Do đó, Tòa án nhân dân ra quyếtđịnh không hủy Phán quyết trọng tài tranh chấp nêu trên

- BLDS 2015 đưa ra quy định về 3 hình thức sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu riêng

và sở hữu chung thay cho 6 hình thức sở hữu được quy định trong BLDS 2005 tạiĐiều 172 BLDS 2005:

Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, các hình thức sở hữu bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,

sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức

xã hội - nghề nghiệp.

- Hình thức sở hữu riêng và tài sản thuộc sở hữu riêng: Đối với BLDS 2005, được

quy định tại Điều 211: “Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân” Đối với BLDS 2015 hiện nay, hình thức sở hữu riêng được quy định tại Điều 205: “Sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân Tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng, giá trị” Ta có thể

thấy rằng:

+ “Sở hữu tư nhân” được chuyển đổi thành “sở hữu riêng” nhằm bao hàm tất cả các

đối tượng đều có quyền sở hữu riêng, đối với cá nhân và cả pháp nhân

+ Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc pháp nhân được thành lập theo quy định củaBLDS 2015 và các luật khác có liên quan Pháp nhân được thành lập theo sáng kiếncủa cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

Trang 19

đăng ký pháp nhân bao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi và đăng ký kháctheo quy định của pháp luật và phải được công bố công khai.

+ Như vậy, pháp nhân phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, chophép thành lập, đăng ký hoặc công nhận nhằm tạo sự ngắn gọn, tránh rườm rà choviệc áp dụng PL

+ Bên cạnh đó, các tài sản hợp pháp của cá nhân và pháp nhân thuộc sở hữu riêng

sẽ không bị hạn chế về số lượng và giá trị, điều mà đã không được xác định rõ trongBLDS 2005

- Hình thức “sở hữu nhà nước” được quy định ở BLDS 2005 được đổi thành hình thức “sở hữu toàn dân” quy định ở BLDS 2015

- Trong hình thức sở hữu chung, so với BLDS 2005, BLDS 2015 đã bổ sung thêm

Điều 212 quy định về “Sở hữu chung của các thành viên gia đình” Ngoài ra, trong

bộ luật này còn xuất hiện những sửa đổi, bổ sung tại Khoản 4, 5, 6 Điều 218 chỉđịnh các trường hợp mà một hay nhiều chủ sở hữu chung từ bỏ quyền sở hữu đốivới tài sản thuộc sở hữu chung

2 Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm không? Đoạn nào của Quyết định số 377 (sau đây viết gọn là Quyết định 377) cho câu trả lời?

Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hônnhân với bà Thẩm Trích dẫn trong Quyết định 377 cho nhận định trên trong phần

“Nhận thấy” như sau:

Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm Thực tế, từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào miền Nam công tác, nhưng giữa ông Lưu và bà Thẩm có kinh tế riêng và ông Lưu đứng tên riêng đối với nhà đất trên do ông Lưu tự tạo lập và là tài sản riêng của ông Lưu, cho thấy bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức tạo lập nên ông Lưu có quyền định đoạt với căn nhà nêu trên.

Ngoài ra trong phần “Xét thấy” cũng có dẫn chứng là:

Quan hệ hôn nhân của ông Lưu và bà Thẩm là mối quan hệ hợp pháp và vẫn đang tồn tại theo quy định của pháp luật, còn hôn nhân của ông Lưu và

bà Xê là vi phạm pháp luật Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt được ông Lưu tạo lập trong thời kì hôn nhân giữa ông và bà Thẩm.

3 Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà hay sở hữu riêng của ông Lưu ? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?

Theo bà Thẩm, căn nhà trên là thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà Trích dẫn trong

Quyết định 377 cho nhận định trên như sau: “ còn bà Thẩm cho rằng căn nhà số

Trang 20

150/6A Lý Thường Kiệt trên diện tích 101m2 đất là tài sản chung của vợ chồng bà nên không nhất trí theo yêu cầu bà Xê”.

Ngoài ra, sau khi xét xử phúc thẩm, bà Thẩm có đơn khiếu nại cho rằng căn nhàđang tranh chấp là tài sản chung của bà và ông Lưu, bà yêu cầu được chia tài sảnchung và được chia thừa kế theo pháp luật

4 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của ông Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?

Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu riêng của ôngLưu Trích dẫn trong Quyết định 377 cho nhận định trên trích trong phần Nhận địnhcủa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao như sau:

Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm Thực tế, từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào miền Nam công tác, nhưng giữa ông Lưu và bà Thẩm có kinh tế riêng và ông Lưu đứng tên riêng đối với nhà đất trên do ông Lưu tự tạo lập và là tài sản riêng của ông Lưu, cho thấy bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức tạo lập nên ông Lưu có quyền định đoạt với căn nhà nêu trên.

Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án bà Thẩm có thừa nhận căn nhà là do ôngLưu tạo lập và là tài sản riêng của ông Lưu, còn bà Thẩm và chị Hương vẫn ở ngoàimiền Bắc nên ta có cơ sở xác định căn nhà trên là tài sản riêng của ông Lưu

Thêm vào đó, trong phần “Xét thấy”, Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tối cao đã

nhất trí với quyết định nêu trên của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về tài sản củaông Lưu

5 Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?

Theo quan điểm của em, giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao làhợp lý và thuyết phục Nguyên nhân là do:

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định rằng:

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Từ đây ta có thể thấy rằng căn nhà được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với

bà Thẩm là tài sản chung của hai vợ chồng ông Lưu và bà Thẩm

Trang 21

Ngoài ra căn cứ thêm vào Khoản 2 và 3 Điều 213 BLDS 2015 có quy định như sau:

2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3 Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

Từ đây ta có thể nói rằng ông Lưu và bà Thẩm có thẩm quyền tương tự nhau trongviệc sở hữu căn nhà nên việc ông Lưu lập di chúc để lại cho bà Xê toàn quyền sửdụng toàn bộ tài sản gồm nhà cửa, đồ dùng trong căn nhà là không hợp lý và khôngđảm bảo quyền lợi hợp pháp của bà Thẩm

Bên cạnh đó, quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm vẫn còn cho đến khi ôngkết hôn với bà Xê và khi ông chết Theo đó, ông Lưu đã để bà Thẩm và con mình ởlại Phú Thọ và bà Thẩm đã tự mình nuôi con khôn lớn trưởng thành Hôn nhân củaông và bà Xê là không hợp pháp nhưng ông lại để lại toàn bộ di sản cho bà Xê.Quyền lợi của bà Thẩm là người vợ hợp pháp lại không được đảm bảo Bà đã cócông nuôi dưỡng các con ông, có công giữ gìn tài sản chung của cả hai thế nên bàphải được hưởng di sản của ông

Vì thế cho nên, theo em, quan điểm của Tòa án là hợp lý và thỏa đáng

6 Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu có thể di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lý khi trả lời.

Căn cứ pháp lý: Khoản 2 và 3 Điều 213 BLDS 2015; Khoản 1 Điều 29 Luật Hônnhân và Gia đình 2014

Giải thích: Dựa vào Khoản 2 và Khoản 3 Điều 213 BLDS 2015, có quy định là:

2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3 Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

Thêm vào đó, Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình cũng có quy định là:

1 Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu không thể dichúc định đoạt toàn bộ căn nhà mà chỉ được quyền định đoạt phần tài sản của ôngtrong tài sản chung Vì vậy, Ông Lưu phải thoả thuận với bà Thẩm về việc định đoạttài sản chung chứ không thể tự mình định đoạt toàn bộ di sản theo di chúc Do đótrong trường hợp này, ông Lưu chỉ có quyền di chúc định đoạt ½ căn nhà còn ½ cănnhà là thuộc về bà Thẩm

Trang 22

Xét thấy trong phần “Nhận định”, ông Lưu và bà Thẩm là vợ chồng đã có đăng kí

kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kinh Nghệ, tỉnh Phú Thọ năm 1964 trên cơ sở tựnguyện Quan hệ giữa ông Lưu và bà Thẩm là hợp pháp và hiện vẫn đang tồn tạitheo quy định của pháp luật Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 651 BLDS 2015

quy định rằng: “a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi,

mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết” Vì vậy Bà Thẩm là vợ hợp pháp của

ông Lưu nên thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông

Chị Hương là con gái chung của ông Lưu và bà Thẩm nên ta có thể kết luận chịthuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu Dựa vào căn cứ pháp lý nêu trên, ta cóthể suy ra chị Hương là con đẻ của ông Lưu nên cũng thuộc vào hàng thừa kế thứnhất của ông

Về phía bà Xê, bà không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu do bà khôngphải là vợ hợp pháp của ông Lưu Năm 1996, bà Xê và ông Lưu có đăng kí kết hôntại UBND Phường 06 thuộc tỉnh Tiền Giang và chung sống với nhau đến năm 2003thì ông Lưu chết Từ đây ta có thể thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu và bà

Xê là vi phạm pháp luật Căn cứ theo Điều 1 Luật Hôn nhân và Gia đình quy địnhnhư sau:

1 Nhà nước bảo đảm thực sự chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc, bền vững.

Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc các tôn giáo khác nhau, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo được tôn trọng và bảo vệ.

Ngoài ra, Khoản a Điều 7 Luật Hôn nhân và Gia đình còn có quy định là:

Cấm kết hôn trong những trường hợp sau đây:

a) Đang có vợ hoặc có chồng;

Ông Lưu đã kết hôn với bà Thẩm vào năm 1964, trên cơ sở đó, ta có thể xác địnhông Lưu và bà Thẩm có quan hệ hôn nhân hơn một vợ một chồng Bà Xê và ôngLưu đăng ký kết hôn vào năm 1996, thời điểm này Luật Hôn nhân và Gia đình năm

1986 đã phát sinh hiệu lực Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Xê không

Trang 23

được pháp luật công nhận vì trước đó ông Lưu và vợ là bà Thẩm vẫn có quan hệhôn nhân tồn tại theo pháp luật Bà Xê không phải là vợ hợp pháp của ông Lưu chonên đương nhiên không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu.

8 Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không? Vì sao?

Nếu ông Lưu và bà Xê kết hôn vào cuối năm 1976 thì câu trả lời trên có khác Vìtheo điểm a khoản 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 Quy định về ngườithừa kế theo pháp luật:

a) Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13-01-1960 - ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25-3-1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có

vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ

Như vậy thì trường hợp ông Lưu, bà Xê sống với nhau từ cuối năm 1976, hai ngườisống ở miền Nam thuộc trường hợp của điểm a Khoản 4 Nghị quyết này nên ôngLưu và bà Xê là vợ chồng hợp pháp, do đó bà Xê thuộc hàng thừa kế thứ nhất củaông Lưu

9 Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưu không? Vì sao?

Chị Hương sẽ không được chia di sản của ông Lưu vì:

Theo khoản 1 Điều 644 BLDS 2015 quy định về đối tượng thừa kế không phụ thuộcvào nội đúng di chúc như sau:

1.Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”

Trong trường hợp này, không có chi tiết nào trong quyết định nói rằng chị Hươngkhông có khả năng lao động, nên chị Hương sẽ không thuộc diện đương nhiênhưởng thừa kế mặc dù không có trên trong chúc

10 Theo pháp luật hiện hành, ở thời điểm nào người thừa kế có quyền sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại ? Nêu cơ sở khi trả lời.

Căn cứ Điều 613 BLDS 2015:

Trang 24

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Vậy theo pháp luật hiện hành người thừa kế có quyền sở hữu đối với tài sản khingười thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặcsinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa

án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

C Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

12 Đoạn nào của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn

bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê?

Đoạn trích thuộc Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tàisản của ông Lưu cho bà Xê là

Trước khi chết, ông Lưu có để lại di chúc cho bà được quyền sử dụng toàn

bộ tài sản gồm nhà cửa, đồ dùng trong gia đình.

Việc ông Lưu lập văn bản đề là “Di chúc” ngày 27-7-2002 là thể hiện ý chí của ông Lưu để lại tài sản của ông cho bà Xê là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

13 Bà Xê, bà Thẩm, chị Hương có thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu không? Vì sao?

Bà Xê không thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của dichúc đối với di sản của ông Lưu vì trong di chúc ông Lưu đã định đoạt toàn bộ tàisản của mình cho bà Xê

Bà Thẩm thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúcđối với di sản của ông Lưu Vì mặc dù ông Lưu và bà Xê có đăng ký kết hôn nhưngviệc đó xảy ra khi hôn nhân của ông Lưu và bà Thẩm còn hiệu lực nên cuộc hônnhân này là bất hợp pháp, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 675 BLDS 2005

về những trường hợp thừa kế theo pháp luật:

Trang 25

2 Thừa kế theo phâp luật cũng được âp dụng đối với câc phần di sản sau đđy:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

Tuy tăi sản trong di chúc lă tăi sản riíng của ông Lưu nhưng hôn nhđn của bă vẵng Lưu lă hợp phâp vă từ khi ông Lưu văo miền Nam, bă đê trực tiếp nuôi dưỡngcon nín có công nuôi dưỡng con chung của hai người Mặt khâc, bă cũng đê giăyếu, không còn khả năng lao động Vậy nín bă Thẩm thuộc hăng thừa kế thứ nhấttheo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 về người thừa kế theo phâpluật:

1 Những người thừa kế theo phâp luật được quy định theo thứ tự sau đđy: a) Hăng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Vă theo quy định tại Điều 669 BLDS 2005 về người thừa kế không phụ thuộc văonội dung của di chúc:

Những người sau đđy vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo phâp luật, nếu di sản được chia theo phâp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ lă những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ lă những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật năy:

1 Con chưa thănh niín, cha, mẹ, vợ, chồng;

2 Con đê thănh niín mă không có khả năng lao động.

Chị Hương không thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc văo nội dungcủa di chúc đối với di sản của ông Lưu Vì tuy chị lă con ruột của ông Lưu nhưng

đê thănh niín vă vẫn còn khả năng lao động nín quy định tại Điều 669 BLDS 2005

về người thừa kế không phụ thuộc văo nội dung của di chúc:

Những người sau đđy vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo phâp luật, nếu di sản được chia theo phâp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ lă những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ lă những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật năy:

1 Con chưa thănh niín, cha, mẹ, vợ, chồng;

2 Con đê thănh niín mă không có khả năng lao động.

Trang 26

14 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, vì sao bà Thẩm được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Trích một phần trong Bản án:

Trong suốt thời gian từ khi ông Lưu vào miền Nam công tác, bà Thẩm và người trực tiếp nuôi dưỡng con chung của ông bà từ lúc còn nhỏ cho đến khi trưởng thành nhưng không xem xét đến công sức nuôi con chung của bà Thẩm và không trích từ giá trị khối tài sản của ông Lưu để bù đắp công sức nuôi con chung cho bà Thẩm là chưa đảm bảo quyền lợi cho bà Thẩm.

Bà Thẩm đang là vợ hợp pháp của ông Lưu đã già yếu, không còn khả năng laođộng và là người thừa kế của hàng thứ nhất nhưng không được ông Lưu xác định làngười thừa kế tài sản theo di chúc nên theo quy định tại Điều 669 BLDS thì bàThẩm được thừa hưởng tài sản của ông Lưu mà không phụ thuộc vào nội dung dichúc của ông Lưu

15 Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì có được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Vì sao?

Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì vẫn được hưởng thừa kế khôngphụ thuộc vào nội dung di chúc đối với di sản của ông Lưu Vì giữa bà và ông Lưu

là quan hệ hôn nhân hợp pháp, vẫn đang tồn tại Theo quy định tại Điều 669 BLDS

2005 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1 Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2 Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.

Do đó việc bà Thẩm được hưởng một phần di sản của ông Lưu không liên quan gìđến chuyện bà còn khả năng lao động hay không

16 Nếu di sản của ông Lưu có giá trị 600 đồng triệu thì bà Thẩm sẽ được hưởng khoản tiền là bao nhiêu? Vì sao?

Căn cứ pháp lý: Điểm a Khoản 1 Điều 644 BLDS 2015; Khoản 1 Điều 699 BLDS2005

Trang 27

Căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Điều 644 BLDS 2015 hay Khoản 1 Điều 669 BLDS

2005 (có hiệu lực khi Tòa giải quyết vụ việc), thì bà Thẩm sẽ nhận được phần di sảnbằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật tức: (600/2) * (⅔) = 200triệu đồng

17 Nếu bà Thẩm yêu cầu được chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu của bà Thẩm có được chấp nhận không? Vì sao?

Vì bà Thẩm thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo điểm a khoản 1 điều 651 BLDS 2015(điểm a khoản 1 Điều 676 BLDS 2005) nên việc bà được chia di sản theo pháp luật,không phụ thuộc vào nội dung di chúc là đương nhiên Tuy nhiên, việc bà Thẩm yêucầu được chia di sản bằng hiện vật có được chấp nhận hay không vẫn còn tùy vào

sự thỏa thuận của bà với các cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan đến di sản màđặc biệt là bà Xê Vì đối với tài sản hiện vật ông Lưu tạo lập được (ở đây là nhà cửa

và đồ dùng trong gia đình), ông Lưu đã có định đoạt bằng di chúc hợp pháp để lạitoàn bộ cho bà Xê Khi giải quyết tranh chấp thừa kế tài sản, xét thấy công sức nuôidưỡng con chung từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành của bà Thẩm, bà Thẩm được

bù đắp công sức trích từ giá trị khối tài sản của ông Lưu Nếu không thỏa thuậnđược, bà Thẩm sẽ nhận thừa kế bằng tiền

18 Trong Bản án số 2493 (sau đây viết gọn là Bản án), đoạn nào của bản án cho thấy bà Khót, ông Tâm và ông Nhật là con của cụ Khánh?

Đoạn “Về diện và hàng thừa kế” thuộc phần “XÉT THẤY” cho thấy bà Khót, ông

Tâm và ông Nhật là con của cụ Khánh Cụ thể:

Cụ Nguyễn Thị Khánh và cụ An Văn Lầm (chết năm 1938) có 2 con là bà Nguyễ Thị Khót năm 1929, ông An Văn Tầm sinh năm 1932 Cụ Khánh và

cụ Nguyễn Tài Ngọt (chết năm 1973) có 1 con là ông Nguyễn Tài Nhật sinh năm 1930 Năm 2000 cụ Khánh chết Mặc dù các đương sự không xuất trình được giấy khai sinh một cách đầy đủ nhưng đều thống nhất xác nhận các con của cụ Khánh là bà Khót, ông Tâm, ông Nhật và không có tranh chấp gì về hàng thừa kế đồng thời cũng xác nhận cha mẹ của cụ Khánh chết trước cụ Khánh đã lâu Căn cứ Điều 679 của Bộ luật dân sự 1995, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Khánh gồm: bà Khót, ông Tâm và ông Nhật.

19 Ai được cụ Khánh di chúc cho hưởng toàn bộ tài sản có tranh chấp?

Ông Nhật được cụ Khánh di chúc cho hưởng toàn bộ tài sản có tranh chấp Điều nàythể hiện ở trong bản án

Ngày 30/05/1992 tại Phòng công chứng nhà nước số 2, Thành phố Hồ Chí Minh cụ Khánh lập di chúc cho ông Nhật là người duy nhất được quyền thừa kế căn nhà 83 Lương Định Của, phường An Khánh, quận 2.

Ngày đăng: 09/05/2023, 16:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w