Ý tưởng và hành vi tự sát của con người được hình thành do nhiều nguyên nhân khác nhau có liên quan đến tiền sử sinh hoạt của cá nhân và gia đình, các bệnh về tâm thần và trầm cảm hay mộ
Cơ sở lý luận
Tự sát là hành vi tự huỷ hoại cơ thể với nhiều mục đích khác nhau, thường được hiểu là hành động gây tử vong cho bản thân một cách có chủ đích, với nhận thức rằng cái chết là kết quả cuối cùng.
Năm 1993, Tổ chức Y tế Thế giới đã định nghĩa tự sát là hành động gây tử vong cho bản thân, trong đó có sự tham gia nhất định của ý thức của nạn nhân.
Tự sát, tự tử, tự vẫn hay tự kết liễu đều là những thuật ngữ chỉ hành vi tự gây ra cái chết cho bản thân, thể hiện một sự lựa chọn có chủ tâm với mong muốn được chết.
Ý tưởng tự sát, mặc dù chưa được thực hiện, có tỷ lệ từ 15% đến 53% trong cộng đồng Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ này cao hơn ở nữ giới so với nam giới, đặc biệt phổ biến ở người trẻ tuổi và giảm dần ở người trung niên Phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 30 có tỷ lệ ý tưởng tự sát rất cao, trong khi tỷ lệ này thấp ở trẻ em dưới 12 tuổi Ý tưởng tự sát có thể bị che giấu hoặc được thể hiện qua lời nói, và mặc dù có thể chỉ là lời đe dọa, nhưng nó có thể dẫn đến hành vi tự sát trong tương lai.
Nghiên cứu trên 103 người bệnh trầm cảm không có hành vi tự sát, theo dõi tiếp
Sau 6 tháng điều trị ngoại trú, tác giả Gaudiano BA (2008) ghi nhận rằng 55% bệnh nhân có ý tưởng tự sát trong thời gian này, và con số này tăng lên 79% sau 2 tháng ra viện, trong đó 70% phải nhập viện do ý tưởng tự sát mạnh Nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa mức độ trầm cảm và cường độ ý tưởng tự sát, với những bệnh nhân có trầm cảm nặng có xu hướng có ý tưởng tự sát mãnh liệt hơn.
Các hành vi tự sát không thành công bao gồm những nỗ lực tự gây hại mà không có sự can thiệp từ bên ngoài Điều này bao gồm việc cố tình uống thuốc điều trị với liều lượng vượt quá mức an toàn.
Tỷ lệ hành vi tự sát cao thường gặp ở người trẻ tuổi và giảm dần ở người trung niên Đặc biệt, ở người già, tỷ lệ này ở phụ nữ cao hơn nam giới từ 1,5 đến 2,1 lần Phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 30 có tỷ lệ tự sát rất cao, trong khi đỉnh điểm theo lứa tuổi ở nam giới lại cao hơn so với nữ giới.
Tử vong xảy ra do hành vi chủ động hoặc bị động của nạn nhân, người mà nhận thức rõ rằng hành vi đó có thể dẫn đến cái chết.
- Thứ nhất, thuật ngữ “Tự sát” chỉ áp dụng trong trường hợp chết
Làm công việc nguy hiểm dẫn đến cái chết, nếu người thực hiện nhận thức được hậu quả gián tiếp nhưng vẫn tiếp tục, được coi là hành động tự sát.
Cố gắng nhịn đói hoặc từ chối thuốc duy trì sự sống có thể dẫn đến tử vong, và trong trường hợp này, vẫn được xem là tự sát Những định nghĩa này cho thấy có mối liên hệ rõ ràng giữa ý tưởng tự sát, hành vi tự sát và kết quả cuối cùng là tự sát.
Tỷ lệ tự sát thành công ở nam giới cao gấp ba lần so với nữ giới Mặc dù tự sát ở nhóm tuổi 15-25 là hiếm, nhưng tỷ lệ tử vong trong nhóm này lại rất cao, cho thấy tầm quan trọng của vấn đề Việc xác định chính xác tỷ lệ tự sát gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân, trong đó có những trường hợp không rõ ràng giữa tự sát và tội phạm Nhiều cái chết khó phân biệt giữa tự sát và tai nạn Đáng chú ý, phần lớn các trường hợp tự sát xảy ra mà không có sự chuẩn bị trước, với một số người bệnh tích trữ thuốc mà không cần đơn thuốc và thường tìm cách che giấu hành vi này.
1.2 Dịch tễ học về tự sát
Tỷ lệ tự sát khác nhau giữa các quốc gia, với mức thấp hơn ở Châu Mỹ La Tinh so với Châu Âu Tại Mỹ, hàng năm có khoảng 30.000 người chết do tự sát, tương đương với tỷ lệ 12,5 trên 100.000 dân Hiện nay, tự sát đứng thứ 8 trong danh sách nguyên nhân gây tử vong, sau các bệnh như tim mạch, ung thư, tai biến mạch máu não, tai nạn, bệnh phổi, đái tháo đường và xơ gan Số người có hành vi tự sát còn lớn gấp 8-10 lần so với số người chết do tự sát.
Tỷ lệ tự sát thành công ở nam giới cao gấp ba lần so với nữ giới, trong khi đó, tỷ lệ ý tưởng và hành vi tự sát không thành công ở nữ giới lại cao gấp ba lần so với nam giới.
Theo Kaplan H.I (1994), tỷ lệ tự sát ở nữ chiếm 23%-28% trong tổng số người bệnh tự sát, có nghĩa là trung bình cứ 30 nữ tự sát sẽ có 70 nam tự sát [5]
Về hành vi tự sát, năm 1993, Tổ chức y tế Thế giới đã chỉ ra rằng tỷ lệ hành vi tự sát ở nam ít hơn nữ từ 1,4 - 4 lần [11]
Theo một số tác giả, tỷ lệ hành vi tự sát không cố định mà thay đổi theo lứa tuổi Cụ thể, ở lứa tuổi dưới 20, tỷ lệ nữ/nam là 10/1, sau đó giảm dần và đến lứa tuổi 41-50, tỷ lệ này đạt 3/1.
Theo Gelder M (1988), hành vi tự sát phổ biến hơn ở người trẻ tuổi và giảm dần ở người trung niên Tỷ lệ tự sát đặc biệt cao ở nữ giới trong độ tuổi từ 15 đến 30 Đỉnh điểm hành vi tự sát ở nam giới thường xảy ra muộn hơn 10 năm so với nữ giới Cả hai giới đều có tỷ lệ hành vi tự sát rất thấp ở độ tuổi dưới 12.
Cơ sở thực tiễn
2.1 Các nghiên cứu về người bệnh có ý tưởng hành vi tự sát trên thế giới
Theo báo cáo của WHO năm 1999, hàng năm có khoảng một triệu người chết do tự sát trên toàn thế giới, với tỷ lệ trung bình tăng từ 10 đến 16 người trên 100.000 dân kể từ năm 1950 Khoảng 20 đến 50 lần số người chết có hành vi tự sát, dẫn đến trung bình 500/100.000 dân có hành vi này mỗi năm Tỷ lệ nam/nữ gần bằng 1/3 và xu hướng tự sát ngày càng gia tăng ở giới trẻ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Tỷ lệ ý tưởng tự sát trong quần thể dao động từ 15% đến 53%, với tỷ lệ cao hơn ở nữ giới so với nam giới, đặc biệt là ở độ tuổi từ 15 đến 30 Ý tưởng tự sát thường gặp ở người trẻ và giảm dần ở người trung niên, trong khi tỷ lệ này thấp ở trẻ em dưới 12 tuổi Ý tưởng tự sát có thể được che giấu hoặc thể hiện qua lời nói, và những lời đe dọa tự sát có thể dẫn đến hành vi tự sát thực sự Nghiên cứu của Gaudiano BA (2008) trên 103 bệnh nhân trầm cảm cho thấy 55% trong số họ có ý tưởng tự sát trong thời gian điều trị ngoại trú, với 79% trong số đó tiếp tục có ý tưởng tự sát sau 2 tháng ra viện, và 70% phải nhập viện do ý tưởng tự sát mạnh Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức độ trầm cảm càng nặng thì ý tưởng tự sát càng mãnh liệt.
Tỷ lệ hành vi tự sát cao thường gặp ở người trẻ tuổi và giảm dần ở người trung niên Đặc biệt, ở người già, tỷ lệ này ở phụ nữ cao hơn nam giới từ 1,5 đến 2,1 lần Phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 30 có tỷ lệ tự sát rất cao, trong khi đỉnh điểm tỷ lệ ở nam giới lại cao hơn so với nữ giới.
Hiệp hội Điều dưỡng đã đăng ký của Ontario (RNAO) đã công bố hướng dẫn về việc đánh giá và chăm sóc người lớn có ý tưởng và hành vi tự sát, nhấn mạnh rằng công tác chăm sóc bệnh nhân trong tình huống này cần tuân theo các khuyến nghị cụ thể.
Đánh giá rủi ro tự sát là bước quan trọng, bao gồm thảo luận với các nhân viên y tế trong nhóm chăm sóc sức khỏe và lập kế hoạch chăm sóc dựa trên kết quả đánh giá.
Để xây dựng mối quan hệ trị liệu hiệu quả giữa điều dưỡng và người bệnh có ý tưởng tự sát, cần thiết phải có sự lắng nghe, tin tưởng, tôn trọng và đồng cảm Điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc quan sát và tham gia điều trị nhằm giảm thiểu rủi ro cho người bệnh Môi trường trị liệu được hình thành từ sự tương tác tích cực giữa điều dưỡng và người bệnh, giúp người bệnh cảm thấy an toàn và được chăm sóc Nghiên cứu của Jones và cộng sự (2000) cho thấy người bệnh cảm thấy yên tâm hơn khi điều dưỡng gần gũi và giao tiếp thay vì xa cách Điều dưỡng cần hợp tác với người bệnh để hiểu rõ nhu cầu và quan điểm của họ, sử dụng giao tiếp hiệu quả để lắng nghe và xác nhận Bằng cách xây dựng mối quan hệ trị liệu, điều dưỡng có thể nuôi dưỡng hy vọng và giảm cảm giác vô vọng cho người bệnh Họ cũng cần nắm vững các phương pháp điều trị để cung cấp can thiệp phù hợp, giám sát việc sử dụng thuốc và phát hiện tác dụng phụ Kỹ năng giao tiếp, phỏng vấn và cấp cứu là những yếu tố quan trọng mà điều dưỡng cần có để chăm sóc người bệnh có hành vi tự sát.
Các bệnh viện và tổ chức chăm sóc sức khỏe cần tạo ra môi trường an toàn nhằm giảm thiểu khả năng tiếp cận các phương tiện tự gây hại Đặc biệt, trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân có ý định tự sát, cần bổ sung đội ngũ điều dưỡng phù hợp để hỗ trợ người bệnh Nghiên cứu về bệnh nhân có ý tưởng hành vi tự sát tại Việt Nam cũng cần được chú trọng.
Nghiên cứu trên 28 người bệnh có hành vi tự sát điều trị tại khoa tâm thần, Bệnh viện 103 năm 2004 của Bùi Quang Huy và Cao Đức Tiến cho thấy [10]:
Hành vi tự sát có những đặc điểm lâm sàng đáng chú ý, trong đó tự gây chấn thương là phổ biến nhất, chiếm 28,6% Tiếp theo là thắt cổ và sử dụng dao, mỗi hình thức này chiếm 25% Chấn thương tâm lý chỉ chiếm 7,1% Đáng lưu ý, có 25% số người bệnh đã có sự chuẩn bị cho hành vi tự sát.
- Về chẩn đoán bệnh tâm thần: 42,9% là tâm thần phân liệt 25% là nghiện rượu và 17,8% là trầm cảm
- Các triệu chứng tâm thần hay gặp: ảo giác 53,6% Hoang tưởng 39,3% và trầm cảm 28,6%.Các người bệnh có 2 hành vi tự sát trở lên chiếm 39,3%
Theo nghiên cứu của Lê Văn Thành về tình hình tự sát, 115 bệnh nhân đã được nhập viện cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa và Bệnh viện Tâm Thần Thanh Hóa.
Theo nghiên cứu năm 2008, tỷ lệ nam giới tự sát chiếm 44,35% và nữ giới chiếm 55,65% Tháng có tỷ lệ tự sát cao nhất là tháng 4, với 19,13% Nhóm tuổi có tỷ lệ tự sát cao nhất là từ 15 tuổi trở lên.
24 tuổi chiếm 39,13 %, độc thân cao nhất chiếm 48,69%, ngề nghiệp làm ruộng chiếm tỷ lệ cao nhất là làm ruộng chiếm 37,39% [9]
Theo nghiên cứu của Trịnh Văn Anh (2017), tỷ lệ người bệnh có hành vi tự sát cao nhất là 72,73% với một hành vi, 18,18% với hai hành vi và 6,06% với ba hành vi Hành vi tự sát chủ yếu diễn ra vào ban ngày, chiếm 73,12% Phương thức tự sát rất đa dạng, trong đó tự đâm, chém, cắt bằng vật sắc nhọn chiếm tỷ lệ cao nhất với 31,18%.
Năm 1996, Nguyễn Hữu Kỳ đã tiến hành nghiên cứu 415 trường hợp tự sát, trong đó 33% sử dụng thuốc trừ sâu lân hữu cơ, 26% dùng thuốc chống sốt rét, 20% dùng thuốc an thần, 2% do ngạt nước và 3% do thắt cổ Kết quả nghiên cứu cho thấy 78% người bệnh không chuẩn bị gì cho hành động tự sát, trong khi chỉ có 22% đã có sự chuẩn bị như tích trữ thuốc hoặc viết thư tuyệt mệnh.
Tại Việt Nam, hiện nay có rất ít nghiên cứu về tình trạng chăm sóc người bệnh có ý tưởng và hành vi tự sát, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc hỗ trợ họ Điều này không chỉ tạo gánh nặng cho nhân viên y tế và gia đình trong thời gian bệnh nhân nằm viện, mà còn gây khó khăn cho xã hội khi họ tái hòa nhập cộng đồng sau khi xuất viện.
2.3 Quy trình chăm sóc người bệnh có ý tưởng và hành vi tự sát
Ban hành kèm theo Quyết định số 940/2002/QĐ-BYT ngày 22/3/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn quy trình chăm sóc NB [14]:
* Khi tiếp xúc với người bệnh
- Thường xuyên gần gũi tiếp xúc với người bệnh
Để nâng cao hiệu quả điều trị, cần chú trọng đến công tác tâm lý cho người bệnh Việc giải thích, khuyên giải và động viên giúp họ yên tâm hơn trong quá trình chữa bệnh, từ đó tạo dựng niềm tin vào phương pháp điều trị Đồng thời, cần tạo ra một môi trường điều trị tích cực, loại bỏ những suy nghĩ tiêu cực như không muốn sống hay những hiểu biết sai lệch về bệnh tật.
* Khi người bệnh nằm viện :
- Cho người bệnh nằm ở buồng riêng tiện theo dõi
- Loại bỏ những vật dụng nguy hại đến tính mạng người bệnh (dao, kéo, dây thừng, dây điện, vật nhọn )
- Thường xuyên theo dõi, giám sát người bệnh nhất là khi giao trực, lúc giao thời và nhất là đêm khuya
- Phải đi tua kiểm tra 15 phút một lần
- Thông báo cho mọi nhân viên trong khoa về diễn biến của người bệnh
- Báo cáo bác sỹ để kịp thời xử trí
* Chăm sóc người bệnh có hành vi tự sát:
- Nhanh chóng loại trừ yếu tố gây tự sát: cắt nới dây thắt cổ, cắt nguồn điện, đưa lên bờ, cầm máu, gây nôn
- Thực hiện các quy trình cấp cứu: hà hơi thổi ngạt, hô hấp nhân tạo, ép tim ngoài lồng ngực
- Báo cáo bác sỹ để xử trí thuốc như: Adrenaline, Noradrenaline, tiêm truyền
- Sử dụng máy hỗ trợ thở
- Nếu ngoài khả năng chuyên môn phải báo bác sỹ để chuuyển theo tuyến chuyên khoa sau khi đã sơ cứu
Người bệnh có ý tưởng và hành vi tự sát cần được điều trị tại khu riêng biệt, cách ly với các bệnh nhân khác Tuy nhiên, bệnh viện tâm thần Thanh Hóa hiện không đủ cơ sở vật chất và phòng ốc để thực hiện việc này Trang thiết bị quản lý và chăm sóc cho người bệnh cũng chưa đảm bảo, do đó cần trang bị thêm các phòng cách ly, cửa thoát hiểm và hệ thống camera theo dõi Công tác chăm sóc người bệnh có ý tưởng và hành vi tự sát là một cấp cứu tâm thần cần được thực hiện cấp I, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên và gia đình người bệnh.
2.3 Các quy định hiện hành
Năm 2021, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư 31/2021/TT-BYT, ngày 28 tháng 21 năm 2021 và có hiệu lực thi hành từ ngày 27 tháng 02 năm 2022
Giới thiệu khái quát về Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai
Viện Sức khỏe Tâm thần, thuộc Bệnh viện Bạch Mai, được thành lập từ Khoa Tâm thần của bệnh viện này Viện đã trải qua nhiều giai đoạn hình thành và phát triển song song với lịch sử của Bệnh viện Bạch Mai.
Năm 1911, Khoa Tâm thần tại Bệnh viện Bạch Mai, hiện nay là Viện Sức khỏe Tâm thần, được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành Tâm thần học tại Việt Nam và thế giới trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học về sức khỏe tâm thần.
Viện Sức khỏe Tâm thần được thành lập vào ngày 08 tháng 08 năm 1991 theo Quyết định số 784/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế, kết hợp từ Khoa Tâm thần của Bệnh viện Bạch Mai, các cán bộ biệt phái từ Bộ môn Tâm thần của Trường Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Tâm thần Trung ương I Viện có các chức năng và nhiệm vụ quan trọng trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần.
Tiếp nhận tất cả các bệnh nhân mắc rối loạn tâm thần từ bên ngoài hoặc được chuyển từ các bệnh viện khác để thực hiện cấp cứu, khám bệnh, và điều trị nội trú cũng như ngoại trú.
- Nghiên cứu và chỉ đạo các cơ sở chuyên khoa nghiên cứu những vấn đề về Tâm thần học và tâm lý xã hội cấp bách hiện nay
Đào tạo và nâng cao trình độ cho cán bộ chuyên khoa Tâm thần ở bậc đại học và sau đại học nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần trong cộng đồng.
- Kết hợp với các Bệnh viện Tâm thần Trung ương trong công tác chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật chuyên khoa Tâm thần học trong cả nước
Viện Pháp y Tâm thần Trung ương và Viện Giám định Y khoa phối hợp thực hiện nhiệm vụ giám định pháp y tâm thần, khám chữa bệnh cho thương binh và nạn nhân chất độc màu da cam.
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật tâm thần học là cần thiết để phát triển và nâng cao hoạt động chuyên ngành này tại Việt Nam Việc kết nối với các nước và tổ chức quốc tế sẽ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ và nghiên cứu trong tâm thần học, từ đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần của cộng đồng.
Viện Sức khỏe Tâm thần phối hợp với các Bệnh viện Tâm thần Trung ương và các cơ quan hữu quan để tuyên truyền giáo dục kiến thức về chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân dân Từ ngày 26/10/2011, với sự đồng ý của Đảng ủy và Ban Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Viện đã bắt đầu tổ chức phát triển quy hoạch theo hướng chuyên khoa hóa Đây là bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của ngành Tâm thần học Việt Nam, nhằm hòa nhập với sự tiến bộ của Tâm thần học thế giới và đáp ứng nhu cầu đào tạo, nghiên cứu khoa học, cũng như phát triển kinh tế, xã hội trong giai đoạn mới Hiện nay, các Khoa Phòng đã được phát triển để phục vụ cho mục tiêu này.
M2: Phòng Khám, Tư vấn và Điều trị ngoại trú
M3: Phòng Điều trị các Rối loạn liên quan stress
M4: Phòng Điều trị các Rối loạn tâm thần trẻ em
M5: Phòng Điều trị Tâm thần phân liệt
M6: Phòng Điều trị Rối loạn cảm xúc
M7: Phòng Điều trị Nghiện chất
M8: Phòng Điều trị Tâm thần người già
Ngày 19 tháng 5 năm 2015, dựa trên nhu cầu thực tế Bệnh viện Bạch Mai đã ra quyết định thành lập Phòng Tâm lý lâm sàng (M9) thuộc Viện Sức khỏe Tâm thần
Về nhân lực, Viện Sức khỏe Tâm thần hiện có 106 cán bộ nhân viên với cơ cấu nhân lực như sau:
Bảng 2.1: Cơ cấu nhân lực Viện Sức khỏe Tâm thần theo đơn nguyên và chức vụ Đơn nguyên
Bác sỹ Điều số dưỡng
Phòng Tổng 1 PGS, 2 Thạc 1 Thạc 1 Cử 16 hợp 2 Tiến sỹ, 1 BSCKII sỹ, 5 Cử nhân, 3 Cao đẳng sỹ nhân
1 Thạc sỹ, 1 Cử nhân, 4 Cao đẳng,
Phòng Điều trị Rối loạn liên quan đến stress
Phòng Điều trị tâm thần
2 Thạc sỹ, 02 Cử nhân, 3 Cao đẳng
Phòng Điều trị Tâm thần phân liệt
Phòng Điều trị Rối loạn cảm xúc
Phòng Điều trị Nghiện chất
Phòng Điều trị Tâm thần
1 Thạc sỹ, 3 Cử nhân, 2 Cao đẳng
Phòng Tâm lý lâm sàng
Bảng 2.2: Cơ cấu nhân lực khối điều dưỡng/kỹ thuật viên/hộ lý/thư ký y khoa
Thạc sỹ Chuyên khoa I Cử nhân Cao đẳng Trung cấp Tổng số Điều dưỡng 09 04 18 25 01 57
Nghiên cứu một trường hợp bệnh cụ thể
Họ và tên người bệnh: Nguyễn Thị Thanh H
Nghề nghiệp: Làm ruộng Địa chỉ: Yên Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội
Lý do vào viện: Mất ngủ, buồn chán và có ý tưởng tự sát
Chẩn đoán: Giai đoạn trầm cảm nặng có loạn thần có hành vi tự sát
Người bệnh là con thứ nhất trong gia đình có ba người, với tiền sử sản khoa phát triển bình thường Về mặt tâm thần và thể chất, người bệnh có tính tình hiền lành, đã lập gia đình và có một con trai.
Bệnh nhân đã trải qua tình trạng mất ngủ kéo dài khoảng 4 tháng, với nhiều đêm thức trắng, dẫn đến mệt mỏi và căng thẳng Họ cảm thấy bồn chồn, không thể đứng ngồi yên, và có suy nghĩ tiêu cực về bản thân, cảm thấy có tội với gia đình Trong cơn tuyệt vọng, bệnh nhân đã cố gắng tự tử bằng cách cắt cổ tay, nhưng đã được gia đình đưa vào bệnh viện tỉnh để điều trị Sau khi ổn định, bệnh nhân đã trở về nhà.
Trong 5 ngày, người bệnh liên tục nói những điều không rõ ràng, thường nhắc đến việc nhìn thấy bố mình (đã mất) trò chuyện với những người đã khuất Họ cảm thấy có tội, thường cười nói một mình và thể hiện sự sợ hãi, căng thẳng.
- Người bệnh phát triển bình thường về thể chất và tâm thần
- Gia đình không ai mắc bệnh tâm thần, động kinh
Dấu hiệu sinh tồn: Mạch: 80 lần/phút, Huyết áp: 120/80 mmHg, Nhiệt độ: 36,7 C, Nhịp thở: 18 lần/phút
- Tuần hoàn: Nhịp tim đều, nghe tiếng T1, T2 rõ
- Hô hấp : Lồng ngực hai bên cân đối, nhịp thở đều
- Tiêu hóa : Bụng mềm, không u cục, gan lách không sờ thấy
- Thận, tiết niệu, sinh dục : Bình thường
- Cơ – Xương - Khớp : Bình thường
- Tai, mũi, họng : Bình thường
- Răng, hàm, mặt : Bình thường
- Các bệnh lý khác : Chưa thấy có biểu hiện bệnh lý
Không có tổn thương liệt khu trú
Vận động tứ chi : Không hạn chế vận động tứ chi
Trương lực cơ : Bình thường
Cảm giác ( nông, sâu ) : Không rối loạn
Phản xạ : Phản xạ gân xương đáp ứng đều hai bên
Biểu hiện chung : Tiếp xúc được
Ý thức định hướng : Không gian, thời gian, bản thân : Xác định đúng
Tình cảm, cảm xúc : Khí sắc giảm, khuôn mặt buồn bã, ít nói, lo lắng nhiều về bệnh
Tri giác : Không có ảo tưởng, ảo giác
+ Hình thức: lầm lì ,ít nói
+ Nội dung: hoang tưởng bị tội
+ Hành động ý trí : đã tự tử nhiều lần : uống thuốc sâu , cắt cổ tay
+ Hoạt động bản năng : Ăn, ngủ kém
Chú ý : Độ tập trung giảm
- Các thuốc đang dùng cho người bệnh :
+ Zoloft 50mg × 3 viên ( uống 3 viên 20h )
+ Sedusen 5mg × 4 viên ( uống 2 viên 10h và 2 viên 20h )
+ Piracetam 400mg x 4 viên (uống 2 viên 10h và 2 viên 20h)
Chăm sóc : a Chăm sóc triệu chứng rối loạn lo âu, trầm cảm của người bệnh:
Người bệnh được sử dụng thuốc theo chỉ định, trong khi điều dưỡng đã hướng dẫn và phổ biến nội quy bệnh viện, khuyên người bệnh và người nhà yên tâm trong quá trình điều trị Điều dưỡng cũng đã nhắc nhở người nhà cất giữ các vật sắc nhọn để đảm bảo an toàn cho người bệnh Bên cạnh đó, dinh dưỡng được cung cấp theo nhu cầu của người bệnh.
Người bệnh tại bệnh viện chỉ ăn theo suất cơm quy định, bao gồm bữa sáng với 1 bát cháo, bữa trưa 1 bát cơm kèm rau và thịt, và bữa tối 1 bát cơm, canh và đậu Mặc dù thỉnh thoảng người nhà có mua thêm hoa quả hay sữa, nhưng người bệnh không có nhu cầu ăn thêm Điều dưỡng đã cố gắng động viên nhưng người bệnh vẫn không muốn ăn, dẫn đến việc họ không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày Cần cải thiện khả năng tự chăm sóc cho người bệnh để đảm bảo sức khỏe tốt hơn.
Vệ sinh cá nhân là một vấn đề quan trọng đối với người bệnh, nhưng thường bị bỏ qua do sự lười biếng của họ và sự thiếu chú ý từ người nhà, những người không thường xuyên có mặt Điều này dẫn đến tình trạng chán nản, mặc dù điều dưỡng đã cố gắng nhắc nhở nhưng người bệnh vẫn không thực hiện.
Giấc ngủ của người bệnh rất kém, chỉ khoảng 4 giờ mỗi ngày, và họ gặp khó khăn trong việc đi vào giấc ngủ do có ảo thanh Mặc dù điều dưỡng đã tư vấn rằng tiếng nói trong đầu không có thật và khuyên người bệnh nên tập thể dục trước khi ngủ, nhưng tình trạng giấc ngủ của họ vẫn không được cải thiện nhiều.
Vận động là rất quan trọng đối với người bệnh; họ cần được khuyến khích vận động và giao tiếp thay vì nằm một chỗ Đối với tình trạng chán ăn, nên cung cấp cho người bệnh những món ăn dễ tiêu, giàu năng lượng và phù hợp với khẩu vị của họ Nếu có thể, hãy để người bệnh tự chọn món ăn trong giai đoạn đầu của quá trình điều trị.
Mất ngủ là vấn đề cần chú ý, vì vậy người bệnh không nên ngủ trưa và tránh đi ngủ quá sớm Việc nằm trên giường suốt cả ngày có thể làm tình trạng mất ngủ trở nên nghiêm trọng hơn Do đó, cần khuyến khích người bệnh vận động và đi lại trong suốt cả ngày, nhưng nên hạn chế hoạt động vào buổi tối để không gây khó khăn trong việc ngủ.
Người bệnh rối loạn lo âu thường cảm thấy mệt mỏi suốt cả ngày, đặc biệt là vào buổi sáng Tuy nhiên, việc động viên họ tập vận động là rất quan trọng Bắt đầu từ những hoạt động đơn giản như ngồi dậy, đứng lên và đi lại nhẹ nhàng trong nhà Khi đã quen, có thể khuyến khích họ thực hiện các công việc nhẹ nhàng như nhặt rau, nấu cơm, hay quét nhà Ngoài ra, nên khuyến khích người bệnh tham gia các môn thể thao mà họ yêu thích trước đây như cầu lông, bóng bàn, hay bơi lội.
Để cải thiện trí nhớ cho người bệnh, hãy đọc cho họ những câu chuyện ngắn hoặc bài thơ yêu thích Sau đó, khuyến khích họ đọc báo, xem tivi, hoặc nghe đài, với thời gian hoạt động nên tăng dần để tránh cảm giác mệt mỏi và chán nản.
Người bệnh cần tuân thủ đúng chỉ dẫn của bác sĩ khi sử dụng thuốc uống, mặc dù có thể gặp một số tác dụng phụ như khô miệng, đắng miệng, đầy bụng và mệt mỏi, nhưng đây là điều bình thường Việc tự ý ngừng thuốc do tác dụng phụ là phổ biến, vì vậy người nhà cần nhắc nhở và đảm bảo bệnh nhân uống thuốc hàng ngày Cần kiểm tra xem bệnh nhân có thực sự uống thuốc hay không và liệu có đủ liều lượng hay không Tốt nhất, nên giao việc quản lý thuốc cho một thành viên trong gia đình và chỉ thay thế khi cần thiết.
Tái khám là rất quan trọng; bệnh nhân nên giữ liên lạc thường xuyên với bác sĩ để thông báo về tình trạng sức khỏe Sau 1-2 tháng điều trị, nhiều người bệnh có tâm lý chủ quan, nghĩ rằng mình đã khỏi và ngừng tái khám cũng như điều trị củng cố Tuy nhiên, điều này rất nguy hiểm vì thiếu điều trị củng cố có thể dẫn đến tái phát bệnh Khi bệnh tái phát, việc điều trị sẽ tốn nhiều công sức hơn và thời gian điều trị củng cố sẽ kéo dài hơn trước.
Người bệnh cần được sự trợ giúp đỡ của mọi thành viên trong gia đình d Giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà:
Điều dưỡng đã hướng dẫn người nhà và bệnh nhân về nội quy của khoa và bệnh viện, đồng thời tạo sự ổn định tâm lý cho bệnh nhân Họ cũng đã giải thích về tình trạng bệnh, cách chăm sóc và hướng dẫn cách cho bệnh nhân uống thuốc.
Tại khoa, có một phòng giáo dục sức khỏe nhưng thường không được sử dụng, dẫn đến việc điều dưỡng chỉ cung cấp thông tin ngắn gọn cho bệnh nhân Việc giáo dục về bệnh tật và nguyên nhân gây bệnh không được thực hiện một cách chi tiết và đầy đủ, khiến người bệnh và người nhà không hiểu rõ về tình trạng sức khỏe của họ.
Một số ưu điểm và hạn chế
3.1 Ưu điểm Điều dưỡng đã chăm sóc người bệnh theo quy định của Bộ Y Tế gồm:
Thực hiện nghiêm túc Quy chế bệnh viện là rất quan trọng, đặc biệt là trong việc chăm sóc người bệnh toàn diện và quản lý buồng bệnh cũng như buồng thủ thuật.
Nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ y lệnh của thầy thuốc
Điều dưỡng trung cấp và chính thực hiện chăm sóc người bệnh theo quy định kỹ thuật bệnh viện, bao gồm lập kế hoạch chăm sóc, uống thuốc, tiêm thuốc, truyền dịch, thay băng, đặt thông, và thực hiện kỹ thuật cấp cứu Điều dưỡng cao cấp không chỉ thực hiện các nhiệm vụ của điều dưỡng chính mà còn đảm nhận các kỹ thuật chăm sóc phức tạp, tham gia đào tạo và quản lý thiết bị y tế Đối với bệnh nhân nặng, điều dưỡng phải chăm sóc theo y lệnh và báo cáo kịp thời các diễn biến bất thường cho bác sĩ điều trị.
Ghi những thông số, dấu hiệu, triệu chứng bất thường của người bệnh và cách xử lí vào phiếu theo dõi và phiếu chăm sóc theo quy định
Cuối mỗi ngày làm việc, cần bàn giao bệnh nhân cho điều dưỡng trực và ghi chép lại các y lệnh còn lại trong ngày, cùng với những yêu cầu theo dõi và chăm sóc cho từng bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân nặng.
Bảo quản tài sản, thuốc, dụng cụ y tế; trật tự và vệ sinh buồng bệnh, buồng thủ thuật trong phạm vi được phân công
Tham gia nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực chăm sóc người bệnh và hướng dẫn thực hành cho học viên theo sự phân công của điều dưỡng trưởng khoa.
Tham gia thường trực theo sự phân công của điều dưỡng trưởng khoa, động viên người bệnh an tâm trong quá trình điều trị, và thực hiện tốt quy định y đức là những nhiệm vụ quan trọng mà nhân viên y tế cần tuân thủ.
Thường xuyên tự học, cập nhật kiến thức
3.2 Hạn chế Điều dưỡng lập kế hoạch chăm sóc cho người bệnh còn sơ sài, chưa đáp ứng hết nhu cầu chăm sóc của người bệnh Điều dưỡng chưa thực sự lắng nghe tâm tư nguyện vọng của người bệnh để giúp đỡ họ về mặt tâm lý Điều dưỡng chưa làm tốt việc giáo dục sức khỏe cho người bệnh, chưa cung cấp đủ kiến thức về ý tưởng hành vi tự sát cho người bệnh cũng như người nhà người bệnh
Hoạt động giám sát và đánh giá của điều dưỡng Trưởng chưa được thực hiện thường xuyên và hiệu quả Do làm việc theo mô hình nhóm/ca và phụ trách từ 2 đến 3 buồng bệnh, điều dưỡng không có đủ thời gian để chăm sóc người bệnh.
Việc tổ chức các hoạt động tập thể tại các khoa như thể dục thể thao, lao động làm vườn gần như là không có.