1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA TẠI VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN - BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2022

74 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chăm sóc người bệnh rối loạn lo âu lan tỏa tại Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai năm 2022
Tác giả Vũ Thị Thanh Thư
Người hướng dẫn TS Trần Văn Long
Trường học Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Chăm sóc sức khỏe tâm thần
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (0)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (10)
      • 1.1.1. Khái niệm rối loạn lo âu lan tỏa (10)
      • 1.1.2. Dịch tễ rối loạn lo âu lan tỏa (11)
      • 1.1.3. Bệnh nguyên - bệnh sinh rối loạn lo âu lan tỏa (11)
      • 1.1.4. Đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan tỏa (14)
      • 1.1.5. Điều trị rối loạn lo âu lan toả (16)
      • 1.1.6. Quy trình chăm sóc người bệnh rối loạn lo âu lan toả (17)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (22)
      • 1.2.1. Nghiên cứu về lo âu lan toả trên thế giới (22)
      • 1.2.2. Nghiên cứu về rối loạn lo âu lan toả tại Việt Nam (22)
  • CHƯƠNG 2. MÔ TẢ TRƯỜNG HỢP BỆNH (0)
    • 2.1. Khái quát Viện Sức Khoẻ Tâm Thần- Bệnh viện Bạch Mai (25)
    • 2.2 Nghiên cứu một trường hợp bệnh cụ thể (32)
    • 2.3. Một số ưu điểm và tồn tại (63)
      • 2.3.1. Ưu điểm (63)
      • 2.3.2. Tồn tại (64)
  • CHƯƠNG 3. BÀN LUẬN (65)
    • 3.1. Bàn luận kết quả chăm sóc người bệnh (65)
    • 3.2. Nguyên nhân của các tồn tại (66)
    • 3.3. Đề xuất giải pháp (66)
      • 3.3.1. Giải pháp về quản lý (66)
      • 3.3.2. Giải pháp về kỹ thuật (66)
      • 3.3.3. Đối với gia đình người bệnh (68)
  • KẾT LUẬN (69)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (71)

Nội dung

Người bệnh điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần được chăm sóc toàn diện theo thông tư 31/2021/TT – BYT hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện [28]..

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

CHUYÊN NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG TÂM THẦN

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

TS TRẦN VĂN LONG

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu, phòng sau đại học và bộ môn sức khỏe trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã cho phép và tạo điều kiện cho tôi được học tập và hoàn thành các nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo chuyên khoa I điều dưỡng

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Đảng ủy, Ban giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, lãnh đạo Viện Sức khỏe Tâm thần đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

 TS Trần Văn Long là giáo viên hướng dẫn tôi từng bước hoàn thành chương trình học tập và làm chuyên đề này

 Tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể các cán bộ nhân viên Viện Sức khỏe Tâm thần, những người thân trong gia đình đã chia sẻ và khuyến khích, động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề này

 Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm chuyên đề

đã đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong quá trình hoàn thiện chuyên

đề

Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2022 Học viên

Vũ Thị Thanh Thư

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Tôi là Vũ Thị Thanh Thư, học viên lớp chuyên khoa I khóa 9, trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, xin cam đoan:

1 Chuyên đề này là báo cáo của riêng tôi, do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trần Văn Long

2 Các số liệu và thông tin trong chuyên đề là trung thực khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Hà Nội, ngày 12 tháng 09 năm 2022 Học viên

Vũ Thị Thanh Thư

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

BZD: Benzodiazepine CTC: Chống trầm cảm CBT: Cognitive Behavior Therapy - Liệu pháp nhận thức- hành vi DSM: Diagnostisc and statistical Manual of Mental Disoders - Tài liệu

hướng dẫn thống kê và chẩn đoán rối loạn tâm thần của Hội tâm thần học Mỹ

GABA: Acid gama amino butyric GS: Giáo sư

HARS: Hamilton Anxiety Rating Scale - Thang đánh giá lo âu Hamilton ICD - X: International clasification of disease - Phân loại bệnh quốc tế lần

thứ 10

NB: Người bệnh

NA: Norepinephrine RLLALT: Rối loạn lo âu lan tỏa SNRI: Serotonin – Norepinephirine Reuptake Inhibitors - Thuốc ức chế

tái hấp thu chọn lọc serotonin - norepinephrin SSRI: Selective Serotonin reuptake inhibitors - Thuốc ức chế tái hấp thu

chọn lọc serotonin WHO: World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN I LỜI CAM ĐOAN II DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT III

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.1 Khái niệm rối loạn lo âu lan tỏa 3

1.1.2 Dịch tễ rối loạn lo âu lan tỏa 4

1.1.3 Bệnh nguyên - bệnh sinh rối loạn lo âu lan tỏa 4

1.1.4 Đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan tỏa 7

1.1.5 Điều trị rối loạn lo âu lan toả 9

1.1.6 Quy trình chăm sóc người bệnh rối loạn lo âu lan toả 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Nghiên cứu về lo âu lan toả trên thế giới 15

1.2.2 Nghiên cứu về rối loạn lo âu lan toả tại Việt Nam 15

CHƯƠNG 2 MÔ TẢ TRƯỜNG HỢP BỆNH 18

2.1 Khái quát Viện Sức Khoẻ Tâm Thần- Bệnh viện Bạch Mai 18

2.2 Nghiên cứu một trường hợp bệnh cụ thể: 25

2.3 Một số ưu điểm và tồn tại 56

2.3.1 Ưu điểm 56

2.3.2 Tồn tại 57

CHƯƠNG 3 BÀN LUẬN 58

3.1 Bàn luận kết quả chăm sóc người bệnh 58

3.2 Nguyên nhân của các tồn tại 59

3.3 Đề xuất giải pháp 59

Trang 7

3.3.1 Giải pháp về quản lý 59

3.3.2 Giải pháp về kỹ thuật 59

3.3.3 Đối với gia đình người bệnh 61

KẾT LUẬN 63

ĐỀ XUẤT 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rối loạn lo âu lan tỏa (RLLALT) là thể bệnh hay gặp trong lâm sàng tâm thần học Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng lo âu quá mức không kiểm soát được, lan tỏa nhiều chủ đề, không khu trú bất cứ tình huống đặc biệt nào và kéo dài trong nhiều tháng [7] Ngoài ra bệnh còn kèm theo các biểu hiện căng thẳng về tâm thần vận động và rối loạn thần kinh thực vật RLLALT còn là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất trong chăm sóc sức khỏe ban đầu và làm gia tăng sử dụng dịch vụ y tế, gây suy giảm chất lượng cuộc sống

và hoạt động nghề nghiệp cũng như xã hội[3] Nghiên cứu tại Mỹ (1999), cho thấy tổng chi phí điều trị cho một người bệnh RLLALT trong 12 tháng hết

2138 USD, còn ở Australia (1997) chi hết 205,1 triệu AUS để điều trị cho các người bệnh RLLALT trong 1 năm [14]

Rối loạn lo âu lan tỏa được điều trị bằng nhiều liệu pháp khác nhau như: Liệu pháp tâm lý, liệu pháp hóa dược hoặc phối hợp cả 2 liệu pháp Tất cả các liệu pháp trên đều cho thấy có hiệu quả trong việc làm thuyên giảm triệu chứng lo âu và các triệu chứng kèm theo của RLLALT Trong giai đoạn cấp tính liệu pháp hóa dược được hướng nhiều đến còn liệu pháp tâm lý chủ yếu ở giai đoạn vừa, nhẹ và chống tái phát bệnh Tỷ lệ tái phát RLLALT sau khi điều trị bằng liệu pháp tâm lý thấp hơn điều trị bằng thuốc [3] Liệu pháp tâm lý được

áp dụng bao gồm liệu pháp nhận thức hành vi (CBT), trị liệu nhận thức và thư giãn - luyện tập Các bài tập trong liệu pháp này thực hiện đơn giản, với chi phí thấp, người bệnh có thể áp dụng nhanh chóng và dễ dàng trong nhiều tình huống dưới sự hướng dẫn của điều dưỡng hoặc cán bộ tâm lý

Tại Việt Nam, liệu pháp thư giãn – luyện tập được áp dụng rộng rãi để điều trị các bệnh tâm sinh và đã cho những kết quả nhất định Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai bắt đầu áp dụng liệu pháp thư giãn - luyện tập trong điều trị nội trú và ngày nay đã có rất nhiều nghiên cứu về hiệu quả của liệu pháp này trong điều trị bệnh RLLALT Các bài tập trong liệu pháp

Trang 9

được điều dưỡng hoặc cán bộ tâm lý trực tiếp hướng dẫn và giám sát trong quá trình tập Người bệnh điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần được chăm sóc toàn diện theo thông tư 31/2021/TT – BYT hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện [28] Người bệnh được đáp ứng nhu cầu cơ bản về thể chất và tinh thần trong thời gian nằm điều trị tại bệnh viện Điều dưỡng thường là người đầu tiên tiếp xúc người bệnh từ khi tiếp đón vào viện, chăm sóc trong quá trình nằm điều trị đến khi ra viện Người bệnh RLLALT là những người có rối loạn liên quan đến stress có những mối lo dai dẳng, do vậy người điều dưỡng ngoài chăm sóc cơ bản còn đặc biệt chú ý đến chăm sóc về tâm lý người bệnh và thư giãn luyện tập Trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu vè quá trình chắm sóc người bệnh nói chung và các bệnh tâm thần nói riêng, nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào cụ thể về chăm sóc cho người bệnh rối loạn lo âu lan toả Do đó tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng chăm sóc người bệnh rối loạn lo âu lan toả tại Viện Sức Khoẻ Tâm Thần – Bệnh viện Bạch Mai năm 2022’’ với 2 mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng chăm sóc người bệnh rối loạn lo âu lan tỏa tại Viện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai năm 2022

2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh rối loạn lo âu lan toả tại Viện Sức Khoẻ Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm rối loạn lo âu lan tỏa

Rối loạn lo âu lan tỏa được xếp vào nhóm các rối loạn liên quan đến stress với các đặc tính là những mối lo dai dẳng, lan tỏa, tản mạn, không khu trú vào một sự kiện hoàn cảnh đặc biệt nào ở xung quanh hoặc có liên quan với những sự kiện đã qua không còn tính thời sự nữa Rối loạn này thường liên quan đến stress trường diễn, tiến triển thay đổi nhưng có xu hướng mạn tính [9]

Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD – X 1992)[23] về các rối loạn tâm thần và hành vi, rối loạn lo âu lan tỏa có mã bệnh F41.1, được xếp vào chương “Các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể” Nét chính của RLLALT là lo âu quá mức, lan tỏa nhiều chủ đề không kiểm soát được, các chủ đề thường nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày, không khu trú vào tình huống cụ thể và kéo dài ít nhất 6 tháng Bệnh kèm theo các triệu chứng căng thẳng tâm thần vận động và hoạt động quá mức của

hệ thần kinh tự trị (hệ thần kinh thực vật) như: bồn chồn, run, nhịp tim đập nhanh, vã mồ hôi, đứng ngồi không yên, hoa mắt chóng mặt, căng thẳng, rối loạn giấc ngủ

Theo hướng dẫn thống kê và chẩn đoán rối loạn tâm thần của hội tâm thần học Mỹ DSM - IV và DSM-V [12], rối loạn lo âu lan tỏa là rối loạn trong

đó người bệnh có biểu hiện lo âu, lo lắng quá mức về các sự kiện, hoạt động khác nhau mà không thể kiểm soát được Người bệnh có từ 3/6 triệu chứng như bồn chồn, căng thẳng, cáu kỉnh, khó tập trung, dễ mệt mỏi và rối loạn giấc ngủ Các triệu chứng này phải gây ra khó chịu đau khổ hoặc suy giảm

Trang 11

đáng kể các chức năng nghề nghiệp cũng như xã hội của người bệnh và không giải thích được bởi các bệnh lý tâm thần, bệnh nội khoa, sử dụng chất [1] 1.1.2 Dịch tễ rối loạn lo âu lan tỏa

Tỉ lệ rối loạn lo âu lan tỏa trong cộng đồng thay đổi tùy theo tiêu chuẩn chẩn đoán mà cho các tỉ lệ khác nhau Một nghiên cứu tại Úc khảo sát sức khỏe tâm thần trong cộng đồng sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán ICD - 10 cho thấy tỉ lệ mắc RLLALT trong 1 năm là 5,8% dân số còn khi sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán DSM - IV tỉ lệ mắc là 3,6% [12] Vào năm 1992 Wacker và cộng sự thực hiện điều tra RLLALT ở thành phố Basel, Thụy Sỹ, họ sử dụng

cả DSM - III- R và ICD - 10 trong nghiên cứu của mình để so sánh tỉ lệ mắc

lo âu lan tỏa trong cộng đồng Kết quả của cuộc điều tra cho thấy theo tiêu chuẩn chẩn đoán DSM - III - R tỉ lệ lo âu cả đời của đối tượng nghiên cứu là 1,9%, tỉ lệ này tăng lên gấp 4 lần (9,2%) khi sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán ICD - 10

Tại Mỹ tỉ lệ RLLALT trong một năm dao động từ 3,4% đến 8,6%, nhóm

từ 18 – 24 tuổi là 2,9%, ở nhóm 45 – 65 tuổi là 4,3%, tỉ lệ nữ bị lo âu gấp đôi nam [4] Tại Việt Nam, vào năm 2009[2] Amstadter và các cộng sự nghiên cứu tỉ lệ lưu hành của stress, trầm cảm, rối loạn hoảng sợ và RLLALT trong cộng đồng người việt sau sang chấn tâm lý, cho thấy tỉ lệ rối loạn lo âu vào khoảng 2,3%

Như vậy, các nghiên cứu tiến hành ở những vùng địa lý riêng biệt, sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau đều cho các tỉ lệ RLLALT khác nhau và tỉ lệ này nhìn chung là tăng cao trong cộng đồng

1.1.3 Bệnh nguyên - bệnh sinh rối loạn lo âu lan tỏa

1.1.3.1 Bệnh nguyên

Rối loạn lo âu lan tỏa là một rối loạn liên quan đến stress, do vây nguyên nhân của bệnh không chỉ có vai trò của stress mà còn có vai trò quan trọng của nhân cách (khả năng chống đỡ của nhân cách) và môi trường cũng như tình trạng cơ thể [9]

Trang 12

 Vai trò của stress

Sang chấn tâm lý (stress) có thể là sức ép trong công việc, học tập, những thất vọng trong sự nghiệp, mâu thuẫn trong gia đình hoặc sự thiệt hại quá lớn về kinh tế, mất mát người thân…Stress gây bệnh thường là các stress mạnh và cấp diễn hoặc những vấn đề sang chấn tâm lý nhỏ nhưng trường diễn, lặp đi lặp lại nhiều lần gây nên căng thẳng nội tâm Stress có thể là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh nhưng cũng có thể là yếu tố thúc đẩy một bệnh sẵn có phát sinh [4]

Vai trò của nhân cách

Khả năng chống đỡ của nhân cách không chỉ có vai trò trong gây bệnh

mà còn ảnh hưởng đến việc hình thành thể bệnh và sự nhận thức đối với sang chấn tâm lý Nếu nhận thức tình huống không nguy hiểm, có thể vượt qua được thì sẽ có phản ứng thích hợp và bình thường Nhưng nếu nhận thức tình huống diễn ra là nguy hiểm, không thể nào chống đỡ được thì khi đó sẽ xuất hiện các triệu chứng bệnh lý Một nhân cách vững mạnh, có lý tưởng, tự nguyện chịu đựng stress thì dù nó có mạnh cũng khó gây bệnh, mặt khác nếu

bị bệnh mà người đó có nhân cách mạnh thì cũng dễ khỏi bệnh hơn Trong bệnh RLLALT, nhân cách đóng vai trò quan trọng hơn sang chấn tâm lý Những người có loại thần kinh không ổn định hay loại thần kinh yếu, hay cầu toàn, lo nghĩ, dễ căng thẳng và né tránh cũng là những nét nhân cách dễ bị tổn thương có thể bị bệnh sau một stress nhẹ mà bệnh chậm phục hồi [9]

 Vai trò của môi trường và cơ thể

Ngoài vai trò của stress và nhân cách là những nguyên nhân chính của các rối loạn liên quan đến stress thì yếu tố môi trường và cơ thể cũng ảnh hưởng đến sự hình thành các rối loạn đó Một cơ thể khỏe mạnh, một môi trường tích cực sẽ hỗ trợ cho nhân cách chống đỡ với stress và ngược lại [9] Trong môi trường gia đình có bố mẹ, họ hàng mắc các bệnh lý về tâm thần

Trang 13

như RLLALT, trầm cảm hoặc sử dụng rượu, lạm dụng chất gây nghiện, cũng như cha mẹ ly hôn, có bạo hành gia đình thì dễ bị mắc bệnh [15] Ngoài ra những bệnh nhân có sẵn bệnh lý cơ thể kèm theo như chấn thương, nhiễm khuẩn, nhiễm độc, mắc các bệnh mạn tính hay nghiện rượu khi gặp sang chấn nhỏ cũng dễ mắc bệnh RLLALT [18]

1.1.3.2 Bệnh sinh rối loạn lo âu lan tỏa

Rối loạn lo âu lan tỏa biểu hiện rất đa dạng bao gồm các triệu chứng tâm thần kết hợp với các triệu chứng cơ thể, do vậy cơ chế bệnh sinh rất phức tạp, có sự rối loạn các chất dẫn truyền thần kinh và hệ thống dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận

 Các chất dẫn truyền thần kinh:

Gama Aminobutiric Acid (GABA): Là một aminoacid có chức năng ức chế dẫn truyền thần kinh Các thụ thể của GABA tập trung nhiều ở vùng vỏ não có liên quan đến cảm xúc sợ hãi, lo âu như thùy trán, hồi hải mã, hạnh nhân Khi GABA gắn vào thụ thể của hệ GABA - ergic làm tăng quá trình khử cực màng tế bào thần kinh thông qua mở kênh Clo, dẫn đến giảm và ức chế hoàn toàn các xung động thần kinh Thuốc benzodiazepine là thuốc giải lo

âu hay được dùng trong điều trị lo âu hiện nay cũng theo cơ chế này Khi benzodiazepine gắn vào thụ thể của chúng sẽ làm tăng ái lực của GABA với các thụ thể của hệ GABA - ergic, làm tăng tác dụng ức chế dẫn truyền thần kinh dẫn đến giảm các triệu chứng lo âu [6]

Serotonin: Là chất dẫn truyền thần kinh quan trọng trong RLLALT Đường dẫn truyền serotonergic bắt nguồn từ nhân raphe, được giải phóng vào thân não, đi đến các vùng của vỏ não có vai trò điều chỉnh cảm xúc lo âu như hồi hải mã Ngoài ra, tăng hoặc giảm chức năng hệ serotonergic đều dẫn đến rối loạn lo âu lan tỏa Một nghiên cứu về serotonin và chức năng não của đại học Bristol, Vương quốc Anh cho thấy giảm nồng độ 5- HT (chất dẫn truyền thần kinh serotonin) là xuất hiện các triệu chứng lo âu và các triệu chứng khác của rối loạn lo âu lan tỏa [16]

Trang 14

Norepinephrin: Là chất dẫn truyền có liên quan đến cơ chế bệnh sinh của RLLALT, gặp chủ yếu ở vùng cầu não, phóng chiếu qua bó trước giữa tới

vỏ não, hệ viền, đồi não, thân não và tủy sống Đây là những vùng có đáp ứng với stress và tạo cảm xúc sợ hãi, lo âu [16]

 Hệ thống dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận

Trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận là một hệ thống thần kinh nội tiết có liên quan đến quá trình điều chỉnh cảm xúc lo âu Khi gặp sang chấn tâm lý, con người có biểu hiện lo lắng, sợ hãi, những thông tin về biểu hiện này sẽ được lan truyền từ hệ viền đến các vùng dưới đồi Tại đây sản xuất ra corticotropin releasing factor (CRF), kích thích tuyến yên sản xuất

ra ACTH, chất này kích thích tuyến thượng thận giải phóng ra cortisol Đây là hormone duy trì sự cân bằng và chuẩn bị cho sự đối mặt với nguy hiểm, đe dọa Khi có sự tăng cao nồng độ cortisol ở người bênh RLLALT, sẽ gián tiếp làm tăng quá trình vận chuyển serotonin [16]

1.1.4 Đặc điểm lâm sàng rối loạn lo âu lan tỏa

Rối loạn lo âu lan tỏa là một rối loạn liên quan đến stress biểu hiện bằng hai nhóm triệu chứng chính đó là: nhóm triệu chứng tâm thần và nhóm hoạt động quá mức của hệ thần kinh tự trị và các triệu chứng cơ thể Biểu hiện bệnh thường kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng

1.1.4.1 Nhóm triệu chứng tâm thần

Triệu chứng tâm thần của RLLALT là sự lo âu, lo lắng quá mức với các chủ đề không rõ ràng, không khu trú vào một sự kiện hay hoàn cảnh xung quanh Những mối lo âu này khó kiểm soát và xuất hiện với tính chất từ từ vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, thường xuất hiện nặng nhất vào buổi sáng Nội dung của lo âu bao gồm nhiều chủ đề nhỏ, lặt vặt, các sự kiện trong cuộc sống hàng ngày không tập trung vào một chủ đề cụ thể [30]

Triệu chứng lo âu được biểu hiện bằng tình trạng lo lắng tăng lên hơn mức bình thường, xuất hiện lặp đi lặp lại nhiều lần với những suy nghĩ, phán đoán không có căn cứ Những mối lo lắng này ảnh hưởng đến hoạt động của

Trang 15

người bệnh, có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động có vẻ như quá mức hay vô lý Người bệnh lo sợ rằng bản thân mình, người thân sẽ sớm mắc một bệnh hoặc sẽ gặp những điều không tốt như bệnh hiểm nghèo, thiên tai, thảm họa, tai nạn, … Họ lo lắng về tương lai bất hạnh, nghèo đói, cô đơn không hề

có căn cứ và rất mơ hồ [9] Dựa vào mức độ lo lắng của người bệnh trên lâm sàng có thể phân biệt giữa lo lắng trong RLLALT với lo lắng ở người bình thường hoặc lo lắng trong các bệnh tâm căn khác Tỷ lệ lo lắng trong rối loạn

lo âu lan tỏa là 67,7% trong nghiên cứu của Chelminski còn điểm số trung bình về lo lắng trong nhóm ám ảnh sợ xã hội, rối loạn stress sau sang chấn và rối loạn ám ảnh nghi thức dao động từ 54,8% đến 57,1% [7]

Lo lắng ở người bình thường có thể giải thích được và họ luôn nhận thức được đang lo lắng quá mức khi đó họ có thể giảm hoặc ngừng sự lo lắng của mình Tuy nhiên trong RLLALT, phần lớn người bệnh cũng nhận thức được

lo lắng là không cần thiết, không hợp lý và họ cũng tìm mọi cách để cố gắng ngăn cản hay dừng việc lo lắng ra khỏi suy nghĩ của họ nhưng không làm được Điều này làm cho người bệnh buồn chán bi quan về bệnh của mình Một số người bệnh không nhận thức được mình đang lo lắng quá mức, luôn tin rằng kết quả sẽ xảy ra đúng trong suy đoán, do đó lo lắng tự diễn ra và nhân lên trong suy nghĩ của họ Một số khác nhận thức được việc mình đang lo lắng quá mức nhưng không kiểm soát lo lắng và cứ thế để lo lắng tự diễn ra [30]

Bệnh nhân RLLALT ngoài vấn đề họ đang lo lắng ra thì họ không thể tập trung hoặc khó tập trung suy nghĩ vào các vấn đề khác Họ không thể chú

ý, tập trung vào công việc hàng ngày cũng như trong giao tiếp nói chuyện với mọi người Người bệnh thường có cảm giác bất an, nôn nao trong người, đứng ngồi không yên, bồn chồn không thể thư giãn được

Triệu chứng lo âu thường xuất hiện từ từ, dao động trong ngày, triệu chứng nặng lên vào buổi sáng và buổi tối, có trường hợp nặng triệu chứng lo

âu xuất hiện kéo dài, liên tục trong cả ngày gây lên sự khó chịu, mất kiểm soát của người bệnh Triệu chứng lo âu này thường kéo dài ít nhất trong 6

Trang 16

tháng và đặc biệt trong RLLALT khi các vấn đề gây lo lắng của người bệnh hết thì họ vẫn còn lo lắng, điều này khác với lo lắng sinh lý của người bình thường [20]

1.1.4.2 Hoạt động quá mức của hệ thần kinh tự trị và các triệu chứng cơ thể

- Run chân tay

- Vã mồ hôi, có thể vã ra như tắm kể cả trong thời tiết lạnh

1.1.5 Điều trị rối loạn lo âu lan toả

Rối loạn lo âu lan tỏa thường liên quan đến stress trường diễn, tiến triển thay đổi nhưng có xu hướng mạn tính Điều trị rối loạn này bằng liệu pháp tâm lý, thuốc hoặc kết hợp cả hai và đôi khi các trị liệu bổ sung hoặc thay thế cũng có thể có hữu ích [9]

 Kiểm soát lo âu và giảm stress: Giải thích hợp lý các vấn đề cơ thể và các triệu chứng cơ thể của bệnh Giúp người bệnh tập đối mặt với các tình huống gây

lo lắng, căng thẳng (stress) trong môi trường an toàn Hướng dẫn, động viên người bệnh tập thư giãn luyện tập và tránh lạm dụng các chất kích thích

 Điều trị triệu chứng bằng thuốc giải lo âu, thuốc chống trầm cảm hoặc thuốc an thần kinh

 Liệu pháp tâm lý:

Liệu pháp nhận thức hành vi (Cognitive Behavioral Therapy – CBT): Liệu pháp này tập trung vào hành vi hơn là các xung đột tâm lý hoặc các vấn đề quá khứ Mục đích của CBT là khuyến khích người bệnh đương

Trang 17

đầu với sợ hãi trong một môi trường an toàn, có kiểm soát Khi họ đối mặt với mối lo âu, sợ hãi mà không bị tổn hại, lo lắng trong họ sẽ tự mất đi Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng liệu pháp nhận thức - hành vi (CBT) có hiệu quả rõ rệt trên các triệu chứng RLLALT hơn giả dược Cũng có một vài nghiên cứu chỉ

ra rằng CBT và hóa dược đơn trị liệu có hiệu quả tương đương nhau [4]

Trị liệu nhận thức: Tập trung vào những suy nghĩ, nhận thức dẫn đến hành vi tiêu cực Liệu pháp này giúp người bệnh xác định và tránh lối suy nghĩ tiêu cực, niềm tin phi lý Đó là những nguyên nhân dẫn đến sự lo lắng quá mức của người bệnh

1.1.6 Quy trình chăm sóc người bệnh rối loạn lo âu lan toả

1.1.6.1 Khái niệm chung về công tác điều dưỡng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lương y phải như từ mẫu”, phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó khăn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm, toàn ý xây dựng nền y học Việt Nam Chăm sóc sức khỏe cho mọi người là một nghề cao quý Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn Sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân [5]

Điều dưỡng (tiếng anh là Nursing) là một nghề độc lập trong hệ thống y

tế nhằm chăm sóc, bảo vệ, nâng cao và phục hồi sức khỏe cho mọi người Sự chăm sóc của người điều dưỡng không bị giới hạn bởi độ tuổi, trình độ văn hóa, màu sắc da, tôn giáo, dân tộc, tín ngưỡng [12] Người điều dưỡng là người thúc đẩy sự giao tiếp, hỗ trợ người bệnh bằng hành động, bằng thái độ biểu thị sự quan tâm tới lợi ích của người bệnh mà không có máy móc hay thiết bị nào thay thế được Người điều dưỡng phải có khả năng phân tích tình hình, tổng hợp thông tin, đánh giá quá trình tiến triển của người bệnh từ đó có thể tư vấn giúp đỡ người bệnh nhận biết và đương đầu với căng thẳng về tâm

Trang 18

lý hoặc những vấn đề xã hội

Theo học thuyết Maslows đề cập đến nhu cầu cơ bản của con người bao gồm 5 mức độ: nhu cầu về thể chất, nhu cầu bao gồm sự an ninh và an toàn cho thể chất và sinh lý, nhu cầu về tình cảm như mối quan hệ bạn bè tình yêu

và những người xung quanh Nhu cầu về vấn đề tôn trọng, kính nể trong xã hội, nhu cầu về sự hoàn thiện, độc lập, tự giải quyết mọi vấn đề [13] Điều dưỡng dựa vào các nhu cầu cơ bản này để nhận định tình trạng người bệnh, đưa ra chẩn đoán điều dưỡng từ đó lập kế hoạch chăm sóc người bệnh rối loạn

lo âu lan tỏa và thực hiện kế hoạch chăm sóc đã đề ra, cuối cùng là đánh giá hiệu quả của việc làm đó

1.1.6.2 Hoạt động chăm sóc người bệnh rối loạn lo âu lan tỏa

Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD - 10), RLLALT được xếp vào nhóm các rối loạn liên quan đến stress, mã F41.1, bệnh có tiến triển thay đổi nhưng có xu hướng mạn tính, gây suy giảm chất lượng hoạt động nghề nghiệp, xã hội, giảm chất lượng cuộc sống [19] Do vậy, hoạt động chăm sóc người bệnh RLLALT được điều dưỡng thực hiện ngay từ khi bệnh nhân bắt đầu vào viện, kéo dài trong suốt quá trình người bệnh nằm viện cho đến khi ra viện và phòng tránh tái phát cho người bệnh

Nhận định tình trạng người bệnh

Quy trình nhận định được bắt đầu từ lần đầu tiên tiếp xúc người bệnh

và tiếp xúc trong suốt quá trình chăm sóc người bệnh đến khi ra viện Mục đích của việc nhận định là thiết lập được mối quan hệ với người bệnh, thu thập những thông tin về vấn đề hiện tại của người bệnh Đánh giá các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn cho người bệnh và những người xung quanh Đánh giá tình trạng y khoa và đo dấu hiệu sinh tồn, bên cạnh đó nhận định cả về tình trạng tâm thần và tâm lý của người bệnh Thông tin về bệnh

sử, tiền sử hay các dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng cần được nhận định đầy

đủ và chính xác, từ đó ngưới điều dưỡng xác định được mức độ lo âu của người bệnh: mức độ lo âu nhẹ, vừa, nặng, cơn hoảng sợ, các yếu tố tâm lý xã

Trang 19

hội (căng thẳng trong hôn nhân, gia đình, xã hội, công việc, …), các nguy cơ

có thể xảy ra với người bệnh (tự hủy hoại hay tự sát), các yếu tố tác động đến rối loạn lo âu như sử dụng chất hay mắc các bệnh cơ thể

Ngay từ khi người bệnh vào viện có chẩn đoán rối loạn lo âu lan tỏa, Người điều dưỡng thông báo giải thích các thủ tục hành chính, nội quy bệnh viện và chế độ điều trị cho người bệnh và người nhà người bệnh Người điều dưỡng nhận định toàn trạng người bệnh, nhận định quá trình bệnh sử, tiền sử

và nhận định về tâm thần của người bệnh Người điều dưỡng nhận định, đánh giá mức độ lo âu của người bệnh, tính cách người bệnh và nhận định về tình trạng giấc ngủ của họ bằng các thang đánh giá Ham - A, EPI, PSQI Nhận định về triệu chứng lâm sàng rối loạn lo âu lan tỏa của người bệnh bao gồm triệu chứng về sự lo âu, lo lắng quá mức dai dẳng, nhận định về các triệu chứng cơ thể và rối loạn hệ thần kinh tự trị như cảm giác hồi hộp, tim đập nhanh mạnh, vã mồ hôi, run tay chân, khô miệng, khó thở, cảm giác đầu óc căng thẳng khó thư giãn được và đặc biệt khó ngủ vì lo lắng [9]

Chẩn đoán điều dưỡng/vấn đề ưu tiên cần chăm sóc

Từ nhận định tình trạng người bệnh, người điều dưỡng xác định được vấn đề ưu tiên trong chăm sóc và viết chẩn đoán điều dưỡng theo mười nguyên tắc viết chẩn đoán điều dưỡng của Bộ Y Tế đề ra, chẩn đoán điều dưỡng được xác định theo cấu trúc gồm hai phần được nối với nhau bởi từ

“liên quan đến” Trong đó, phần một được xác định là phản ứng của con người, phần hai được xác định là các yếu tố liên quan (nguyên nhân) Với người bệnh rối loạn lo âu lan tỏa, người điều dưỡng xác định phần một của mệnh đề viết chẩn đoán điều dưỡng là những phản ứng của người bệnh như lo

âu quá mức, dai dẳng hoặc hoảng sợ hoặc bồn chồn bất an, khó ngủ liên quan đến khả năng kiểm soát các cơn lo âu của người bệnh hoặc khả năng đối phó với cơn lo âu không hiệu quả Kết quả mong đợi là người bệnh có thể tìm được cách đối phó với các mối lo âu của mình và các kỹ thuật thư giãn khi lo

âu xuất hiện [10]

Trang 20

Lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch chăm sóc người bệnh lo âu lan tỏa

Kế hoạch chăm sóc cho người bệnh RLLALT cần dựa trên những nguyên tắc sau:

 An toàn: Can thiệp phải đảm bảo an toàn cho người bệnh, những người xung quanh, nhân viên y tế và gia đình

 Phù hợp: can thiệp phải phù hợp với những liệu pháp khác (hóa dược, tâm lý, phục hồi chức năng) và với từng người bệnh riêng biệt

 Thực tế và rõ ràng: Can thiệp đưa ra nên trong khả năng của người bệnh, phù hợp với tình trạng bệnh, tuổi, thể lực và sự sẵn sàng thay đổi của người bệnh

 Dựa vào bằng chứng: Can thiệp nên được dựa trên nguyên tắc và những bằng chứng khoa học Sử dụng can thiệp dựa vào bằng chứng hiệu quả nhất đó là xem xét giá trị của người bệnh cùng với kinh nghiệm lâm sàng kết hợp với những bằng chứng tốt nhất [10]

Người bệnh với biểu hiện là những cơn lo âu, hoảng sợ làm ảnh hưởng đến các chức năng của người bệnh Người điều dưỡng chăm sóc phải có thái

độ giao tiếp điềm đạm, chan hòa, giải thích cho người bệnh các nội quy và các kế hoạch chăm sóc tại bệnh viện Giữ buồng bệnh, không gian yên tĩnh, sạch sẽ thoáng mát tạo sự thoải mái, tin tưởng vào chất lượng chăm sóc, điều trị Người điều dưỡng vận dụng những kiến thức, học thuyết điều dưỡng để giải thích cho người bệnh hiểu về bệnh lo âu lan tỏa và các kỹ thuật để đối phó với lo âu, các xung đột tăng lên như kỹ thuật tập thở sâu, thư giãn, thể dục, yoga, thiền, … khi lo âu đã giảm, trò chuyện với người bệnh để tìm hiểu các vấn đề có thể gây ra lo âu, các xung đột, căng thẳng tâm lý hoặc nỗi

sợ của người bệnh Đảm bảo chế độ dinh dưỡng, chế độ luyện tập, nghỉ ngơi, vệ sinh giấc ngủ cho người bệnh

Mặt khác với người bệnh có những biểu hiện về hành vi không phù hợp

do lo âu, lo lắng quá mức gây nên Điều dưỡng chăm sóc phải tìm hiểu hành vi đáp ứng không phù hợp của người bệnh trong quá khứ là gì từ đó giúp họ xác

Trang 21

định các cảm xúc tiêu cực đẫn đến hành vi này Khuyến khích người bệnh thực hiện các kỹ thuật giải quyết vấn đề một cách phù hợp, tham gia phát triển các giải pháp đối phó cho người bệnh đồng thời lập kế hoạch hoạt động thể lực, kỹ thuật thư giãn và giải trí cho người bệnh Thực hiện thuốc theo y lệnh và theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc để có biện pháp xử trí kịp thời

Đánh giá kết quả chăm sóc

Trong quy trình điều dưỡng, đánh giá là bước cuối cùng của quy trình nhằm đánh giá đáp ứng điều trị và chăm sóc của người bệnh từ đó giúp điều dưỡng có thể sửa đổi chẩn đoán điều dưỡng, thay đổi kết quả mong đợi thực

tế hơn Giúp người điều dưỡng đưa ra các can thiệp phù hợp hơn khi mục tiêu ban đầu không đạt được

Với người bệnh RLLALT khi đánh giá cần xem xét người bệnh có cảm thấy lo lắng giảm đi không? Các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật và các triệu chứng cơ thể kèm theo có giảm không về cường độ, tần suất xuất hiện Đặc biệt đánh giá xem người bệnh có tham gia tập thư giãn luyện tập đầy đủ không? Có biết áp dụng các bài tập thư giãn luyện tập để kiểm soát và quản lý cơn lo âu hay không Đánh giá người bệnh có hài lòng về các mối quan hệ xã hội của mình hay không?

Trong nghiên cứu này chúng tôi đánh giá xem các triệu chứng lo âu, triệu chứng rối loạn dây thần kinh tự trị và các triệu chứng cơ thể kèo theo của người bệnh có giảm đi không? Đánh giá các kết quả trắc nghiệm tâm lý

về đánh giá mức độ lo âu HAM - A, đánh giá chất lượng giấc ngủ PSQI của NB

Trang 22

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nghiên cứu về lo âu lan toả trên thế giới

Trên thế giới có rất nhiều tác giả và công trình nghiên cứu về rối loạn lo

âu lan tỏa Năm 1987, nghiên cứu dịch tễ học về rối loạn lo âu lan tỏa trên người dân Mỹ của Blazer và cộng sự cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cả đời, tỷ lệ mắc

1 năm, 6 tháng của rối loạn lo âu lan tỏa [4]

Năm 1989, Craske MG và cộng sự cũng tiến hành nghiên cứu dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM III đã tìm thấy tỷ lệ mắc bệnh, các bệnh phối hợp, bản chất mạn tính của các triệu chứng [7]

Năm 2001, Hettema và cộng sự nghiên cứu so sánh về rối loạn lo âu lan tỏa trên 2 giới nam và nữ [27]

Năm 2009, Michael và cộng sự nghiên cứu về đánh giá triệu chứng và điều trị rối loạn lo âu lan tỏa và nhiều nghiên cứu khác nữa [30]

Tỷ lệ thường gặp

Sự thay đổi về định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lo âu lan tỏa, cùng với việc tồn tại song song 2 hệ thống chẩn đoán (DSM và ICD) đã gây khó khăn cho việc thu thập dữ liệu của những nghiên cứu dịch tễ học Theo ICD-10, tỷ lệ hiện mắc của rối loạn lo âu lan tỏa là 5-8% dân số, còn theo DSM-IV là 1,5-3% (Heimberg, 2004) [32] Tỷ lệ mắc 12 tháng là 3,1%, tỷ lệ mắc cả đời là 5,6%[31]

Theo độ tuổi: Dưới 18 tuổi: 2-4% dân số (Portman, 2009) [30]

Từ 18-34: 5,8% dân số

Từ 35-49: 4,7% dân số

Từ 50-64: 8,6% dân số (Dan J Stein, 2009) [15] Trên 65: 3,6% dân số (Huge, 2009) [31]

Giới: Rối loạn lo âu lan tỏa gặp ở nữ nhiều hơn nam[25] [33]

Tuổi khởi phát: Rối loạn lo âu lan tỏa có thể khởi phát sớm ở tuổi 13, 10% khởi phát trên 51 tuổi [29] Tuổi khởi phát trung bình là 32,7 [26]

1.2.2 Nghiên cứu về rối loạn lo âu lan toả tại Việt Nam

Trang 23

Tại Việt nam có rất nhiều nghiên cứu về rối loạn lo âu lan toả Theo tác giả Đinh Dăng Hoè (2000) và cộng sự nghiên cứu về tác dụng điều trị rối loạn

lo âu lan tỏa của pregabalin và diazepam [8], và nhiều nghiên cứu khác nữa Theo Nguyễn Thị Phước Bình (2010), khi tiến hành nghiên cứu trên 90 người bệnh điều trị nối trú tại Viện Sức Khoẻ Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai, cho thấy NB mắc rối loạn lo âu lan toả chiếm tỷ lệ cao nhất trong các rối loạn lo âu khác (F41): Các triệu chứng tâm thần của rối loạn lo âu lan tỏa (theo ICD 10) chiếm tỷ lệ cao (85,7% - 100%), phân bố đều giữa 2 giới, xuất hiện phần lớn thời gian trong ngày Có 2 triệu chứng khác biệt giữa 2 giới: cáu kỉnh bực bội dai dẳng: 78.3% ở nữ, 33% ở nam Lo sợ, sợ chết : 64% ở nữ, 38,1% ở nam Hồi hộp tim đập nhanh chiếm tỷ lệ cao nhất (93%) Khô miệng cũng có tỷ lệ cao: 79% Vã mồ hôi, cơn nóng lạnh là triệu chứng thường gặp Chóng mặt và run tay chân là 2 triệu chứng gặp nhiều ở nữ (70% và 73,9%)[17]

Tương tự, theo Vũ Sơn Tùng (2007), nghiên cứu trên 44 người bệnh điều trị nội trú tại Viện Sức Khoẻ Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai cũng cho thấy triệu chứng của bệnh rối loạn lo âu lan toả xuất hiện đa dạng, phong phú trên tất cả các cơ quan trong cơ thể: tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, thận – tiết niệu, thần kinh – cơ, da – giác quan: tim mạch (93,2%), hô hấp (59,1%), tiêu hóa (75%), thận – tiết niệu (25%), thần kinh – cơ (63,6%), da – giác quan (70,5%)[22]

Theo tác giả Trần Nguyễn Ngọc (2019) nghiên cứu trên 170 người bệnh rối loạn rối loạn lo âu điều trị nội trú tại Viện Sức Khoẻ Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai, cho thấy: phần lớn là chủ đề gia đình (79,4%) và tai nạn bệnh tật (72,46%) Thường gặp nhất là người bệnh có 3 chủ đề lo âu ( 40%), mức độ lo âu thường gặp là nặng theo HAM-A (45,5%), tần suất xuất hiện

“các cơn” lo âu trung bình của NB nghiên cứu là 5,2  2,7lần/tuần, thời điểm triệu chứng lo âu nặng lên hầu hết là vào tối (66,7%) Trung bình mỗi NB có khoảng 8,6  3,2 triệu chứng trên tổng số 22 triệu chứng theo ICD 10.1992:

Trang 24

Hồi hộp/ tim đập mạnh/ nhanh (89,4%), bồn chồn (93,5%), căng thẳng tâm thần (71,7%), khó ngủ vì lo lắng (97,0%), vã mồ hôi (62,9%), khó thở ( 61,1%), run (55,8%), và cơn nóng hoặc lạnh(55,2%)[21]

Trang 25

Chương 2

MÔ TẢ TRƯỜNG HỢP BỆNH

2.1 Khái quát Viện Sức Khoẻ Tâm Thần- Bệnh viện Bạch Mai

VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN

1 Địa điểm: Tòa nhà T4, T5, T6 Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai

2 Điện thoại: 024.35765344

Fax:024.35765346 Email: nimhvn@gmail.com

3 Website: www.nimh.gov.vn

FB: https://www.facebook.com/nimh.vietnam

4 Cơ cấu tổ chức - nhân sự

Tổng số cán bộ nhân viên: 106 người, trong đó có: 01 phó giáo sư, 12 tiến sỹ, 09 bác sỹ chuyên khoa cấp II, 26 thạc sỹ, 19 cử nhân đại học (về điều dưỡng, tâm lý), 25 điều dưỡng cao đẳng, 01 điều dưỡng trung cấp, 05 hộ lý và

04 nhân viên khác (thư ký y khoa, kỹ thuật viên)

Chủ tịch Công đoàn: ThS Đặng Thanh Tùng

Bí thư Đoàn thanh niên: Ths Bùi Văn Lợi

Điều dưỡng trưởng: ThS Phạm Thị Thu Hiền

Trang 26

khỏe Tâm thần ngày nay) được thành lập

Năm 1969, Khoa Tinh – Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai được tách ra thành hai khoa: Khoa Tâm thần và Khoa Thần kinh

Ngày 08 tháng 08 năm 1991 đến nay, Viện Sức khỏe Tâm thần đã được thành lập theo Quyết định số 784/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế trên cơ sở kết hợp Khoa Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, các cán bộ biệt phái của Bộ môn Tâm thần, Trường Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Tâm thần Trung ương I

7 Chức năng, nhiệm vụ

Viện Sức khỏe Tâm thần là một Viện trực thuộc Bệnh viện Bạch Mai Viện được thành lập theo Quyết định số 784/QĐ-BYT của Bộ Y tế, ký ngày 08/08/1991 Đây là một Viện đầu ngành về Tâm thần học với các chức năng

và nhiệm vụ sau:

- Tiếp nhận mọi người bệnh mắc các rối loạn tâm thần đến trực tiếp hoặc các bệnh viện khác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú

- Nghiên cứu và chỉ đạo các cơ sở chuyên khoa nghiên cứu những vấn đề

về Tâm thần học và tâm lý xã hội cấp bách hiện nay

- Đào tạo và bổ túc cán bộ chuyên khoa Tâm thần bậc đại học và sau đại học để phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần cho cộng đồng

- Kết hợp với các Bệnh viện Tâm thần Trung ương trong công tác chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật chuyên khoa Tâm thần học trong cả nước

- Cùng với Viện Giám định Pháp y Tâm thần Trung ương thực hiện nhiệm vụ giám định pháp y tâm thần

- Hợp tác về khoa học kỹ thuật thuộc lĩnh vực Tâm thần học với các nước và các tổ chức quốc tế nhằm phát triển và nâng cao hoạt động của chuyên ngành Tâm thần trong cả nước

- Phối hợp với các Bệnh viện Tâm thần Trung ương và các cơ quan hữu quan thực hiện tuyên truyền, giáo dục kiến thức phổ cập về công tác

Trang 27

chăm sóc sức khỏe tâm thần trong nhân dân

11 Kế hoạch chiến lược

Nâng cao chất lượng các dịch vụ về phòng bệnh, điều trị, chăm sóc Sức khỏe Tâm thần

Đẩy mạnh việc thực hiện nghiên cứu khoa học; lấy đó làm cơ sở, bằng chứng trong việc thực hành y khoa

Tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi kiến thức khoa học kỹ thuật về lĩnh vực Tâm thần

12 Những thành tựu nổi bật

Công tác khám, chữa bệnh

Viện hiện có 258 giường bệnh nội trú với trung bình 260-290 người bệnh nội trú/ngày Số người bệnh đến khám ngoại trú từ 300-350 lượt/ngày Các dịch vụ, kỹ thuật đang được thực hiện tại Viện bao gồm:

- Khám, tư vấn & điều trị ngoại trú;

- Khám và điều trị nội trú;

- Điện não đồ vi tính;

- Điện não đồ video;

- Lưu huyết não;

- Kích thích từ xuyên sọ;

- Điện tâm đồ;

- Tư vấn/Trị liệu tâm lý;

- Trắc nghiệm tâm lý;

- Liệu pháp thư giãn luyện tập

Công tác nghiên cứu khoa học

- 01 đề tài cấp Nhà nước;

- 05 đề tài cấp Bộ;

- 23 đề tài cấp cơ sở

Trang 28

Công tác đào tạo

Viện Sức khỏe Tâm thần là nơi quy tụ các nhà khoa học đầu ngành về lĩnh vực Tâm thần học, là địa chỉ đáng tin cậy trong công tác đào tạo bậc đại học và sau đại học chuyên ngành tâm thần học trong cả nước Viện Sức khỏe Tâm thần phối hợp với Bộ môn Tâm thần, Đại học Y Hà Nội:

- Liên tục đào tạo đại học cho sinh viên Y5 Đại học Y Hà Nội

- Tham gia đào tạo hệ cử nhân điều dưỡng của Đại học Y Hà Nội, Đại học Thăng Long

- Hợp tác với Khoa Tâm lý, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Công đoàn, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn trong việc đưa sinh viên Khoa Tâm lý đến kiến tập, thực tập tại Viện

- Kết hợp với Bệnh viện tổ chức đào tạo cho các học viên của Trường Cao đẳng Y Bạch Mai đi luân khoa

- Kết hợp với Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến, Bệnh viện Bạch Mai

tổ chức các lớp đào tạo, đào tạo lại điều dưỡng tâm thần tại Viện Sức khỏe Tâm thần

- Liên tục đào tạo chuyển giao kỹ thuật về các xét nghiệm cận lâm sàng (điện não, lưu huyết não, trắc nghiệm tâm lý) cho các bệnh viện tuyến tỉnh

- Tổ chức các hoạt động khoa học như hàng tuần báo cáo chuyên đề; hội chẩn các ca lâm sàng với sự tham gia của các Giáo sư, Phó Giáo sư chuyên ngành; và thông tin khoa học để nâng cao kiến thức về sức khỏe tâm thần cho cán bộ nhân viên của Viện

Về đào tạo sau đại học: liên tục đào tạo các khóa nghiên cứu sinh, nội trú, cao học, chuyên khoa cấp I và cấp II tâm thần chính quy và hệ không tập trung Đào tạo chứng chỉ hỗ trợ tâm thần cho các chuyên khoa khác (cho nghiên cứu sinh, nội trú, cao học thần kinh và cao học y tế cộng đồng )

Công tác hợp tác quốc tế

Viện luôn xác định hợp tác quốc tế là nhiệm vụ chiến lược mà Bộ Y tế

đã giao cho Trong mấy thập kỷ qua, Viện luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Trang 29

là cầu nối giữa ngành Tâm thần học Việt Nam và ngành Tâm thần học trên thế giới

Đã tổ chức thành công nhiều hội thảo khoa học quốc tế về Sức khỏe tâm thần cùng sự hợp tác với WHO, Hội Tâm thần học Australia, Pháp

Hợp tác với Học viện Karolinska-Thụy Điển, Đại học Narkhon-Thái Lan, trong chương trình đào tạo đưa sinh viên đến tham quan mô hình bệnh tật và tìm hiểu về hệ thống chăm sóc y tế Việt Nam

Kết hợp với Bộ Y tế và Trường Đại học Y Hà Nội trong việc phong danh hiệu Giáo sư danh dự và Kỷ niệm chương vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân cho 02 Giáo sư Tâm thần học của bang New South Wales, Úc Hợp tác với Đại học Freiburg, Đức trong lĩnh vực đào tạo Y học tâm thể

Tiếp chuyên gia của Tổ chức SAMHSA, Mỹ đến trao đổi kinh nghiệm

về điều trị bệnh nhân nghiện các chất dạng Amphetamine

Tổ chức tập huấn, trao đổi kinh nghiệm về chẩn đoán và điều trị bệnh trầm cảm với chuyên gia của WHO đến từ Malaysia

Tiếp đoàn Giám đốc các Trung tâm Y tế dự phòng của Nhật Bản sang tham quan tìm hiểu về mô hình chăm sóc người bệnh tâm thần tại Việt Nam

Tổ chức tập huấn, trao đổi kinh nghiệm về Khoa học thần kinh cảm xúc, hóa dược liệu pháp và liệu pháp tâm lý với chuyên gia đến từ Đại học Berlin, CHLB Đức

Trang 30

Tiếp đoàn chuyên gia Đông Nam Á đến trao đổi kinh nghiệm và tìm hiểu thực trạng về điều trị ma túy

Tổ chức thành công Hội nghị khoa học Quốc tế Việt – Pháp

Thăm và làm việc với Nhóm các bệnh viện khu vực Paris về khoa học tâm thần kinh tại CH.Pháp

Ký Bản thỏa thuận hợp tác 6 bên giữa Việt Nam với Pháp và Brazil trong lĩnh vực lĩnh vực tập huấn trợ giúp xã hội đối với nạn nhân dioxin và bạo lực xã hội

Tổ chức khóa tập huấn về Kỹ năng tư vấn tâm lý và Liệu pháp tâm lý do chuyên gia của Hội Trị liệu hành vi, CHLB Đức giảng dạy

Tổ chức khóa tập huấn về Tâm thần học người già và Điều trị can thiệp trong Tâm thần học do các chuyên gia đến từ Đại học Sydney, Úc giảng dạy Tiếp các tổ chức quốc tế đến tham quan và trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần: Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản và Đức

Tham gia Dự án ECHO cùng với Bệnh viện Bạch Mai trong lĩnh vực đào tạo trực tuyến

Dự kiến tổ chức Hội thảo khoa học về các ứng dụng của kích thích từ xuyên sọ trong Tâm thần học có sự tham gia của chuyên gia đến từ Nga

Ký thỏa thuận hợp tác trao đổi chuyên môn với Nhóm các bệnh viện khu vực Paris về khoa học tâm thần kinh tại CH.Pháp

Tổ chức khóa tập huấn về Trị liệu tâm lý và Dược lý tâm thần với các chuyên gia đến từ Đại học Charite, Berlin, Đức

Tổ chức tập huấn về Điều trị rối loạn sự phát triển của trẻ em với các chuyên gia của Đại học Nagoya, Nhật Bản

Tổ chức khóa tập huấn về Điều trị rối loạn cảm xúc và Pháp y tâm thần với các chuyên gia của Trung tâm Sức khỏe khu vực Sydney, Úc

Tổ chức khóa tập huấn về Điều trị Nghiện chất với chuyên gia của Nhóm các bệnh viện khu vực Paris về khoa học tâm thần kinh của CH Pháp

Triển khai thực hiện thỏa thuận hợp tác 6 bên giữa Việt Nam với Pháp

Trang 31

và Brazil trong lĩnh vực tập huấn trợ giúp xã hội đối với nạn nhân dioxin và bạo lực xã hội

Công tác thông tin truyền thông

Hợp tác với các cơ quan truyền thông (truyền hình, báo điện tử, báo giấy…) trong việc truyền tải các thông tin giáo dục phát hiện sớm bệnh tâm thần và làm giảm yếu tố kỳ thị đối với người bệnh tâm thần

Trang Web của Viện (www.nimh.gov.vn) đi vào hoạt động (trung bình mỗi ngày có gần trăm lượt người truy cập, tổng số hiện có hơn 900.000 lượt truy cập) đã góp phần cung cấp nguồn thông tin chính thống, nâng cao kiến thức cộng đồng về chăm sóc sức khỏe tâm thần Hỗ trợ phát triển mạng lưới dịch vụ tâm thần thông qua hình thức tư vấn trực tuyến Ngoài ra, trang Facebook của Viện (https://www.facebook.com/nimh.vietnam) luôn cập nhật các kiến thức, các hoạt động hướng đến chăm sóc sức khỏe của cộng đồng Phối hợp với Phòng Công tác Xã hội, Bệnh viện Bạch Mai và các đơn vị khác trong việc đưa thông tin về các hoạt động chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần Tổ chức các buổi họp báo về các chủ đề rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ

và rối loạn tăng động giảm chú ý

Định kỳ hàng tháng tổ chức buổi sinh hoạt câu lạc bộ người bệnh sa sút trí tuệ, người bệnh tăng động giảm chú ý, câu lạc bộ rối loạn cảm xúc để phổ biến kiến thức chăm sóc, điều trị và dự phòng các bệnh tâm thần

Công tác công đoàn đời sống

Viện triển khai có hiệu quả Nghị định 43/NĐ-CP của Chính phủ dưới sự hướng dẫn và chỉ đạo của Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai

Tích cực hưởng ứng phong trào học tập và làm theo 12 điều Y đức, Quy tắc ứng xử do Bộ Y tế ban hành

Thường xuyên liên hệ với Công đoàn Bệnh viện đề có ý kiến hướng dẫn, chỉ đạo trong công tác cải thiện đời sống cho cán bộ nhân viên trong Viện

Đề ra và thực hiện Quy chế Kiểm soát, Thi đua, Thưởng - Trừ ABC của Viện, từng giai đoạn thực hiện có sửa đổi, bổ sung Từng bước nâng cao đời

Trang 32

sống vật chất, tinh thần, tạo không khí làm việc thoải mái, tự chủ cho cán bộ viên chức trong Viện

2.2 Nghiên cứu một trường hợp bệnh cụ thể:

Để làm rõ thực trạng công tác chăm sóc người bệnh rối loạn lo âu lan tỏa tại Viện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai năm 2022 Em chọn trường hợp người bệnh rối loạn lo âu lan toa điển hình cụ thể như sau:

KẾ HOẠCH CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA

9 Người cung cấp thông tin

Người bệnh: Độ tin cậy cao (tỉnh táo, hượp tác kể bệnh)

Chồng NB: Độ tin cậy cao (sống cùng NB, hợp tác kể bệnh)

10 Ngày vào viện: 9h00, ngày 17/09/2022

11 Vào viện lần thứ 2

12 Khi cần báo tin cho Chồng: Bùi Xuân X Cùng địa chỉ trên

SĐT: 0332373XYZ

Trang 33

Ngày,

tháng, giờ

Nhận định điều dưỡng

Chẩn đoán điều dưỡng

Lập kế hoạch chăm sóc

Thực hiện chăm sóc

Đánh giá

Ký tên

Không dị ứng thuốc, thức ăn, không lạm dụng chất kích thích.NB có tiền sử tăng huyết áp 7 năm nay, huyết áp cao nhất là 160/90 mmHg

NB là người cầu toàn, hay lo nghĩ Hiện tại NB ở cùng với chồng

và con trai thứ 3, kinh tế gia đình khá giả, cuộc sống gia đình hoà thuận, không xích mích gì

Bệnh khởi phát cách đây 7 năm nay, ban

Cảm giác khó thở, hồi hộp choáng váng liên quan đến khả năng ứng phóc với stress chưa hiệu quả

Chăm sóc về tâm lý, giúp người bệnh hiểu được những

lo lắng

sẽ dẫn đến tính trạng bệnh

- Thực hiện y lệnh thuốc

9h00

- Đo dấu hiệu sinh tồn thường xuyên đúng giờ và trấn

an tinh thần NB

- Hướng dẫn người bệnh người nhà người bệnh về vị trí buồng bệnh và các khu vực khác tại viện

-Trải ga giường cho NB, vệ sinh buồng bệnh sạch

sẽ, tạo không gian buồng bệnh yên tĩnh , đủ ánh sáng

- Thường xuyên gần gũi, tiếp xúc với NB, luôn bình tĩnh lắng nghe những lời phàn nàn phê phán của

NB, không lên phản ứng với bất

Người bệnh còn

lo lắng, hồi hộp

Thư

Trang 34

đầu NB xuất hiện nóng

trong người, cồn cào ruột

ngủ, khó đi vào giấc ngủ

Gia đình đã đưa người

bệnh đi khám và điều trị

ngoại chú tại Viện Sức

Khoẻ Tâm Thần – Bệnh

Viện Bạch Mai, duy trì

thuốc thường xuyên

Tăng cường dinh dưỡng cho người bệnh

cứ cơn giận dữ phản hồi nào từ

NB tạo sự tin tưởng ở NB Sau

đó ân cần động viên, giải thích hợp lý về các triệu chứng của họ, làm giảm căng thẳng,

lo âu và cảm giác khác nhằm làm giảm các biểu hiện khó chịu khó chịu của NB để NB yên tâm, hợp tác điều trị

9h30 Dùng thuốc theo chỉ định Sulpirid 50mg x 1 viên uống

10h 30 18h

- Động viên, quan tâm hỏi người bệnh để biết nhu cầu ăn uống của người bệnh

- Hỗ trợ người

NB hợp tác thực hiện thuốc đúng giờ Người bệnh ăn chưa ngon miệng

NB ăn

03 bữa

Trang 35

Gia đình và người bệnh thiếu kiến

Đảm bảo giấc ngủ cho người bệnh

Tư vấn giáo dục sức khỏe cho NB

và gia

bệnh tự lựa chọn xuất ăn phù hợp

- Phối hợp với khoa dinh dưỡng lựa chọn thực phẩm phù hợp với

sở thích và nhu cầu dinh dưỡng của người bệnh

- Hướng dẫn người bệnh ngủ đúng giờ: không sử dụng chất kích thích, hướng dẫn các bài tập thư giãn

14h Đo dấu hiệu sinh tồn,

- Theo dõi tác dụng phụ của thuốc

15h Tư vấn gia đình cần quan tâm khuyên khích người bệnh tham gia các hoạt động

xã hội giao lưu với

chính, mỗi bữa hết 75% khẩu phần ăn,

02 bữa phụ bằng sữa

NB ngủ chưa sâu giấc

NB và gia đình

đã hiểu hơn về bệnh, phối hợp

Trang 36

+ Cảm giác (nông, sâu):

Không rối loạn

- Tuần hoàn: Nhịp tim

đều, nghe tiếng T1, T2

thức về bệnh

đình

NB

người xung quanh

Hướng dẫn theo dõi tác dụng phụ của thuốc

16h Động viên khuyến khích người bệnh thực hiện những hoạt động mà người bệnh có thể thực hiện

Hướng dẫn NB tạo cho mình cuộc sống vui vẻ và thoải mái

Động viên khuyến khích NB loại bỏ những suy nghĩ quá mức, tập hít thở sâu đều thả lỏng cơ thể, khi xuất hiện cơn hồi hộp đánh trống ngực

điều trị

Ngày đăng: 09/05/2023, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Blazer D C, Huges D,Geor L K (1987), “stressfull life events and the onset of a generalized axiety syndrome”, American Journal of psychiatry, 144(9), tr. 1178 – 1183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: stressfull life events and the onset of a generalized axiety syndrome
Tác giả: Blazer D C, Huges D,Geor L K
Năm: 1987
6. Bùi Quang Huy (2007), "Rối loạn lo âu lan tỏa", Rối loạn lo âu, Nhà xuất bản y học, tr 29-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn lo âu lan tỏa
Tác giả: Bùi Quang Huy
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2007
7. Craske MG et al (1989), “Qualitative dimensions of worry in DSM – III – R generalized anxiety disorder subjects and nonanxious controls”, 27(4), 397 – 402 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qualitative dimensions of worry in DSM – III – R generalized anxiety disorder subjects and nonanxious controls
Tác giả: Craske MG et al
Năm: 1989
25. Dan J.Stein (2009),“Generalized axiety disorders”, Textbook of anxiety, American Psychiatric Publishing, Inc, pp. 3, 4, 115-119, 125-126, 6, 180, 210, 351, 352, 362, 369 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Generalized axiety disorders
Tác giả: Dan J.Stein
Năm: 2009
1. American Psychiatric Association (2013). Generalized Anxiety disorder, Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th Edition, 222 Khác
2. Amstadter A.B., Acierno R., Richardson L., et al. (2009). Post-Typhoon Prevalence of Post -traumatic Stress Disorder, Major Depressive Disorder, Panic Disorder and Generalized Anxiety Disorder in a Vietnamese Sample. J Trauma Stress, 22(3), 180–188 Khác
3. Baldwin D.S., Anderson I.M., Nutt D.J, et al. (2014). Evidence-based pharmacological treatment of anxiety disorders, post-traumatic stress disorder and obsessive-compulsive disorder: A revision of the 2005 guidelines from the British Association for Psychopharmacology. J Psychopharmacol (Oxf), 28(5), 403–439 Khác
5. Bộ Y Tế số: 1895/1997/QĐ – BYT, Quyết định về việc ban hành Quy Chế bệnh viện Khác
8. Đinh Đăng Hòe (2000), Bài giảng chuyên đề tâm thần học. Rối loạn lo âu, Bộ môn tâm thần – Đại học Y Hà Nội,28 Khác
24. Bruce Lydiard, Karl Rickels (2010), Comparative e ffi cacy of pregabalin and benzodiazepines in treating the psychic and somatic symptoms of generalized anxiety disorder. International Journal of Neuropsychopharmacology (2010), pp.13, 229–241 Khác
26. Grant BF et al (2005) Prevalence, correlates, co-morbidity,and comparative disability of DSM-IV generalized anxiety disorder in the USA: Results from the National Epidemiologic Survey on Alcohol and Related Conditions. Psychological Medicine, USA, 35: 1747-1759 Khác
27. John M. Hettema (2001), A Population-Based Twin Study of Generalized Anxiety Disorder in Men and Women. The journal of nervous and mental disease Khác
28. Bộ Y Tế (2021), TT31/2021/TT-BYT quy định hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện Khác
29. Julie Schulz et al (2005), The Diagnosis and Treatment of Generalized Anxiety Disorder, Clinical Focus, Primary Psychiatry 2005;12(11):58-67 30. Michael E.Portman (2009), Generalized anxiety disorder Across thelifepan, Springer, New York, pp. 1, 2,6,9,11,88,99 Khác
31. Michael G.Kavan (2009), Generalized Anxiety Disorder: Practical Assessment and Management, Am Fam Physician 2009;79(9):785-791.American Academy of Family Physicians Khác
32. Richar G. Heimberg (2004). Generalized Anxiety Disorder –Advances in reseach and practice, The Guilford Press, New York, pp. 16- 18,24,30,189-190, 265, 350-358, 368-370 Khác
33. Ronald C. Kessler (2005), Lifetime Prevalence and Age-of-Onset Distributions of DSM-IV Disorders in the National Comorbidity Survey Replication, Arch Gen Psychiatry. 2005;62:593-602 Khác
34. Nguyễn Thị Hồng Thanh: Thực trạng chăm sóc người bệnh lo âu và trầm cảm tại Bệnh viện Tâm Thần Trung Ương I năm 2017 Khác
35. Nguyễn Đức Tiến: Thực trạng chăm sóc người bệnh rối loạn lo âu lan toả tại Bệnh viện Tâm Thần Trung Ương I năm 2018 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức: Nhịp chậm - THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA TẠI VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN - BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2022
Hình th ức: Nhịp chậm (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm