20 3.2.Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kiến thức của bà mẹ về dự phòng bệnh còi xương do thiếu vitamin D ở trẻ .... Đây là bệnh toàn thân xảy ra trên cơ thể mà hệ xương còn đang t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
TỐNG THỊ THUÝ HẰNG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VỀ PHÒNG BỆNH CÒI XƯƠNG DO THIẾU VITAMIN D CỦA BÀ MẸ CÓ CON TỪ 2 - 12 THÁNG TUỔI
TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NINH BÌNH NĂM 2022
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH – 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
TỐNG THỊ THUÝ HẰNG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VỀ PHÒNG BỆNH CÒI XƯƠNG DO THIẾU VITAMIN D CỦA BÀ MẸ CÓ CON TỪ 2 - 12 THÁNG TUỔI
TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI NINH BÌNH NĂM 2022
Chuyên ngành: Điều dưỡng nhi khoa
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS.BS Vũ Văn Thành
NAM ĐỊNH – 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực thực hiện khoá luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
về kiến thức và tinh thần từ các thầy, cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp
Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học và các thầy, các cô - Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo mọi điều kiện để tôi được học tập và hoàn thành khóa học này
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới người Thầy của tôi, TS.BS Vũ Văn Thành, người thầy hướng dẫn đã giành nhiều tâm huyết và trách nhiệm của mình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình, khoa
Hô hấp – Thần kinh đã tạo mọi điều kiện để tôi triển khai khoá luận của mình Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các bà mẹ Những người đã tạo điều kiện để cho tôi được phỏng vấn và hoàn thành việc thu thập số liệu phục vụ cho khoá luận này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Những người đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khoá luận tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Nam Định, ngày tháng 10 năm 2022
Học viên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là khoá luận do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thầy hướng dẫn khoa học Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi tôi tiến hành nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Nam Định, ngày tháng 10 năm 2022
Học viên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1.Cơ sở lý luận 3
1.2.Cơ sở thực tiễn 10
Chương 2:MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 1313
2.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 133
2.2.Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 13
2.3.Thực trạng kiến thức về phòng bệnh còi xương do thiếu vitamin D 135
Chương 3:BÀN LUẬN 20Error! Bookmark not defined 3.1 Thực trạng kiến thức của bà mẹ về dự phòng bệnh còi xương do thiếu Vitamin D ở trẻ 20
3.2.Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kiến thức của bà mẹ về dự phòng bệnh còi xương do thiếu vitamin D ở trẻ 25Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN 28
KHUYẾN NGHỊ 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Học vấn của bà mẹ 14
Bảng 2.2 Cân nặng khi sinh của trẻ 165
Bảng 2.3 Nguồn thông tin mong muốn 176
Bảng 2.4 Kiến thức về nguyên nhân gây bệnh 176
Bảng 2.5 Kiến thức về yếu tố nguy cơ gây bệnh Error! Bookmark not defined Bảng 2.6 Kiến thức về dấu hiệu sớm của bệnh 187
Bảng 2.7 Kiến thức về di chứng của trẻ còi xương 18
Bảng 2.8 Kiến thức về dự phòng bệnh còi xương 18
Bảng 2.9.Kiến thức về tắm nắng cho trẻ 19Error! Bookmark not defined Bảng 2.10 Kiến thức về phòng bệnh đặc hiệu 19 Bảng 2.11 Kiến thức khi ăn dặm 19Error! Bookmark not defined
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tuổi của mẹ Error! Bookmark not defined.4Biểu đồ 2.2.Nghề nghiệp của mẹ Error! Bookmark not defined.5
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ Còi xương là bệnh lý loãng xương do thiếu Vitamin D Đây là bệnh toàn thân xảy ra trên cơ thể mà hệ xương còn đang trong giai đoạn phát triển mạnh liên quan đến chuyển hóa Canxi và Phospho do thiếu vitamin D [1], [5]
Còi xương là vấn đề sức khỏe của trẻ em ở nhiều quốc gia; đặc biệt, là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Nguyên nhân của tình trạng còi xương
là do tập quán kiêng nắng và gió cho trẻ trong những tháng đầu sau sinh, ngoài ra trẻ không được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và chế độ ăn nhiều tinh bột cũng làm giảm hấp thu Canxi, dẫn tới trẻ bị còi xương [1], [5] Theo thống kê hàng năm tại Viện Dinh dưỡng Quốc gia, tỷ lệ trẻ em bị còi xương đến khám rất cao, lên tới 40% [15]
Trẻ bị còi xương dễ mắc các bệnh như viêm phổi, tiêu chảy, suy dinh dưỡng làm cho các bệnh này diễn biến nặng hơn Trẻ bị còi xương sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và vận động: Trẻ chậm biết lẫy, bò, ngồi, đứng, đi Nếu không điều trị kịp thời sẽ để lại di chứng ở hệ xương như: Lồng ngực biến dạng, gù, vẹo cột sống, chân tay cong vẹo Các biến dạng của xương làm giảm chiều cao của trẻ, hạn chế chức năng hô hấp, thay đổi dáng đi ảnh hưởng xấu đến sinh đẻ sau này đối với bé gái và có nguy cơ cao bị loãng xương lúc cao tuổi làm tăng gánh nặng chi phí cho ngành y tế cũng như tổn thất về kinh tế - xã hội Để phòng còi xương cho trẻ thì bà mẹ phải có kiến thức về chăm sóc và phòng bệnh cho trẻ [1], [5]
Các cuộc điều tra gần đây ở nước ta cho thấy tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị còi xương khoảng 5-9% ở khu vực đồng bằng và 14% ở khu vực miền núi phía Bắc,
năm 2012 tại một số khu vực nông thôn huyện Hoài Đức, Hà Nội cho thấy trẻ từ 1-6 tháng tuổi có hàm lượng vitamin D thấp là 40%, thiếu vitamin D là 24% và
số trẻ thiếu nặng là 9% [15]
Kiến thức về bệnh nói chung và bệnh còi xương nói riêng của các bà mẹ còn nhiều hạn chế Tại Ninh Bình cho thấy còn ít các nghiên cứu tìm hiểu kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh còi xương do thiếu vitamin D cho trẻ Xuất phát từ thực
Trang 10tế kể trên, chúng tôi triển khai thực hiện chuyên đề: “Thực trạng kiến thức về phòng bệnh còi xương do thiếu Vitamin D của bà mẹ có con từ 2 - 12 tháng tuổi tại Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình năm 2022”, nhằm 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng kiến thức về phòng bệnh còi xương của các bà mẹ có con
từ 2-12 tháng tuổi tại Khoa Hô hấp – Thần kinh, Bệnh viện sản nhi Ninh Bình năm 2022
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kiến thức về phòng bệnh còi xương do thiếu vitamin D của các bà mẹ có con từ 2-12 tháng tuổi tại Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình
Trang 11có đủ calci ở xương giúp xương phát triển là Canxi và Phospho Bệnh thường xảy
ra ở trẻ bụ bẫm, dưới 2 tuổi vì cơ thể của trẻ phát triển mạnh, xương dài ra nhanh, nhu cầu về Canxi và Phospho cao, nên khi không có sự lắng đọng Canxi và Phospho thì xương sẽ bị loãng Thiếu Canxi và vitamin D dẫn tới trẻ bị còi xương Trẻ bị còi xương sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể lực và sức khỏe của trẻ
Vì vậy việc phòng chống bệnh còi xương là một vấn đề ưu tiên của sức khỏe cộng đồng [1]
1.1.2 Vai trò của vitamin D
Sự gia tăng chiều cao của con người bắt nguồn từ 2 năm đầu tiên của cuộc đời, là sự phát triển chiều dài của các xương dài như xương chân Vitamin D đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên cấu trúc xương thông qua cơ chế phân phối Canxi và Phospho Vitamin D là chất giúp điều hoà cân bằng nội môi của Canxi
và Phospho trong cơ thể giúp xương phát triển Lượng Vitamin D đầy đủ trong cơ thể là điều kiện thiết yếu để Canxi và Phospho được gắn trong mô xương [1]
- Ở thành ruột: Tạo thuận lợi cho việc hấp thu Canxi và Phospho nhờ sự tổng hợp một Protein mang Canxi Dưới tác dụng của vitamin D 40% Canxi từ nguồn thức ăn đưa đến ruột và được hấp thu vào máu
- Ở xương: Kích thích chuyển hóa Canxi gắn vào xương nhờ có hormon cận giáp
- Ở thận: Tăng tái hấp thu Canxi dưới ảnh hưởng của hormon cận giáp Khi thiếu Vitamin D sẽ làm giảm hấp thụ Canxi ở ruột, Canxi máu giảm làm tăng tiết hormon cận giáp trạng Tình trạng cường cận giáp trạng sẽ dẫn đến hai hậu quả: Giảm tái hấp thu P ở ống thận làm giảm P máu gây ra các dấu hiệu rối
Trang 12loạn chức năng của hệ thần kinh như kích thích, vã mồ hôi Cơ thể phải huy động
Canxi ở xương vào máu gây rối loạn quá trình khoáng hoá xương làm loãng xương
[14]
Ngoài ra vitamin D có các chức năng khác: Điều hòa chức năng một số gen,
ảnh hưởng đến hệ miễn dịch, phát triển hệ sinh sản và da ở nữ giới Sự thiếu hụt
vitamin D ảnh hưởng đến chuyển hóa Canxi trong cơ thể, ảnh hưởng đến sự phát
triển hệ xương của trẻ nhỏ Hàm lượng Canxi và Phospho trong cơ thể đủ hay
thiếu đều phụ thuộc vào vitamin D Do đó thiếu vitamin D sẽ dẫn đến bệnh lý
loãng xương hay còn gọi là còi xương, một trong những nguyên nhân làm hạn chế
sự phát triển chiều cao của trẻ nhỏ [8]
1.1.3 Chuyển hóa vitamin D
SƠ ĐỒ CHUYỂN HÓA VITAMIN D
CUNG CẤP
(Động vật và thực vật) + Ánh sáng mặt trời + Chất béo
Hình 1.1 Chuyển hóa Vitamin D [1]
1.1.4 Nguồn cung cấp vitamin D
- Ngoại sinh: Vitamin D được hấp thu ở hỗng tràng và hồi tràng nhờ có vai
trò của mật Các thức ăn chỉ cung cấp rất ít vitamin D khoảng từ 20-40 đv/ngày
(10 đv/lít sữa bò, <50 đv/ lít sữa mẹ) Tuy nhiên lượng vitamin D và Canxi được
Trang 13cung cấp qua thức ăn thường là không đủ [5]
- Nội sinh: Đây là nguồn cung cấp vitamin D chủ yếu Trên da trẻ em có chất tiền vitamin D là 7- Dehydrocholesteron Dưới ánh sáng tử ngoại của mặt trời, tiền vitamin D sẽ chuyển thành vitamin D:
Ánh nắng mặt trời 7- Dehydrocholesteron Vitamin D
(Tiền vitamin D) (Tia cực tím)
1.1.5 Nguyên nhân thiếu vitamin D
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến trẻ bị bệnh còi xương như khi trẻ mắc một số bệnh thận: Bệnh ống thận mạn tính, loạn dưỡng xương do thận trong khung cảnh
1 thiểu năng cầu thận Một số bệnh hệ tiêu hóa như bệnh đường ruột mạn tính, rò mật, bệnh kém hấp thu Một số thuốc chống động kinh kéo dài gây nên rối loạn men có thể tạo điều kiện cho bệnh còi xương Tuy nhiên với trẻ khỏe mạnh chưa
bị bệnh còi xương do bệnh lý thì nguyên nhân bị còi xương chủ yếu do thiếu vitamin D đây là yếu tố cần thiết để trẻ hấp thu đủ Canxi và Phospho để phòng bệnh còi xương [11], [22]
1.1.5.1 Nguyên nhân thiếu vitamin D
Thiếu ánh nắng mặt trời: Nhà ở chật chội, ô nhiễm môi trường đều hạn chế
sự tiếp xúc da với ánh sáng mặt trời Không cho trẻ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời phong tục tập quán kiêng cữ giữ trẻ trong nhà Mặc quá nhiều quần áo Thời tiết sương mù: Mùa đông cường độ ánh sáng mặt trời giảm
Chế độ dinh dưỡng không phù hợp: Trẻ không được nuôi dưỡng bằng sữa
mẹ Trẻ ăn nhiều bột cũng cản trở quá trình hấp thu Canxi và Phospho Mẹ thiếu vitamin D trong thời kỳ có thai và cho con bú
1.1.5.2 Yếu tố nguy cơ
- Tuổi: Bệnh hay xảy ra ở trẻ < 2 tuổi, tuổi mà hệ xương phát triển mạnh nhất
- Trẻ đẻ non hoặc thiếu cân dễ bị còi xương do cơ thể không dự trữ đủ muối khoáng và vitamin D trong thời kỳ bào thai, đồng thời hệ thống men chuyển hóa
Trang 14vitamin D còn yếu mà tốc độ phát triển lại nhanh hơn nhu cầu vitamin D cao
- Trẻ suy dinh dưỡng thường hay rối loạn hấp thu các chất dinh dưỡng kể cả Canxi, đồng thời thiếu hụt men trong chuyển hoá vitamin D
- Trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn nhất là ở hệ tiêu hoá và hô hấp: Trẻ bị tiêu chảy kéo dài, nhiễm ký sinh trùng đường ruột, viêm gan tắc mật… đều có ảnh hưởng đến hấp thụ vitamin D dễ bị còi xương
- Trẻ bị tắc mật bẩm sinh
- Trẻ ăn bột nhiều và ăn bột sớm, cho trẻ ăn bổ sung sớm (trước 6 tháng), ăn nhiều bột trẻ dễ bị còi xương vì trong bột có nhiều Axit phytic làm giảm hấp thu vitamin D và Canxi ở ruột
- Chế độ ăn dặm hằng ngày không cho hoặc cho quá ít dầu/mỡ dẫn đến không
có dung môi hòa tan để hấp thu được vitamin D
- Màu da: Trẻ da màu hay bị còi xương hơn vì có sự cản trở quá trình tổng hợp Vitamin D Da đen đây là màu da sản xuất ít vitamin D
- Ở những trẻ bụ bẫm cũng dễ bị thiếu vitamin D do cơ thể trẻ phát triển nhanh nên nhu cầu Canxi/Phospho cao hơn so với những trẻ bình thường mà việc cung cấp vitamin D qua con đường ăn uống lại không đủ dẫn đến giảm hấp thu Canxi và Phospho làm trẻ bị còi xương
- Tình trạng thiếu hụt vitamin D của người mẹ trong thời gian mang thai: Phá
vỡ cân bằng Canxi nội mô ở bào thai và gây rối loạn quá trình khoáng hóa xương làm trẻ còi xương từ trong bào thai Mặt khác trẻ sơ sinh chủ yếu dựa vào lượng vitamin D dự trữ thu được qua rau thai để đáp ứng nhu cầu của cơ thể cho nên khi người mẹ thiếu vitamin D trong thời gian mang thai là yếu tố nguy cơ gây còi xương sớm ở trẻ sơ sinh [4]
1.1.6 Biểu hiện lâm sàng
1.1.6.1 Dấu hiệu thần kinh
- Các dấu hiệu xuất hiện sớm:
+ Trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình
+ Ra mồ hôi trộm cả khi trời lạnh
Trang 15- Dấu hiệu muộn: Rụng tóc ở gáy, gọi là dấu hiệu “chiếu liếm” do trẻ ngứa ngáy, kích thích, lắc đầu khi nằm trên giường [1]
1.1.6.2 Dấu hiệu ở xương
* Mềm xương là những dấu hiệu sớm:
- Xương sọ: Mềm, ấn vào có thể gây lõm như ấn vào quả bóng nhựa; thóp rộng, bờ thóp mềm, chậm liền thóp
- Răng: Thường mọc chậm và mọc lộn xộn
Mềm xương là biểu hiện của tình trạng bệnh đang tiến triển mạnh, cấp tính Điều trị đúng trong giai đoạn này sẽ cho kết quả tốt và không để lại những di chứng nặng nề cho trẻ [2]
* Tăng sinh và biến dạng xương:
- Xương sọ: Bướu trán, bướu đỉnh tạo cho đầu có hình “lập phương”
- Xương hàm: Xương hàm dưới thường chậm phát triển, hàm trên chìa ra
+ Đầu dưới xương chày tăng sinh phì đại tạo thành “vòng cổ chân”
+ Do xương loãng, mềm và lại phải tải gần như toàn bộ trọng lượng cơ thể cho nên hai chân của trẻ còi xương sẽ bị cong như hình chữ “O”; cơ yếu nên khi đứng chân thường dựa đầu gối vào nhau tạo nên hình chữ “X”
- Xương sống: Cong, gù vẹo cột sống Tăng sinh và biến dạng xương là hậu quả của sự mềm xương và là những biểu hiện muộn của bệnh còi xương Những biến dạng trên đây thường để lại những di chứng vĩnh viễn, không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ, mà đối với trẻ gái còn gây nên những khó khăn đáng kể trong sinh
Trang 16đẻ do sự biến dạng của khung chậu [5]
1.1.6.3 Dấu hiệu về rối loạn tiêu hóa
Trẻ gặp các vấn đề về rối loạn tiêu hóa kéo dài, táo bón hoặc đi ngoài phân sống, kèm theo đó là tình trạng biếng ăn
1.1.6.4 Hệ cơ
Trương lực cơ giảm, gây nên hiện tượng bụng ỏng, trẻ chậm biết ngồi, đứng,
đi Do vậy dễ bị gù vẹo cột sống, chân hình chữ ‘X’
Ở một số trẻ có đầu to so với thân mình Nếu trẻ nhỏ bị còi xương thì thóp chậm liền, răng chậm mọc, dễ bị sún răng Trường hợp nặng có thể thấy xương sống bị vẹo, cong xương tay, chân, chậm biết lẫy, chậm biết ngồi, chậm biết đi
Có khi trẻ bị co giật do thiếu Canxi
Bệnh còi xương ảnh hưởng rất lớn và lâu dài đến sự phát triển thể chất, vận động và có thể gây biến dạng xương của trẻ, đặc biệt với trẻ gái còn ảnh hưởng tới quá trình sinh đẻ sau này (do khung chậu hẹp)
Bệnh còi xương còn có thể gây biến dạng xương và tử vong do các bệnh nhiễm khuẩn nặng nhất là viêm phổi vì trẻ bị còi xương sức đề kháng rất yếu kém Các hậu quả khác như: Lồng ngực biến dạng, gù, vẹo cột sống, chân tay cong vẹo, hạn chế chiều cao, thay đổi dáng đi, thiếu máu nhược sắc, bụng ỏng [11] 1.1.8 Dự phòng còi xương do thiếu vitamin D ở trẻ em
1.1.8.1 Tầm quan trọng của Vitamin D trong dự phòng còi xương ở trẻ
Vitamin D đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên cấu trúc xương thông
Trang 17qua cơ chế phân phối Canxi và Phospho Vitamin D làm tăng hấp thu Canxi và Phospho qua đường tiêu hóa Tại xương, vitamin D cùng hooc môn cận giáp kích thích chuyển hoá Canxi và Phospho, làm tăng quá trình lắng đọng canxi của xương Lượng vitamin D đầy đủ trong cơ thể là điều kiện thiết yếu để Canxi và Phospho được gắn trong mô xương Vitamin D là một chất quan trọng giúp điều hoà cân bằng nội môi của Canxi và Phospho trong cơ thể giúp xương phát triển Khi thiếu Vitamin D sẽ làm giảm hấp thụ canxi ở ruột, cơ thể phải huy động canxi
ở xương vào máu gây rối loạn quá trình khoáng hoá xương Vitamin D có tác dụng làm tăng hấp thu canxi ở niêm mạc ruột Dưới tác dụng của vitamin D, 40% canxi từ nguồn thức ăn đưa đến ruột và được hấp thu vào máu [1]
Thiếu vitamin D trong máu giảm sẽ làm giảm hấp thu Ca và P ở ruột, tăng thải Ca và P ở thận, điều này làm giảm lượng Ca và P trong máu giảm, không đủ
để tạo xương làm cho xương mềm, dễ biến dạng và gãy Ngoài ra vitamin D có các chức năng khác: Điều hòa chức năng một số gen, ảnh hưởng đến hệ miễn dịch, phát triển hệ sinh sản và da ở nữ giới Sự thiếu hụt vitamin D ảnh hưởng đến chuyển hóa canxi trong cơ thể, ảnh hưởng đến sự phát triển hệ xương của trẻ nhỏ Vitamin D đã được chứng minh khi có sự thiếu hụt nghiêm trọng dẫn đến bệnh còi xương [16]
1.1.8.2 Các biện pháp dự phòng còi xương ở trẻ em
Trẻ thiếu Canxi là một trong những vấn đề luôn được các bậc cha mẹ quan tâm trong quá trình nuôi con, bởi nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển hệ xương của trẻ Do vậy, trẻ cần có chế độ dinh dưỡng đầy đủ và duy trì thói quen sinh hoạt hợp lý là biện pháp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh còi xương ở trẻ một cách hiệu quả [5]
Các giải pháp dành cho mẹ: Trong thời kỳ mang thai bà mẹ cần tiếp xúc với ánh nắng mặt trời đúng để hấp thụ vitamin D Bữa ăn hàng ngày cần ăn những thức ăn giàu canxi như cá, trứng, sữa và các sản phẩm từ sữa, các loại đậu đỗ, rau màu xanh thẫm và có dầu hoặc mỡ Đảm bảo thai nhi tăng cân đủ tránh suy dinh dưỡng bào thai, tránh đẻ non
Trang 18Các giải pháp dành cho trẻ: Cho trẻ bú mẹ ngay sau khi sinh và bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu Mặc quần áo vừa đủ ấm phù hợp theo mùa, không mặc quá nhiều, quá dày Không giữ trẻ trong nhà, thường xuyên cho trẻ được vận động và tiếp xúc với không khí ngoài trời nhằm tăng cường đề kháng cũng như sức khỏe của trẻ Cho trẻ ngủ đủ giấc để hình thành hormon tăng trưởng Cho trẻ tắm nắng đúng cách và đủ thời gian Trẻ tròn 6 tháng tuổi trở lên bắt đầu cho trẻ ăn dặm Khi chế biến bữa ăn cho trẻ cần bổ sung cho trẻ đủ 4 nhóm thực phẩm theo ô vuông thức ăn (nhóm bột đường, nhóm chất đạm, nhóm chất béo, nhóm vitamin
và khoáng chất) để trẻ có thể nhận được đầy đủ dưỡng chất Chọn thực phẩm có chứa nhiều vitamin D như dầu cá hồi, cá hồi, cá thu, lươn, lòng đỏ trứng gà, sữa Canxi có nhiều trong sữa và các chế phẩm từ sữa, các loại đậu đỗ và rau xanh… Cần xóa bỏ quan niệm cho trẻ ăn nhiều bột nấu với nước hầm xương sẽ phòng chống được còi xương
Nghiên cứu của Walaa Kamal kamel (2018) đánh giá nhận thức của các bà
mẹ về tình trạng thiếu vitamin D tại Trung tâm chăm sóc sức khỏe ở Kalyobia cho kết quả: Về kiến thức của các bà mẹ, 56,9% các bà mẹ có kiến thức kém, 76,8%
bà mẹ có những thực hành không đạt yêu cầu về phòng ngừa thiếu vitamin D [23] Nghiên cứu 286 bà mẹ tại 6 Trung tâm Y tế Gia đình ở Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy mức độ hiểu biết của các bà mẹ về mối quan hệ giữa sức khỏe trẻ sơ sinh và vitamin D không đạt yêu cầu chỉ có 46,9% bà mẹ được giáo dục về việc sử dụng
Trang 19vitamin D trong khi mang thai [21]
Theo nghiên cứu của Abdul Majid Molla thì 58% trẻ được bú mẹ trong năm đầu, 42% trẻ bú mẹ trên 1 năm; 58,2% trẻ được ăn bổ sung sau 6 tháng tuy nhiên vẫn còn 41,8% trẻ ăn bổ sung trước 6 tháng; Trẻ em nếu không được tiếp xúc với ánh nắng mặt trời có nhiều khả năng xảy ra còi xương hơn với p < 0,01 [19] 1.2.2 Tại Việt Nam
Nghiên cứu kiến thức và thực hành về phòng bệnh còi xương bằng giáo dục sức khoẻ của các bà mẹ có con từ 0-3 tháng tại Nam Định của Hoàng Thị Vân Lan (2020) cho thấy trước can thiệp chỉ có 8,2% bà mẹ cho rằng nguyên nhân còi xương là do ăn nhiều bột; 51,8% bà mẹ cho rằng dấu hiệu xuất hiện sớm của bệnh còi xương là ra mồ hôi cả khi trời lạnh [7]
Nghiên cứu kiến thức, thực hành về làm mẹ an toàn của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại Trà Vinh của Trương Văn Dũng (2014) cho thấy đối tượng có kiến thức đúng về lợi ích của sữa mẹ là 26,25 %, lợi ích việc uống viên sắt 69,17%; lợi ích tiêm phòng uốn ván 73,61 %; lợi ích của khám thai 75,69%; số lần tiêm phòng uốn ván 77,64 %; thời điểm khám thai 82,08 % [3]
Tác giả Hà Minh Trang và cộng sự tiến hành nghiên cứu cắt ngang nhằm mô
tả thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại phường Tân Hồng, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh Kết quả cho thấy có 81,8% các bà
mẹ cho con bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh 8% bà mẹ vắt bỏ sữa non
Tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu là 14% Các chất lỏng trẻ được ăn thêm ngoài sữa mẹ trong 6 tháng đầu gồm nước trắng (58,7%), nước trái cây (55,7%), sữa bột (33%) Nghiên cứu cũng tìm được mối liên quan giữa độ tuổi của mẹ và kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ với thực hành nuôi con bằng sữa
mẹ của các bà mẹ [12]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thương (2013) được thực hiện trên 330 các bà mẹ tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái cho kết quả tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức đúng cho con mình bú ngay trong vòng giờ đầu sau khi sinh là 75,1% tuy nhiên chỉ có 37,3% bà mẹ thực hành đúng [10]
Trang 20Nghiên cứu hiệu quả của truyền thông giáo dục tích cực đến sự cải thiện kiến thức, thực hành nuôi con của bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam cho thấy sau 2 năm can thiệp đã cải thiện được kiến thức nuôi con chưa tốt của bà mẹ từ 80,0% giảm xuống còn 42,7%, thực hành nuôi con chưa tốt của bà mẹ từ 86,2% xuống còn 62,2% Cải thiện được tỷ lệ trẻ nhẹ cân từ 37,2% xuống 28,8%, trẻ thấp còi từ 63,0% xuống còn 51,5% [4]
Trang 21Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bà mẹ không thể tiếp nhận và trả lời được các câu hỏi
- Bà mẹ có con là những trẻ bị còi xương do bệnh lý
* Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/8/2022 – 01/10/2022 tại khoa Hô hấp – Thần kinh, Bệnh viện sản nhi Ninh Bình
* Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
* Cỡ mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện: Tất cả bà mẹ có con điều trị tại khoa Hô hấp – Thần kinh, trong thời gian nghiên cứu, đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu Thực tế đã lựa chọn được 60 bà mẹ tham gia nghiên cứu
* Bộ công cụ
Công cụ đánh giá được xây dựng dựa trên tài liệu chăm sóc sức khỏe trẻ em của Viện
[11] và xin ý kiến của chuyên gia về lĩnh vực Nhi khoa và đã chỉnh sửa theo ý kiến đóng góp của chuyên gia
Trang 22- Phần A: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu gồm 14 câu hỏi nhằm mục đích tìm hiểu các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu (họ tên, tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con… )
- Phần B: Kiến thức về phòng bệnh còi xương cho trẻ của bà mẹ gồm 10 câu, từ câu B1 đến B10 Các câu hỏi liên quan đến nguyên nhân, biểu hiện lâm sàng, yếu tố nguy cơ, di chứng, dấu hiệu sớm trên hệ thần kinh của trẻ, kiến thức về tắm nắng, cách ăn dặm đúng
* Cách thức thu thập số liệu
Số liệu trong chuyên đề được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp dựa trên bộ câu hỏi soạn sẵn
* Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập được làm sạch, mã hóa
Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để nhập và phân tích số liệu, thu được kết quả sau:
2.2 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 2.1 Tuổi của mẹ n=60
Trang 23Nhận xét: Phần lớn các bà mẹ trong độ tuổi sinh đẻ chiếm 70.0%
Biểu đồ 2.2 Nghề nghiệp của mẹ n=60
Nhận xét: Mẹ làm công nhân và tự do đều chiếm tỷ lệ 35.0%
Bảng 2.2 Cân nặng khi sinh n=60
Tự do
Trang 24Nhận xét: Có 2 trẻ nhẹ cân khi sinh chiếm 3.3%
Bảng 2.3 Nguồn thông tin mong muốn n=60
Bảng 2.4 Kiến thức về nguyên nhân gây bệnh n=60
Bảng 2.5 Kiến thức về yếu tố nguy cơ của bệnh n=60