1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CHO NGƯỜI BỆNH VIÊM RUỘT THỪA CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỦY NGUYÊN NĂM 2022

50 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Chăm Sóc Sau Phẫu Thuật Nội Soi Cho Người Bệnh Viêm Ruột Thừa Cấp Tại Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Thủy Nguyên Năm 2022
Tác giả Nguyễn Thu Hương
Người hướng dẫn TS. Vũ Văn Đẩu
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Ngoại người lớn
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (10)
    • I. Cơ sở lý luận (11)
      • 1. Đại cương về ruột thừa (11)
      • 2. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng (15)
      • 3. Diễn biến (18)
    • II. Cơ sở thực tiễn (19)
      • 1. Điều trị phẫu thuật (19)
      • 2. Nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam (20)
  • CHƯƠNG II: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT (27)
    • I. Thông tin chung về Bệnh viện Đa khoa Thủy Nguyên (28)
    • II. Thực trạng CSNB sau phẫu thuật viêm ruột thừa (0)
  • CHƯƠNG III: BÀN LUẬN (36)

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐINH NGUYỄN THU HƯƠNG THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CHO NGƯỜI BỆNH VIÊM RUỘT THỪA CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỦY NGUYÊN NĂM 202

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cơ sở lý luận

1 Đại cương về ruột thừa

1.1 Đặc điểm giải phẫu của ruột thừa

Ruột thừa là đoạn tịt của ống tiêu hóa dài 8-10cm, đường kính 5-7mm,khi mới sinh đến trước 2 tuổi chân ruột thừa rộng [6]

Gốc ruột thừa là nơi tập trung của ba dải cơ dọc, cách góc hồi manh tràng khoảng 2-3 cm Về mặt bào thai học, ruột thừa là phần nối tiếp với đáy manh tràng, hình thành do sự thoái hóa dần của phần này Mặc dù gốc ruột thừa cố định, nhưng đầu ruột thừa có thể nằm ở nhiều vị trí khác nhau, với 95% trường hợp nằm trong phúc mạc, 30% ở khung chậu, 65% sau manh tràng và 5% ở ngoài phúc mạc sau manh tràng hoặc kết tràng Nếu quá trình quay của ruột thừa bị rối loạn, manh tràng và ruột thừa có thể nằm lạc vị trí từ góc lách đến hố chậu phải, dẫn đến các biểu hiện lâm sàng của viêm ruột thừa trở nên đa dạng, gây khó khăn cho chẩn đoán.

Ruột thừa có cấu tạo gồm 4 lớp: lớp niêm mạc (bao gồm lớp biểu mô, lớp đệm và lớp cơ đệm), lớp dưới niêm mạc, lớp cơ rất mỏng với lớp dọc do 3 dải cơ dọc của manh tràng dàn mỏng và lớp cơ vòng nối tiếp với cơ của manh tràng Gốc của ruột thừa có thể xác định dựa vào vị trí hợp lại của 3 dải cơ dọc Trong lớp niêm mạc và lớp dưới niêm mạc có nhiều nang bạch huyết, số lượng này thay đổi theo lứa tuổi, với trẻ sơ sinh có rất ít nang bạch huyết và tăng dần đến độ tuổi 10-20 Điều này giải thích tại sao viêm ruột thừa ít gặp ở trẻ dưới 5 tuổi Động mạch ruột thừa xuất phát từ nhánh hồi manh trùng tràng, đi sau quai tận hồi tràng và cung cấp máu cho ruột thừa trong mạc treo ruột thừa.

Hình 1: Hình thể ngoài và vị trí của ruột thừa ( Nguồn: BV Thu Cúc)

Ruột thừa nằm ở mặt sau trong của manh tràng, cách góc hồi manh tràng khoảng 2,5-3 cm Gốc ruột thừa hội tụ ba dải cơ dọc của manh tràng và có tính di động cao, cho phép nó có thể ở nhiều vị trí khác nhau trong ổ bụng Vị trí thường gặp nhất của ruột thừa là sau trong manh tràng ở hố chậu phải, chiếm khoảng 75%.

+ Cạnh đại tràng, trong rãnh đại tràng lên

Ruột thừa tiếp giáp với mỏm nhô xương cùng và có thể nằm ở một số vị trí bất thường khác do manh tràng di động, như dưới gan, thượng vị hoặc hố chậu trái.

Trước đây, ruột thừa được coi là một cơ quan không có chức năng, nhưng các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nó thực sự đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch, tham gia vào việc tiết ra globulin miễn dịch như IgA.

Các tổ chức lympho ở lớp dưới niêm mạc phát triển mạnh nhất trong độ tuổi từ 20 đến 30, sau đó dần thoái triển Đối với những người trên 60 tuổi, ruột thừa thường xơ teo và không còn thấy các hạch lympho, dẫn đến việc lòng ruột thừa trở nên nhỏ lại.

VRT do đường máu rất hiếm gặp,nguyên nhân và cơ chế gây viêm ruột thừa cấp là do bít tắc trong lòng ruột thừa và do nhiễm khuẩn [5]

Nguyên nhân gây tắc lòng ruột thừa có thể là:

Ở trẻ em và thanh niên, sự tăng sinh của các nang bạch huyết ở lớp dưới niêm mạc là nguyên nhân chính Khi mới sinh, lớp dưới niêm mạc chỉ chứa rất ít nang bạch huyết, nhưng số lượng này tăng dần cho đến tuổi trưởng thành và phát triển lớn hơn sau các nhiễm khuẩn hoặc virus.

Nguyên nhân bít tắc lòng ruột thừa có thể do cô đặc và vôi hóa phân dẫn đến sỏi phân, chiếm khoảng 20% trường hợp sau phẫu thuật VRT Ngoài ra, các yếu tố khác như dị vật (như ghim, các loại hạt), giun đũa, giun kim, khối u đáy manh tràng hoặc u gốc ruột thừa cũng có thể gây ra tình trạng này.

Các nguyên nhân khác có thể gây viêm ruột bao gồm nhiễm virus như sởi và thủy đậu Ngoài ra, stress tâm lý cũng đã được báo cáo là một yếu tố có thể dẫn đến tình trạng viêm ruột.

Trong ruột thừa bình thường, có nhiều chủng vi khuẩn Gram âm, ái khí như E.Coli, Klebsiella, Enterobacter và Proteus Mirabilis Khi ruột thừa bị tắc, dịch tiết ứ đọng gây tăng áp lực, dẫn đến tuần hoàn kém, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển và xâm nhập vào lớp niêm mạc.

Giai đoạn đầu của viêm ruột thừa gây ra viêm và phù nề thành ruột thừa, kèm theo các nốt loét ở niêm mạc Khi phẫu thuật, có thể thấy dịch tiết trong, vô khuẩn tại vùng hố chậu phải, ruột thừa sưng to và các mạch máu giãn nở trên thành ruột thừa, đây được gọi là viêm ruột thừa xung huyết.

Nếu không được điều trị kịp thời, viêm ruột thừa có thể dẫn đến áp lực tăng cao, gây ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch và thiếu máu nuôi dưỡng Vi khuẩn sẽ phát triển trong ruột thừa, dẫn đến tình trạng viêm nặng Khi phẫu thuật, bác sĩ sẽ thấy dịch đục trong ổ bụng, ruột thừa viêm sưng, có giả mạc xung quanh và chứa mủ bên trong Đây là giai đoạn viêm ruột thừa mủ.

Khi mạch máu ruột thừa bị tắc do huyết khối nhiễm trùng từ vi khuẩn yếm khí, sự cản trở lưu thông tĩnh mạch xảy ra, dẫn đến tắc nghẽn động mạch mạc treo ruột thừa Hậu quả là ruột thừa bị hoại tử, với các nốt hoại tử xuất hiện hoặc toàn bộ ruột thừa có màu cỏ úa và mủn nát.

Giai đoạn cuối của viêm ruột thừa là khi ruột thừa bị thủng, dẫn đến mủ chảy ra ngoài Nếu mủ được khu trú bởi tổ chức xung quanh, như ruột mạc nối phúc mạc, sẽ hình thành ổ áp xe ruột thừa Ngược lại, nếu mủ chảy vào ổ phúc mạc, sẽ gây viêm phúc mạc toàn thể Trong một số trường hợp, khi viêm ruột thừa chưa vỡ, phản ứng dính và bao bọc của tổ chức xung quanh có thể tạo ra đám quánh ruột thừa.

1.4.1 Viêm ruột thừa cấp thể xung huyết

Ruột thừa có kích thước lớn hơn bình thường, với đầu tù bị phù nề và xung huyết, có nhiều mạch máu cương tụ Về mặt vi thể, có hiện tượng thâm nhập bạch cầu ở thành ruột thừa, trong khi niêm mạc ruột thừa vẫn còn nguyên vẹn Không có phản ứng của phúc mạc.

Hình 2: Hình ảnh ruột thừa khi viêm ( Nguồn: BVĐK Thủy Nguyên)

1.4.2 Viêm ruột thừa thể mủ

Cơ sở thực tiễn

1 Điều trị phẫu thuật Điều trị ngoại khoa VRT cho đến nay vẫn là phương pháp điều trị hiệu quả nhất bao gồm cả PT mở và PT nội soi Mỗi phương pháp đều có những chỉ định, kỹ thuật ưu và nhược điểm riêng

Chỉ định cho các trường hợp: NB rối loạn đông máu, áp xe ruột thừa, VRT hoại tử, phụ nữ có thai

Cắt ruột thừa qua nội soi là phương pháp an toàn và hiệu quả, giúp giảm tỷ lệ cắt ruột thừa không viêm, rút ngắn thời gian nằm viện và hồi phục nhanh chóng Phương pháp này cũng giảm tỷ lệ biến chứng sau mổ và có giá trị thẩm mỹ cao hơn so với phương pháp truyền thống Tuy nhiên, việc chỉ định cắt ruột thừa nội soi còn phụ thuộc vào trang thiết bị phẫu thuật, trình độ đào tạo và khả năng của phẫu thuật viên.

Hình 6: Hình ảnh phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa ( Nguồn: BVĐK Thủy Nguyên)

Trong trường hợp ruột thừa bị viêm muộn, ổ áp xe ruột thừa có thể hình thành Nếu ổ áp xe nhỏ, có thể điều trị ban đầu bằng kháng sinh, nhưng thường thì ổ áp xe cần được dẫn lưu với sự hỗ trợ của siêu âm hoặc chụp cắt lớp điện toán Việc loại bỏ ruột thừa khi ổ áp xe đã hình thành rõ ràng thường không an toàn Thời gian loại bỏ ruột thừa thường diễn ra từ vài tuần đến vài tháng sau khi ổ áp xe hồi phục, phương pháp này được gọi là cắt ruột thừa lúc nghỉ để tránh tái phát viêm ruột thừa.

2 Nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam

Vào năm 1983, Kurt Semm đã thực hiện thành công phẫu thuật cắt ruột thừa không viêm bằng phương pháp soi ổ bụng Sau đó, các bác sĩ phẫu thuật người Đức đã nhanh chóng áp dụng kỹ thuật nội soi để điều trị viêm ruột thừa.

Kể từ năm 1990, phẫu thuật cắt ruột thừa bằng nội soi đã trở nên phổ biến và được thực hiện thường quy tại các bệnh viện lớn trên toàn thế giới Kỹ thuật nội soi một cổng đầu tiên được áp dụng cho cắt viêm ruột thừa cấp, do Pelosi và cộng sự thực hiện vào năm 1992.

Vào thời điểm đó, D’Alessio đã trình bày kỹ thuật cắt ruột thừa cho bệnh nhân nhi thông qua một cổng đặc biệt Ông đã thực hiện việc lấy ruột thừa ra ngoài qua vết mổ ở rốn và tiến hành cắt ruột thừa ngoài ổ phúc mạc.

Pelosi cũng đã báo cáo phương pháp này với 180 trường hợp được phẫu thuật và ghi nhận tính khả thi cũng như sự an toàn [17]

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật nội soi một cổng là thấp, chủ yếu là các biến chứng tại vết mổ Trong ba nghiên cứu, chỉ có một trường hợp cần thêm trocar hỗ trợ Tất cả các nghiên cứu đều khẳng định phẫu thuật nội soi là phương pháp khả thi cho điều trị viêm ruột thừa cấp.

Phẫu thuật nội soi ngày càng thu hút sự chú ý, nhờ vào sự phát triển của các dụng cụ chuyên biệt, giúp phương pháp này được ứng dụng rộng rãi hơn.

Năm 1992, Bệnh viện Việt Đức đã thực hiện ca phẫu thuật nội soi cắt túi mật đầu tiên, và từ năm 1993, phẫu thuật nội soi cắt RTV đã được triển khai tại nhiều bệnh viện lớn như Việt Đức, Bạch Mai, Chợ Rẫy và các cơ sở y tế trên toàn quốc Đến nay, phẫu thuật nội soi điều trị VRTC đã trở thành một phương pháp phẫu thuật thường quy, với yêu cầu chính là xác định RT, cắt mạc treo RT để cầm máu, cắt RT đến gốc và buộc gốc RT bằng chỉ, khâu hoặc kẹp clip.

Năm 2013, trong nghiên cứu “ Khảo sát công tác chăm sóc sau mổ nội soi

Tại khoa Ngoại tiêu hóa bệnh viện Trung ương Huế, một nghiên cứu đã được thực hiện với 35 trường hợp viêm, trong đó nam giới chiếm 57,1%, chủ yếu ở độ tuổi dưới 30, chiếm 42,8% Đáng chú ý, công chức, viên chức và sinh viên chiếm 68,6% trong tổng số trường hợp được điều tra.

Theo dõi các chỉ số sinh tồn sau phẫu thuật (PT) là rất quan trọng để phát hiện các tai biến và biến chứng Kết quả cho thấy 100% (35 trường hợp) có chỉ số mạch bình thường, và số bệnh nhân được theo dõi dấu hiệu sinh tồn trong vòng 24 giờ.

Tình trạng da và niêm mạc của bệnh nhân cho thấy 100% trường hợp có da niêm mạc hồng Hướng dẫn về chế độ ăn trong 12h – 24h được áp dụng cho 71,4% bệnh nhân, trong khi chế độ vận động trước 12h chiếm 57,1%.

Thay băng vết mổ là một quy trình quan trọng, trong đó có 8,6% trường hợp không thay băng, trong khi 91,4% thay băng 01 lần mỗi ngày Tất cả 35 trường hợp cắt chỉ đều diễn ra trước 5 ngày Tuy nhiên, có 1 trường hợp nhiễm trùng, chiếm 2,9%.

34 trường hợp không nhiễm trùng ( 97,1%)

Tình trạng đau sau mổ cho thấy 100% bệnh nhân trải qua cảm giác đau trong 24 giờ đầu, trong đó có 51,4% trường hợp đau nhiều Sau 72 giờ, 85,7% bệnh nhân không còn cảm thấy đau, và không có trường hợp nào báo cáo đau nhiều Về thời gian trung tiện, tất cả bệnh nhân đều đã trung tiện trong vòng 2 ngày sau phẫu thuật.

- Thời gian nằm viện sau PT trung bình là 4,1 ngày

- Thái độ chăm sóc: Đa số nhân viên y tế chăm sóc nhiệt tình chiếm 74,3%

Sự hài lòng của NB có 28,6% NB không hài lòng, 71,4% NB hài lòng

Từ những kết luận trên nhóm nghiên cứu cũng đề xuất sau để có kết quả tốt trong quá trình CSNB sau mổ:

- Chuẩn bị NB tốt trước phẫu thuật

Kỹ thuật thực hiện thành thạo và việc theo dõi, chăm sóc sau phẫu thuật là rất quan trọng để phát hiện và xử lý kịp thời các tai biến và biến chứng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả điều trị.

- Điều dưỡng cần theo dõi sát tình trạng đau và chảy máu của NB trong 24h đầu sau PT để can thiệp kịp thời

- Đào tạo thường xuyên cho cán bộ y tế về kỹ năng giao tiếp với NB

- Lập chương trình đào tạo thường xuyên cho điều dưỡng để họ có thời gian CS toàn diện hơn

- Nâng cao trình độ chuyên môn cho điều dưỡng trẻ tuổi

MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

Thông tin chung về Bệnh viện Đa khoa Thủy Nguyên

Bệnh viện đa khoa huyện Thủy Nguyên được thành lập từ năm 1959, hơn

Trong 60 năm qua, Bệnh viện đa khoa huyện Thủy Nguyên đã khẳng định vị thế tiên phong trong các phong trào y tế địa phương Năm 2006, Bệnh viện được nâng hạng lên hạng II theo quyết định của UBND thành phố Hải Phòng Hiện tại, Bệnh viện có quy mô 500 giường bệnh kế hoạch và 654 giường bệnh nội trú thực kê, phục vụ hơn 1.200 lượt khám bệnh mỗi ngày Bệnh viện đã triển khai nhiều kỹ thuật mới và trang bị hiện đại, bao gồm tầm soát ung thư, chụp cộng hưởng từ, CT scanner, hệ thống máy thở, và các dịch vụ kỹ thuật cao như mổ nội soi, tán sỏi ngược dòng, áp dụng phương pháp giảm đau trong đẻ, phẫu thuật thay thủy tinh thể bằng phương pháp Phaco, cùng với việc mời chuyên gia tuyến trên về khám và phẫu thuật.

Bệnh viện Đa khoa huyện Thủy Nguyên hiện có 500 cán bộ nhân viên y tế, bao gồm 96 bác sĩ (trong đó có 06 bác sĩ chuyên khoa cấp II, 02 thạc sĩ y khoa, và 32 bác sĩ chuyên khoa cấp I), 08 dược sỹ đại học, 9 điều dưỡng chuyên khoa I, 95 cử nhân điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên, cùng 37 viên chức và lao động có trình độ đại học, sau đại học khác.

Khoa Ngoại tổng hợp có 32 VC-LĐ; gồm 08 bác sĩ (BSCK II 01, BSCK I

Bệnh viện hiện có 22 điều dưỡng và 02 hộ lý, với độ tuổi trung bình khoảng 30 Đa số điều dưỡng còn trẻ và có ít kinh nghiệm trong việc chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật, với thâm niên công tác dưới 10 năm Phẫu thuật nội soi VRT, được triển khai từ năm 2017, đã trở thành phẫu thuật thường quy với trung bình 30 ca mỗi tháng Do đó, công tác chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi VRT đã được chú trọng và quy trình cải tiến theo các hướng dẫn mới nhất.

Về trình độ chuyên môn ĐD: khi thực hiện CSNB sau PT, phần lớn là điều dưỡng đại học (60,5%), điều đưỡng cao đẳng (20%) điều dưỡng trung học (9,5%)

Số lần chăm sóc bệnh nhân (NB) sau phẫu thuật nội soi VRT trung bình là 1 NB/ngày, con số này khá thấp, khiến điều dưỡng (ĐD) khó tích lũy kinh nghiệm Ngoài ra, ĐD còn có trách nhiệm chăm sóc NB về đường tiêu hóa, gan mật, và chấn thương, với mỗi ĐD phải chăm sóc trung bình 8 NB/ngày.

II Thực trạng chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật VRT tại Bệnh viện Đa khoa Thủy Nguyên

- Đối tượng nghiên cứu: 30 người bệnh mổ nội soi VRT tại khoa Ngoại tổng hợp – BVĐK Thủy Nguyên

- Tiêu chuẩn chọn lựa: Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Công cụ đánh giá: quan sát, phỏng vấn, bộ công cụ thiết kế sẵn

- Số liệu được sử dụng tỷ lệ phần trăm để mô tả

1 Chăm sóc 30 người bệnh mổ nội soi VRT

Thời gian hồi tỉnh Số ca Tỷ lệ

Có 30/30 ( 100%) người bệnh đều tỉnh trong 1 giờ đầu sau mổ, không có người bệnh nào tỉnh ở giờ thứ 2, thứ 3

1.2 Chăm sóc tư thế NB

Có 28/30 NB được chăm sóc tư thế đúng: nằm thẳng, đầu thấp, mặt nghiêng về một bên trong 6 giờ đầu đạt tỷ lệ 93%

1.3 Theo dõi dấu hiệu sinh tồn và thực hiện y lệnh thuốc

6 giờ đầu 6 – 12 giờ Trên 12 giờ

TS Tỷ lệ TS Tỷ lệ TS Tỷ lệ

Thuốc 30 100% 0 0 Đo dấu hiệu sinh tồn 30 100% 29 96,6% 28 93,3% Theo dõi dịch, nước tiểu 30 100% 30 100 27 90%

- 100% NB được thực hiện y lệnh thuốc đầy đủ, đúng giờ Có 3 người bệnh được chỉ định thêm y lệnh thuốc giảm đau đều được thực hiện ngay

Trong quá trình theo dõi dấu hiệu sinh tồn, 30/30 bệnh nhân đã được đo mạch, huyết áp, nhịp thở, và nhiệt độ, với tần suất 1 giờ/lần trong 6 giờ đầu Tuy nhiên, có 3,4% bệnh nhân chỉ được theo dõi ở mức trung bình trong những giờ tiếp theo, do nhân viên y tế quên ghi chép sau 5-6 giờ Đặc biệt, có 2/30 bệnh nhân chưa được theo dõi đầy đủ dấu hiệu sinh tồn từ giờ thứ 12 sau phẫu thuật, chiếm tỷ lệ 6,7%.

Lập bảng theo dõi lượng dịch vào và ra, cũng như nước tiểu trong 24 giờ (bao gồm màu sắc, số lượng và tính chất) đạt 100% trong 12 giờ đầu Tuy nhiên, có 3/30 bệnh nhân chưa được theo dõi nước tiểu 24 giờ từ giờ thứ 12 sau phẫu thuật, chiếm tỷ lệ 10%.

1.4 Chăm sóc ống dẫn lưu và vết mổ

Theo dõi vết mổ trong những ngày đầu để phát hiện chảy máu và nhiễm khuẩn sau phẫu thuật Nhiễm khuẩn thường xảy ra vào ngày thứ 4 - 5, khi đã xác định là nhiễm khuẩn, cần cắt chỉ sớm và tách vết mổ để dịch mủ thoát ra dễ dàng Có thể cắt chỉ cách quãng hoặc cắt toàn bộ Đối với vết mổ không nhiễm khuẩn, cắt chỉ vào ngày thứ 7, trong khi người già và trẻ em thường cắt chỉ muộn hơn, vào ngày thứ 9-10.

Tất cả bệnh nhân đều được thay băng hàng ngày sau phẫu thuật Trong số đó, có 1/30 bệnh nhân gặp tình trạng nhiễm trùng lỗ trocart, đã được xử lý bằng cách cắt chỉ sớm và thay băng 2 lần mỗi ngày Bệnh nhân được chỉ định sử dụng kháng sinh cho đến ngày thứ 10 và ổn định trước khi ra viện.

- 100% người bệnh được theo dõi đầy đủ số lượng, màu sắc dịch dẫn lưu, các ống dẫn lưu túi chứa đảm bảo vô khuẩn

1.5 Theo dõi hội chứng nội soi

Khi bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng như tri giác lơ mơ, lẫn lộn, co giật, nhìn mờ, đồng tử giãn, mạch và nhịp tim chậm, có hội chứng sốc, huyết áp hạ, và bụng chướng, 100% đều có phản xạ tốt để báo kịp thời cho phẫu thuật viên và xử trí theo y lệnh.

30/30 NB không gặp biến chứng hội chứng nội soi sau phẫu thuật

Thời gian nằm viện (ngày) Số bệnh nhân Tỷ lệ %

*Nhận xét: Thời gian nằm viện trung bình 5 ngày Thời gian nằm ngắn nhất 2 ngày và lâu nhất 10 ngày

Khi bệnh nhân chưa có nhu động ruột, việc nuôi dưỡng được thực hiện qua đường tĩnh mạch Sau khi có nhu động ruột, bệnh nhân được cho ăn cháo, súp trong 2 ngày trước khi trở lại chế độ ăn uống bình thường 100% bệnh nhân đã được hướng dẫn ăn uống sau phẫu thuật đúng quy định Điều dưỡng viên phối hợp với khoa dinh dưỡng cung cấp suất ăn bệnh lý tại nhà ăn bệnh viện qua phần mềm báo ăn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Trong số 30 bệnh nhân, không có ai bị rối loạn tiêu hóa sau phẫu thuật Tuy nhiên, việc chăm sóc dinh dưỡng chủ yếu do người nhà đảm nhiệm, điều dưỡng chưa trực tiếp chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân.

Hình 8: Suất ăn của NB được cung cấp tại bệnh viện 1.8 Chăm sóc vận động

Cho NB vận động sớm khi đủ các điều kiện Với phẫu thuật ổ bụng trong

24 giờ đầu người điều dưỡng giúp người bệnh trở mình trên giường, ngày thứ 2 cho ngồi dậy, vỗ rung lồng ngực, ngày thứ 3 đi lại nhẹ nhàng trong phòng

Kết quả nghiên cứu về chăm sóc vận động cho bệnh nhân sau phẫu thuật cho thấy: Ngày đầu, bệnh nhân được thay đổi tư thế; ngày thứ hai, bệnh nhân có thể ngồi dậy và đi lại với sự trợ giúp Tập vận động sớm tại giường đạt 80%, trong khi 20% còn lại do bệnh nhân già yếu chưa thể vận động Việc thực hiện vận động chủ yếu phụ thuộc vào gia đình, trong khi điều dưỡng chỉ tư vấn, hướng dẫn và hỗ trợ Đối với bệnh nhân chăm sóc cấp 1, điều dưỡng chưa trực tiếp thực hiện vận động cho bệnh nhân.

1.9 Tư vấn giáo dục sức khỏe

Trong thời gian nằm viện, 90% điều dưỡng hướng dẫn bệnh nhân tập vận động sớm và hỗ trợ gia đình trong việc cung cấp chế độ ăn uống hợp lý sau phẫu thuật Khi đường tiêu hóa đã thông, bệnh nhân nên ăn thức ăn lỏng dễ tiêu, tránh các chất kích thích như cà phê, chè, ớt, tiêu, rượu, bia, và cần tăng cường uống nước để phòng ngừa táo bón, vì việc rặn khi đại tiện có thể làm tăng nguy cơ chảy máu.

Giải thích rõ ràng cho bệnh nhân về mục đích của việc đặt ống dẫn lưu và nhấn mạnh rằng không được tự ý rút ống, đồng thời khuyến khích bệnh nhân thường xuyên vệ sinh cá nhân, đặc biệt là khu vực quanh ống dẫn lưu Hướng dẫn bệnh nhân và gia đình cần báo ngay cho nhân viên y tế nếu có bất thường như ống dẫn lưu chảy dịch đỏ với số lượng lớn, cảm thấy mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, đau bụng hoặc chướng bụng Hiện có 18% điều dưỡng chưa hướng dẫn đầy đủ cho bệnh nhân.

Hình 9: Tư vấn GDSK cho người bệnh tại phòng bệnh

Sau khi ra viện, 90% bệnh nhân được hướng dẫn thực hiện vệ sinh cá nhân hàng ngày, đặc biệt là vệ sinh bộ phận sinh dục để tránh nhiễm khuẩn đường tiết niệu.

Hướng dẫn bệnh nhân phát hiện sớm các triệu chứng biến chứng sau phẫu thuật là rất quan trọng Nếu có các triệu chứng như đau bụng từng cơn, chướng bụng, nôn, bí trung tiện hoặc đại tiện, bệnh nhân cần đến khám lại ngay Đặc biệt, trong trường hợp có dấu hiệu đám quánh ruột thừa, nếu bệnh nhân cảm thấy đau ở hố chậu phải hoặc sốt sau khi ra viện, họ phải đến bệnh viện ngay lập tức Tuy nhiên, chỉ có 2% điều dưỡng cung cấp hướng dẫn đầy đủ khi bệnh nhân ra viện Do đó, 90% điều dưỡng cần tăng cường giáo dục cộng đồng về viêm ruột thừa cấp để bệnh nhân có ý thức đến viện sớm khi có triệu chứng.

Thực trạng CSNB sau phẫu thuật viêm ruột thừa

I Thực trạng chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật VRT tại Bệnh viện Đa khoa Thủy Nguyên

Tất cả người bệnh đều tỉnh lại trong vòng 1 giờ đầu sau phẫu thuật, không có ai tỉnh ở giờ thứ 2 và thứ 3 Thời gian theo dõi hồi tỉnh rất quan trọng, vì vậy điều dưỡng cần túc trực bên cạnh người bệnh để theo dõi tri giác một cách sát sao, nhằm phát hiện sớm các biến chứng như tái suy hô hấp và sẵn sàng hút đờm khi cần thiết.

Trong 6 giờ đầu sau phẫu thuật, có 93% bệnh nhân được chăm sóc với tư thế đúng Việc đặt bệnh nhân ở tư thế thích hợp trong thời gian này là rất quan trọng, vì họ chưa thể kiểm soát các phản xạ như nuốt và tự thở, dẫn đến nguy cơ tắc nghẽn đường thở.

Trong số 30 bệnh nhân được khảo sát, tất cả đều an toàn và không có ai gặp phải tai biến Tuy nhiên, việc tuân thủ nghiêm ngặt tư thế đúng cho bệnh nhân sau phẫu thuật là rất quan trọng để tránh các tai biến y khoa có thể xảy ra.

Trong suốt quá trình mổ và điều trị sau mổ, 100% NB đã tuân thủ y lệnh thuốc một cách đầy đủ và đúng giờ, không xảy ra bất kỳ phản ứng tác hại hay tai biến nào.

Sai sót trong việc sử dụng thuốc có thể xảy ra ở bất kỳ bệnh viện nào, từ điều dưỡng viên tại khoa lâm sàng đến điều dưỡng tiếp nhận bệnh nhân tại phòng khám Điều quan trọng là phải nắm vững 5 nguyên tắc "đúng" khi dùng thuốc: đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng đường dùng, đúng thời gian và đúng liều Việc uống sai thuốc hoặc sai liều có thể dẫn đến nhiều nguy cơ gây hại cho bệnh nhân, thậm chí có thể gây tử vong.

4 Theo dõi dấu hiệu sinh tồn và lượng dịch vào ra

Có 100% NB được theo dõi 1giờ/ lần trong 6 giờ đầu Tuy nhiên còn 3,4% theo dõi ở mức trung bình trong những giờ tiếp theo Có 6,7% NB chưa được

BÀN LUẬN

I Thực trạng chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật VRT tại Bệnh viện Đa khoa Thủy Nguyên

Trong 1 giờ đầu sau mổ, 100% người bệnh đều tỉnh, nhưng không có ai tỉnh ở giờ thứ 2 và thứ 3 Thời gian theo dõi hồi tỉnh rất quan trọng, vì vậy người điều dưỡng cần túc trực bên cạnh để theo dõi tri giác của bệnh nhân, nhằm phát hiện sớm các biến chứng như tái suy hô hấp và sẵn sàng hút sạch đờm dãi khi cần thiết.

Trong 6 giờ đầu sau phẫu thuật, có 93% bệnh nhân được chăm sóc với tư thế đúng Việc đặt bệnh nhân ở tư thế thích hợp sau mổ là rất quan trọng, vì trong thời gian này, họ chưa thể kiểm soát các phản xạ như nuốt và tự thở, dẫn đến nguy cơ tắc nghẽn đường thở.

Trong số 30 bệnh nhân được khảo sát, tất cả đều an toàn và không có trường hợp tai biến nào xảy ra Tuy nhiên, việc tuân thủ nghiêm ngặt tư thế đúng cho bệnh nhân sau phẫu thuật là rất quan trọng để tránh các tai biến y khoa có thể xảy ra.

Trong suốt quá trình mổ và điều trị sau mổ, 100% NB đã tuân thủ y lệnh thuốc một cách đầy đủ và đúng giờ, không xảy ra bất kỳ phản ứng tác hại hay tai biến nào.

Sai sót trong việc sử dụng thuốc có thể xảy ra ở bất kỳ bệnh viện nào, từ điều dưỡng viên tại khoa lâm sàng đến điều dưỡng tiếp nhận bệnh nhân tại phòng khám Điều quan trọng là phải nắm vững 5 nguyên tắc "đúng" khi dùng thuốc: đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng đường dùng, đúng thời gian và đúng liều Việc uống sai thuốc hoặc sai liều có thể dẫn đến nhiều nguy cơ gây hại cho bệnh nhân, thậm chí có thể gây tử vong.

4 Theo dõi dấu hiệu sinh tồn và lượng dịch vào ra

Trong nghiên cứu, 100% bệnh nhân (NB) được theo dõi mỗi giờ trong 6 giờ đầu, nhưng chỉ có 3,4% được theo dõi ở mức trung bình trong những giờ tiếp theo Đặc biệt, 6,7% bệnh nhân chưa được theo dõi đầy đủ dấu hiệu sinh tồn từ giờ thứ 12 sau mổ Các chỉ số nghiên cứu cho thấy mức độ theo dõi dấu hiệu sinh tồn của bệnh nhân thấp hơn so với Khoa Ngoại tiêu hóa Bệnh viện Trung Ương Huế, nơi 100% bệnh nhân được theo dõi từ 72h Điều này cho thấy sự chủ quan của điều dưỡng trong việc theo dõi dấu hiệu sinh tồn cho bệnh nhân sau mổ nội soi ruột thừa từ 13 giờ sau mổ.

Lập bảng theo dõi lượng dịch vào và ra, cũng như nước tiểu trong 24 giờ (bao gồm màu sắc, số lượng và tính chất) đạt 100% trong 12 giờ đầu Tuy nhiên, có 10% bệnh nhân chưa được theo dõi nước tiểu 24 giờ từ giờ thứ 12 sau phẫu thuật.

5 Chăm sóc ống dẫn lưu, vết mổ, hội chứng nội soi sau phẫu thuật

Tất cả bệnh nhân đều được thay băng hàng ngày sau phẫu thuật Trong số đó, có 1/30 bệnh nhân gặp tình trạng nhiễm trùng lỗ trocart, đã được xử lý kịp thời bằng cách cắt chỉ sớm và thay băng hai lần mỗi ngày Bệnh nhân được chỉ định sử dụng kháng sinh cho đến ngày thứ 10 và sau đó ổn định để ra viện.

Tất cả người bệnh đều được theo dõi đầy đủ về số lượng và màu sắc dịch dẫn lưu, đảm bảo các ống dẫn lưu túi chứa vô khuẩn Mọi bệnh nhân được khảo sát đều được rút dẫn lưu vào ngày thứ 3 sau phẫu thuật Việc theo dõi ống dẫn lưu sau mổ cung cấp thông tin quan trọng cho bác sĩ trong việc tiên lượng sự tiến triển của vết thương và phòng ngừa các tai biến sau phẫu thuật Đặc biệt, 100% bệnh nhân không gặp phải hội chứng nội soi sau phẫu thuật.

6 Chăm sóc dinh dưỡng, vận động, tư vấn GDSK

Chăm sóc dinh dưỡng và vận động là rất quan trọng, với 100% bệnh nhân (NB) được tư vấn về chế độ ăn và nhận suất ăn tận phòng từ Khoa dinh dưỡng tiết chế Trong đó, 80% bệnh nhân được vận động sớm tại giường, trong khi 20% còn lại chưa thể thực hiện do sức khỏe yếu Tuy nhiên, việc thực hiện chế độ ăn và vận động chủ yếu do người nhà đảm nhiệm, trong khi điều dưỡng chỉ đóng vai trò hướng dẫn.

Tư vấn giáo dục sức khỏe: 90% điều dưỡng tư vấn giáo dục sức khỏe cho

Sau khi mổ, 98% bệnh nhân được tư vấn trước khi ra viện Thời gian nằm viện trung bình là 5 ngày, với thời gian ngắn nhất là 2 ngày và lâu nhất là 10 ngày.

II Các ưu điểm, nhược điểm

Bệnh viện đã được trang bị đầy đủ thiết bị y tế cho việc chăm sóc bệnh nhân, bao gồm các loại xe tiêm đạt tiêu chuẩn và bộ dụng cụ thay băng, cắt chỉ phù hợp, được hấp sấy và đóng gói theo quy định.

- Bệnh viện đã xây dựng quy trình chăm sóc NB sau phẫu thuật dựa trên quy định của Bộ Y tế và phù hợp với thực trạng của đơn vị

Người điều dưỡng thực hiện quy trình chăm sóc sau mổ một cách đúng đắn và có thứ tự ưu tiên Họ cũng thực hiện thành thạo các kỹ thuật như rút sonde, rút dẫn lưu, đo dấu hiệu sinh tồn, quy trình tiêm an toàn và thay băng vết mổ dẫn lưu.

Điều dưỡng viên đã thực hiện quy trình thay băng theo chuẩn năng lực, mang lại hiệu quả cao trong việc chăm sóc vết mổ, được người bệnh đánh giá tích cực.

Giao tiếp với bệnh nhân và người nhà là ưu tiên hàng đầu, với việc giải thích chi tiết về các thủ thuật sắp thực hiện Đồng thời, bệnh nhân và người nhà được hướng dẫn cụ thể về chế độ vận động, ăn uống và sinh hoạt trong thời gian nằm viện.

Ngày đăng: 09/05/2023, 10:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hoàng Thanh Bình (1994), “Một số nhận xét qua 448 trường hợp viê, ruột thừa cấp được điều trị tại viện 103 và 175 từ tháng 2/1991-3/1994”, Tạp chí ngoại khoa,8, Tr 283-293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét qua 448 trường hợp viê, ruột thừa cấp được điều trị tại viện 103 và 175 từ tháng 2/1991-3/1994
Tác giả: Hoàng Thanh Bình
Năm: 1994
4. Phan Khánh Việt (1998): “So sánh phẫu thuật kinh điển và phẫu thuật nội soi ổ bụng trong cắt ruột thừa viêm cấp”, Luận văn thạc sĩ y khoa, Trương Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh phẫu thuật kinh điển và phẫu thuật nội soi ổ bụng trong cắt ruột thừa viêm cấp
Tác giả: Phan Khánh Việt
Năm: 1998
5. Triệu Triều Dương (2002), “Nghiên cứu chẩn đoán viêm ruột thừa cấp và kỹ thuật cắt ruột thừa qua nội soi”, Luận án tiến sĩ, Học viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chẩn đoán viêm ruột thừa cấp và kỹ thuật cắt ruột thừa qua nội soi
Tác giả: Triệu Triều Dương
Năm: 2002
8. Nguyễn Hữu Anh (2014). “Chăm sóc NB ngay sau phẫu thuật thông thường và một số biến chứng sớm thường gặp”. Khoa GM-HS - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc NB ngay sau phẫu thuật thông thường và một số biến chứng sớm thường gặp
Tác giả: Nguyễn Hữu Anh
Năm: 2014
9. Bộ y tế (2014). “Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Ngoại khoa chuyên khoa Phẫu thuật tiêu hóa và phẫu thuật nội soi”, quyết định số 201/QĐ- BYT ngày 16/01/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Ngoại khoa chuyên khoa Phẫu thuật tiêu hóa và phẫu thuật nội soi
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2014
10. Bộ y tế (2012). “Hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ”. Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27/09/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2012
11. Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định (2011). “Bảng kiểm kỹ thuật điều dưỡng”. tr. 62-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng kiểm kỹ thuật điều dưỡng
Tác giả: Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định
Năm: 2011
12. Phạm Nhu Hiệp, Hồ Hữu Thiện, Phạm Anh Vũ, Trần Văn Nghĩa (2011). “Khảo sát công tác chăm sóc sau mổ nội soi RT viêm tại khoa Ngoại tiêu hóa bệnh viện Trung ương Huế”. Tạp chí Y Dược Học, 5, tr. 114–118.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát công tác chăm sóc sau mổ nội soi RT viêm tại khoa Ngoại tiêu hóa bệnh viện Trung ương Huế
Tác giả: Phạm Nhu Hiệp, Hồ Hữu Thiện, Phạm Anh Vũ, Trần Văn Nghĩa
Năm: 2011
13. Ferdinando Agresta MD. (2004): “Laparoscopic treatment of acute appendicitis and appendicular peritonitis (summary): Acute abdomen: New diagnostic stratery”, Actagastio enterol, belg. ISSN 0001 – 5644 CODEN AGEBAX, 1996, Vol 59 N°2, [ Note (s): p, 154] (8 ref) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Laparoscopic treatment of acute appendicitis and appendicular peritonitis (summary): Acute abdomen: New diagnostic stratery
Tác giả: Ferdinando Agresta MD
Năm: 2004
2. Hoàng Công Đắc (2006), Viêm ruột thừa, Bệnh học ngoại khoa sau đại học, Nhà xuất bản Y học, Hà nội, Tr 171-187 Khác
7. Bộ môn Ngoại trường Đại học Y Hà Nội (2004): Bệnh học ngoại khoa sau đại học - NXB Y học Khác
15. Switzer N.J., Gill R.S., Karmali S. (2012), The Evolution of the Appendectomy: From Open to Laparoscopic to Single Incision, Scientifica, 2012, ID 895469 Khác
16. Sesia S.B., Berger E., Holland-Cunz S., Mayr J., Họcker F.M. (2015), Laparoscopy-Assisted Single-Port Appendectomy in Children: Safe Alternative also for Perforated Appendicitis?, Medicine, 94(50), pp. 1-6 Khác
17. Canes D., Desai M.M., Aron M., Haber G.P., Goel R.K., Stein R.J., Kaouk JH, Gill IS (2008), Transumbilical single-port surgery: evolution and current status, Eur Urol., 54(5), pp. 1020-1029 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Hình ảnh ruột thừa khi viêm  6 - THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CHO NGƯỜI BỆNH VIÊM RUỘT THỪA CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỦY NGUYÊN NĂM 2022
Hình 2 Hình ảnh ruột thừa khi viêm 6 (Trang 7)
Hình 1: Hình thể ngoài và vị trí của ruột thừa ( Nguồn: BV Thu Cúc) - THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CHO NGƯỜI BỆNH VIÊM RUỘT THỪA CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỦY NGUYÊN NĂM 2022
Hình 1 Hình thể ngoài và vị trí của ruột thừa ( Nguồn: BV Thu Cúc) (Trang 12)
Hình 2: Hình ảnh ruột thừa khi viêm ( Nguồn: BVĐK Thủy Nguyên) - THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CHO NGƯỜI BỆNH VIÊM RUỘT THỪA CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỦY NGUYÊN NĂM 2022
Hình 2 Hình ảnh ruột thừa khi viêm ( Nguồn: BVĐK Thủy Nguyên) (Trang 14)
Hình 3: Vị trí đau bụng trong viêm ruột thừa ( BV Thu Cúc) - THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CHO NGƯỜI BỆNH VIÊM RUỘT THỪA CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỦY NGUYÊN NĂM 2022
Hình 3 Vị trí đau bụng trong viêm ruột thừa ( BV Thu Cúc) (Trang 16)
Hình 4: Điểm Mac Burney ( Nguồn: BV Thu Cúc) - THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CHO NGƯỜI BỆNH VIÊM RUỘT THỪA CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỦY NGUYÊN NĂM 2022
Hình 4 Điểm Mac Burney ( Nguồn: BV Thu Cúc) (Trang 17)
Hình 5: Hình ảnh ruột thừa viêm trên siêu âm ( Nguồn: BVĐK Thủy Nguyên) - THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CHO NGƯỜI BỆNH VIÊM RUỘT THỪA CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỦY NGUYÊN NĂM 2022
Hình 5 Hình ảnh ruột thừa viêm trên siêu âm ( Nguồn: BVĐK Thủy Nguyên) (Trang 18)
Hình 6: Hình ảnh phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa ( Nguồn: BVĐK Thủy Nguyên) - THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CHO NGƯỜI BỆNH VIÊM RUỘT THỪA CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỦY NGUYÊN NĂM 2022
Hình 6 Hình ảnh phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa ( Nguồn: BVĐK Thủy Nguyên) (Trang 20)
Hình 7: Bệnh viện Đa khoa huyện Thủy Nguyên  Bệnh viện hiện có 500 cán bộ nhân viên y tế trong đó: 96 bác sĩ (06 bác sĩ  chuyên khoa cấp II, 02 thạc sĩ y khoa, 32 bác sĩ chuyên khoa cấp I), 08 dược sỹ  đại học, 9 điều dưỡng chuyên khoa I, 95 cử nhân điều  - THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CHO NGƯỜI BỆNH VIÊM RUỘT THỪA CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỦY NGUYÊN NĂM 2022
Hình 7 Bệnh viện Đa khoa huyện Thủy Nguyên Bệnh viện hiện có 500 cán bộ nhân viên y tế trong đó: 96 bác sĩ (06 bác sĩ chuyên khoa cấp II, 02 thạc sĩ y khoa, 32 bác sĩ chuyên khoa cấp I), 08 dược sỹ đại học, 9 điều dưỡng chuyên khoa I, 95 cử nhân điều (Trang 28)
Hình 8: Suất ăn của NB được cung cấp tại bệnh viện  1.8 Chăm sóc vận động - THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CHO NGƯỜI BỆNH VIÊM RUỘT THỪA CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỦY NGUYÊN NĂM 2022
Hình 8 Suất ăn của NB được cung cấp tại bệnh viện 1.8 Chăm sóc vận động (Trang 34)
Hình 9: Tư vấn GDSK cho người bệnh tại phòng bệnh - THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI CHO NGƯỜI BỆNH VIÊM RUỘT THỪA CẤP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN THỦY NGUYÊN NĂM 2022
Hình 9 Tư vấn GDSK cho người bệnh tại phòng bệnh (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w